Kiến Thức Chung

Thơ viết cho thiếu nhi của phạm hổ

Thơ viết cho thiếu nhi của phạm hổ

pdf – 104 trang

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

—————————————————–

NGUYỄN THỊ THU HÀ

THƠ VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA PHẠM HỔ

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Lí luận Văn học

Hà Nội-2016

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

—————————————————–

NGUYỄN THỊ THU HÀ

THƠ VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA PHẠM HỔ

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Lí luận Văn học

Mã số: 60220120

Người hướng dẫn khoa học: TS. Diêu Thị Lan Phương

Hà Nội-2016

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU… ….. ………………………………………………………………………………. 2

1. Lý do chọn đề tài …………………………………………………………………………… 2

2. Lịch sử vấn đề……………………………………………………………………………….. 3

3. Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu ………………………………………. 3

4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………………………. 7

5. Cấu trúc luận văn …………………………………………………………………………… 8

CHƯƠNG 1: PHẠM HỔ – TỪ CUỘC ĐỜI ĐẾN QUAN NIỆM SÁNG

TÁC CHO THIẾU NHI ……………………………………………………………………. 9

1.1. Thơ viết cho thiếu nhi trong dòng chảy văn học ………………………. 9

1.1.1. Vị trí và quá trình phát triển của thơ viết cho thiếu nhi …………… 9

1.1.2. Đặc điểm của thơ thiếu nhi …………………………………………………13

1.2. Phạm Hổ và thơ thiếu nhi ……………………………………………………..16

1.2.1 Quá trình sáng tác của Phạm Hổ …………………………………………….16

1.2.2 Quan niệm sáng tác cho thiếu nhi ……………………………………………19

CHƯƠNG 2. CẢM HỨNG VÀ HÌNH TƯỢNG TRONG THƠ PHẠM

HỔ

…………………………………………………………………………………22

2.1. Cảm hứng trong thơ Phạm Hổ ………………………………………………22

2.1.1. Cảm hứng về thiên nhiên ……………………………………………………22

2.1.2. Cảm hứng về tình cảm gia đình …………………………………………..34

2.2. Hình tượng trong thơ Phạm Hổ ……………………………………………..38

2.2.1. Những em bé đáng yêu ………………………………………………………38

2.2.2. Thế giới loài vật ……………………………………………………………….46

2.2.3 Thế giới đồ vật …………………………………………………………………….. 61

CHƯƠNG 3. ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRONG THƠ PHẠM HỔ …..71

3.1. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ ………………………………………………..71

3.1.1. Ngôn ngữ giàu nhạc tính ……………………………………………………71

3.1.2. Ngôn ngữ mang tính tạo hình cao ………………………………………..75

3.1.3. Ngôn ngữ mang đậm tính dân gian ………………………………………78

3.1.4 Các biện pháp tu từ ………………………………………………………………. 82

3.2. Cách tổ chức bài thơ ……………………………………………………………..89

3.2.1. Hình thức đối thoại ……………………………………………………………90

3.2.2. Hình thức mô phỏng ………………………………………………………….92

3.2.3. Hình thức trích dẫn …………………………………………………………..95

KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………98

Tài liệu tham khảo …………………………………………………………………………100

1

PHẦN MỜ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Văn chương khơi dậy cảm xúc cho con người, làm cho người ta biết

khóc, biết cười, biết vui, biết buồn, biết yêu, biết ghét… nó bồi đắp cho con

người nhiều hơn về mặt tình cảm. Thật khó có thể hình dung một người sống

mà không có cảm xúc, không có tình cảm. Sự nhạy cảm, tinh tế của tâm hồn

được hình thành từ thời thơ ấu. Trên thực tế, không ai không thừa nhận vai trò

của văn học thiếu nhi đối với việc bồi dưỡng tâm hồn, cao hơn là cách xây dựng

nhân cách cho các thế hệ trẻ thơ.

Nhắc đến dòng văn học thiếu nhi chúng ta không thể không nhắc tới

những nhà thơ nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Trần Đăng Khoa,

Võ Quảng và đặc biệt là nhà thơ, nhà văn Phạm Hổ – một cái tên đã trở nên khá

quen thuộc đối với trẻ thơ. Phạm Hổ được biết đến với những vần thơ ngộ

nghĩnh, cách định nghĩa sự vật hiện tượng xung quanh đáng yêu và với khát

vọng cháy lòng là mãi được làm bạn với trẻ thơ.

Trước thực trạng tiếp cận văn hóa một cách ồ ạt như hiện nay, internet,

truyện tranh đã thực sự chiếm ưu thế, những vần thơ được các em tìm đọc ngày

một ít đi. Với sự xuất hiện của internet việc tiếp cận thông tin đã trở nên vô

cùng dễ dàng, việc học, đọc và biết được nội dung chính của những tác phẩm

văn học đã không còn là chuyện khó khăn với một thao tác click chuột. Đó là

những lợi ích mà internet mang lại song bên cạnh đó nó cũng có mặt trái khôn

lường. Trẻ em không được chủ động sáng tạo, tự tìm hiểu nội dung theo cách

hiểu của chúng nữa mà hiểu theo cái khuôn mẫu sẵn có trên mạng. Đọc được

thông tin mà không hiểu nó hay vì sao? Quan trọng hơn là sẽ thật khó và thiệt

thòi với các em nếu không hiểu biết được cái hay từ mặt nghệ thuật trong bài.

2

Đã ít sự quan tâm, nay lại còn bị giảm đi sự chú ý, nền văn học thiếu nhi

Việt Nam hiện nay đang dần bị khô cạn. Để có thêm cái nhìn mới, tìm tòi thêm

những phát hiện, sự cách tân và điểm mới lạ về thơ viết cho thiếu nhi, chúng tôi

đi sâu vào tìm hiểu Thơ viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ. Chúng tôi hi vọng

thông qua luận văn này sẽ tìm được những cái mới về mặt nghệ thuật trong thơ

của Phạm Hổ và đặc biệt là hướng đi mới cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam

trong khi những cây bút gạo cội chưa tìm thêm cái mới và những cây bút trẻ sẽ

thêm yêu và dành nhiều tâm huyết cho nên văn học này hơn.

2. Lịch sử vấn đề

Phạm Hổ là một trong số ít nhà văn chuyên tâm viết cho thiếu nhi. Trải

qua hơn 50 năm miệt mài sáng tác, Phạm Hổ đã để lại cho nền văn học thiếu nhi

Việt Nam khoảng 25 tập thơ, 10 kịch bản sân khấu, hoạt hình… với những đóng

góp lớn lao ấy, các sáng tác của ông đã thu hút được đông đảo sự quan tâm của

giới phê bình và bạn đọc. Nhiều nhà nghiên cứu đã thể hiện sự ưu ái, ngưỡng

mộ, cảm phục trước một tấm lòng vì tuổi thơ của Phạm Hổ trong những công

trình nghiên cứu, bài báo, luận văn, luận án…

Các công trình trên báo và tạp chí: Trên báo Văn nghệ số 373 Võ

Quảng đã viết bài Một cái nhìn kì thú yêu thương khi đọc tập Chú bò tìm bạn.

Ông nhận định “Với mùi thơm của hoa trái với tiếng “ậm ò” của chú bò tìm

bạn, trong tiếng gà “chiếp chiếp” tập thơ đưa các em về thế giới chính thức của

mình. Và cũng đưa những người lớn về những màu sắc, cảm xúc tươi mát từ lâu

bị quên đi, nhưng mỗi lần nhớ lại trong lòng không khỏi chút bâng khuâng nhớ

tiếc.” [25,tr 24]

Trên Tạp chí văn học số 6 năm 1964, Trần Thanh Địch có bài “Những

người bạn nhỏ, Một tập thơ đáng yêu của các em” ông đã viết: “Những người

bạn nhỏ còn có nhiều bài thơ nói về những con vật nhỏ, bạn hàng ngày của các

em. Những người “bạn nhỏ” ấy thường hay có sự chạm trán trái cựa gây ra

3

từng chút kịch tính”. Không đơn thuần là miêu tả, Phạm Hổ còn tạo dựng tính

kịch cho chính tác phẩm của mình để thêm phần độc đáo và hấp dẫn.

Cũng nhận định giống Vũ Duy Thông nhưng có phần mở rộng hơn, nhà

thơ Trần Đăng Khoa có những khám phá rất thú vị: “Phạm Hổ đã hiến dâng

trọn vẹn cái phần tinh túy nhất của đời mình, của tâm hồn mình cho con trẻ.

Đọc thơ ông ta thấy ông yêu trẻ con. Mà không chỉ yêu, ông còn sùng bái

chúng. Vì thế nói đến ông ta vẫn quen nghĩ đó là thi sĩ chuyên viết cho thiếu nhi,

viết bằng nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, thần thoại, rồi kịch bản hoạt hình…”

[17, tr 950]

Trong bài viết Mười lăm năm viết cho thiếu nhi nhà thơ Đinh Hải đã viết:

“Thơ Phạm Hổ nặng về khai thác những khía cạnh tình cảm của nhi đồng, Thơ

anh giàu nhạc điệu, gần gũi với đồng dao. Bạn đọc thường nhắc những bài thơ

hay của anh như – Xe cứu hỏa, Bắp cải xanh, Chú bò tìm bạn”.[15, 638]

Trên Tạp chí văn học số tháng 3 năm 1989, phó giáo sư Vân Thanh có

bài viết Phạm Hổ với tuổi thơ cũng có nhận định: “Không phải ngẫu nhiên, thơ

Phạm Hổ tươi mát và rất trẻ. Ông là một trong những nhà thơ thường xuyên có

những buổi gặp gỡ, trò chuyện trao đổi với các em – Ông thường nói: người

sáng tác cho thiếu nhi phải có tâm hồn tươi trẻ, phải hiểu trẻ, biết cách thâm

nhập vào cuộc sống trẻ thơ”.[17,tr 1017]

Trong cuộc hội thảo về các tác giả viết cho thiếu nhi, nhà văn Nguyên

Ngọc đã phát biểu: “Bạn (Phạm Hổ) vừa mở thêm ra một cánh cửa nữa và theo

chân anh, bước ra cánh cửa ấy, ta bỗng gặp một chân trời hứa hẹn và mênh

mông hơn, vừa gần gũi vừa mới lạ, vừa quen thuộc vừa mỗi bước khiến ta lại

ngạc nhiên”[17, tr 153].

Công trình nghiên cứu được in thành sách: phó giáo sư Vân Thanh đã

tập hợp được rất nhiều bài viết phê bình về văn học thiếu nhi in thành tập Văn

học thiếu nhi Việt Nam do nhà xuất bản Kim Đồng năm 2002. Nhà thơ Vũ Duy

Thông cũng có bài Con đường đến với trẻ thơ ông phát biểu: “Đọc thơ Phạm

4

Hổ viết cho các em, ấn tượng đầu tiên để lại: đây là con người yêu trẻ thơ đến

mức đắm đuối, không bao giờ no chán, một người luôn luôn khao khát tìm đến

trẻ để hiểu và yêu quý chúng hơn nữa, một người muốn – không phải là đóng

vai một người thầy giáo nghiêm nghị cất lời răn dạy phải trái mà là một người

bạn chân thành của trẻ”. [29,tr 16]

Về luận văn, khóa luận: nghiên cứu về những sáng tác của Phạm Hổ,

Xem thêm :  Bảng ngọc akali, lên đồ và cách chơi akali

năm 2008 có luận văn của thạc sĩ Ngô Đình Vân Nhi với đề tài Đặc điểm viết

truyện cho thiếu nhi của Phạm Hổ. Công trình đã có đóng góp đáng kể vào việc

hình thành những đặc điểm riêng trong sáng tác truyện nói riêng và trong các

sáng tác của Phạm Hổ nói chung.

Năm 2009 sinh viên Nguyễn Thúy Hằng trường Đại học Sư phạm Hà Nội

khoa Giáo dục tiểu học, đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài Nghệ thuật

tập thơ chú bò tìm bạn của Phạm Hổ. Khóa luận đã tập trung tìm hiểu nghệ

thuật tập thơ Chú bò tìm bạn và đưa ra hướng thiết kế giáo án giảng dạy tác

phẩm thơ của Phạm Hổ.

Năm 2012 có khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Thanh Nga

trường Đại học Sư phạm Hà Nội với công trình Thế giới hình tượng trong thơ

Phạm Hổ viết cho thiếu nhi. Khóa luận đã hệ thống các hình tượng có trong

sáng tác của Phạm Hổ một cách khá khoa học.

Chúng ta thấy rằng những lời nhận xét, đánh giá hay nghiên cứu của các

nhà nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ cảm nhận thể hiện tình cảm với tập

thơ Chú bò tìm bạn hoặc tìm hiểu nội dung của một vài bài thơ cụ thể chứ chưa

có bài viết nào đi khai thác góc độ nghệ thuật của cả tập thơ. Một hi vọng của

người viết là được khai thác sâu hơn về thơ viết cho thiếu nhi của nhà thơ Phạm

Hổ được in trong 2 tập thơ đó là Những người bạn im lặng, (NCB Kim Đồng,

1984) và Tuyển tập tác phẩm Chú bò tìm bạn (NXB Kim Đồng, 2002).

3. Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu

5

Xem thêm:   giáo án dạy theo chủ đề: liên kết ion liên kết cộng hóa trị

Trong khuôn khổ của luận văn, người viết đi sâu vào nghiên cứu hai tập

thơ của nhà thơ Phạm Hổ, đó là tập Những người bạn im lặng, (NXB Kim

Đồng, 1984) và Tuyển tập tác phẩm Chú bò tìm bạn (NXB Kim Đồng, 2002).

– Phạm vi nghiên cứu

Để có thể tìm hiểu được phong cách nghệ thuật, đặc điểm sáng tác về thơ

viết cho thiếu nhi của thơ Phạm Hổ, chúng tôi thấy rằng phải xem xét đầy đủ

các bài thơ trong gia tài thơ viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ và có sự so sánh với

các nhà thơ khác cùng thời.

– Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu những nét đặc sắc về phương diện nghệ thuật và sự

độc đáo trong việc khai thác nội dung thơ của Phạm Hổ viết cho thiếu nhi, qua

đó khẳng định những đóng góp to lớn của ông đối với sự phát triển của Văn học

thiếu nhi Việt Nam.

4. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp thống kê

Khi thực hiện luận văn này, người viết sẽ thống kê để xác định những

hiện tượng mang tính phổ biến, thường xuất hiện trong hai tập thơ của Phạm Hổ

là tập Những người bạn im lặng, (NXB Kim Đồng, 1984) và Tuyển tập tác

phẩm Chú bò tìm bạn (NXB Kim Đồng, 2002).

– Phương pháp phân tích tổng hợp

Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích như một công cụ để tìm hiểu cụ

thể một đặc điểm nào đó về nội dung và nghệ thuật trong các tác phẩm thơ của

Phạm Hổ.

Tuy nhiên, phân tích cần đi liền với tổng hợp để các kết luận không mang

tính ngẫu nhiên vun vặt mà thể hiện sự đánh giá mang tính khái quát và thuyết

phục hơn.

– Phương pháp đối chiếu, so sánh

6

Chúng tôi so sánh các tác phẩm thơ của Phạm Hổ với các tác phẩm của

những nhà thơ khác cùng viết về thể loại thơ cho thiếu nhi như: Trần Đăng

Khoa, Võ Quảng, Xuân Quỳnh, Đinh Hải, Huy Cận…

5. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung được chia làm ba

chương như sau:

Chương 1: Phạm Hổ – Từ cuộc đời đến quan niệm sáng tác cho thiếu nhi

Chương 2: Cảm hứng và hình tượng trong thơ Phạm Hổ

Chương 3: Những đặc sắc nghệ thuật trong thơ Phạm Hổ

7

CHƯƠNG 1: PHẠM HỔ – TỪ CUỘC ĐỜI ĐẾN QUAN NIỆM SÁNG

TÁC CHO THIẾU NHI

1.1 Thơ viết cho thiếu nhi trong dòng chảy văn học

1.1.1 Vị trí và quá trình phát triển của thơ viết cho thiếu nhi

Văn học thiếu nhi được hiểu là những tác phẩm văn học mà nhân vật

trung tâm là thiếu nhi, được nhìn bằng đôi mắt trẻ thơ, có nội dung gần gũi,

quen thuộc được các em thích thú, say mê. Văn học thiếu nhi là một bộ phận

không thể tách rời của văn học dân tộc. Bất kì nền văn học nào cũng chứa đựng

trong nó một bộ phận không thể thiếu là văn học thiếu nhi, sự có mặt của bộ

phận này làm đa dạng hơn, hoàn thiện hơn về đối tượng bạn đọc đồng thời cũng

nhằm nuôi dưỡng thêm về mặt tâm hồn và nhân cách cho thế hệ tương lai của

đất nước. Cùng với thời gian, mảng văn học này dần hoàn thiện cả về nội dung

lẫn hình thức và góp phần vào sự trưởng thành của văn học nước nhà.

Cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, văn học thiếu nhi Việt Nam

có một bộ phận đáng kể là văn học dân gian. Những sáng tác truyền miệng này

không phải chủ yếu dành cho trẻ em nhưng vẫn được bạn đọc nhỏ tuổi mọi thời

đại yêu thích và có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành nhân cách của trẻ, đặc

biệt là các thể loại truyện thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn,… Còn văn học hiện đại

viết cho thiếu nhi Việt Nam bắt đầu được manh nha từ những năm 20 của thế kỉ

XX nhưng thực sự phát triển và trở thành một bộ phận của văn học Việt Nam từ

sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Chúng ta có thể phân chia tiến trình văn

học viết thiếu nhi Việt Nam thành các giai đoạn chính sau đây:

Giai đoạn đầu tiên theo nhà nghiên cứu Vân Thanh có nhận định “Trước

cách mạng tháng Tám năm 1945, ở Việt Nam đã có sách viết cho thiếu nhi

nhưng hiện tượng đó chưa đủ để khẳng định có một nền văn học cho thiếu nhi”,

dưới chế độ phong kiến, những sáng tác văn học cho trẻ em chưa xuất hiện.

8

Sang những năm đầu của thế kỉ XX, văn học cho thiếu nhi đã xuất hiện song

chủ yếu có được từ 3 nguồn: truyện dịch của các nhà văn Pháp như La Fontaine,

Perault… một số sáng tác lãng mạn của nhóm Tự lực văn đoàn và sáng tác của

các nhà văn hiện thực phê phán. Những sáng tác của nhóm Tự lực văn đoàn tập

trung phản ánh đời sống sinh hoạt của trẻ em thành phố thông qua các loại sách

như Hồng, Hoa mai, Học sinh, Tuổi xanh, Truyền Bá… Một số nhà văn sáng tác

theo hướng hiện thực phê phán như Tú Mỡ, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Tô

Hoài…lại hướng tới nỗi bất hạnh, khổ đau của những bất hạnh của trẻ em nghèo

với các tác phẩm tiêu biểu như Từ ngày mẹ chết, Bài học quét nhà, Một đám

cưới, Bảy bông lúa lép của Nam Cao, Bữa no đòn của Nguyễn Công Hoan,

Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng…Chú ý khai thác số phận trẻ thơ với

những bi kịch nhân sinh sâu sắc, các nhà văn hiện thực đã để lại trên trang viết

những cuộc đời thiếu thốn vật chất, trống vắng tinh thần và rất nặng gánh về

tâm hồn. Trong thời kì này, Tô Hoài đã cho ra đời một số tác phẩm đồng thoại

khá đặc sắc: Đám cưới chuột, Võ sĩ Bọ Ngựa, Dế Mèn phiêu lưu kí, tác giả đã

mượn hình thức đồng thoại, để chuyển tải những vấn đề mang tính xã hội. Nhìn

chung, trước cách mạng tháng Tám chưa thực sự có phong trào sáng tác cho trẻ

em nhưng những tác phẩm của giai đoạn này đã đặt những nền móng đầu tiên

cho văn học thiếu nhi nước nhà.

Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) sau khi cách mạng

tháng Tám thành công, Đảng và Nhà nước đã quan tâm để phát triển văn học

thiếu nhi. Dưới chế độ mới, những thành tựu đầu tiên của văn học thiếu nhi đã

được tạo lập, Thiếu sinh – tiền thân của báo Thiếu niên tiền phong, ra số đầu

tiên vào 1946. Từ đây, các em đã có tờ báo dành riêng cho mình. Tiếp đó là sự

ra đời của tờ Thiếu niên, Tuổi trẻ, Xung phong, Măng non… và đặc biệt là sách

Kim Đồng, một loại sách mà nhà xuất bản Văn nghệ đã in riêng cho thiếu nhi.

Đó là những vốn quý ban đầu của nền văn học thiếu nhi non trẻ. Nhìn chung, số

lượng tác phẩm văn học thời này còn ít ỏi, nội dung đơn giản, chủ yếu là nêu

9

những tấm gương thiếu nhi dũng cảm trong kháng chiến và tố cáo tội ác kẻ thù

còn hình thức thì thô sơ. Có thể kể tên một số tác phẩm tiêu biểu như: Chiến sĩ

canô của Nguyễn Huy Tưởng, Hoa Sơn của Tô Hoài, Dưới chân cầu Mây của

Nguyên Hồng…

Giai đoạn miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội (1955 – 1964), đây thực

sự là giai đoạn đánh dấu một bước ngoặt lớn đối với văn học thiếu nhi nước

Xem thêm :  Các Phím Tắt Mở Cmd (Command Prompt) Thông Dụng Trên Windows

nhà, với sự ra đời của nhà xuất bản Kim Đồng vào ngày 17 tháng 6 năm 1957.

Nhà xuất bản Kim Đồng là chỗ dựa tinh thần cho đội ngũ sáng tác. Từ đây, đã

xuất hiện những tác phẩm văn học có giá trị như: Đất rừng phương Nam của

Đoàn Giỏi, Hai làng Tà Pình và Động Hía của Bắc Thôn, Em bé bên bờ sông

Lai Vu của Vũ Cao, Cái Thăng của Võ Quảng, Vừ A Dính của Tô Hoài … Đội

ngũ sáng tác lẫn số lượng tác phẩm viết cho các em cũng đông đảo hơn, phong

phú hơn. Bên cạnh đề tài kháng chiến, đề tài lịch sử (Lá cờ thêu sáu chữ vàng –

Nguyễn Huy Tưởng, Sóng gió Bạch Đằng – An Cương, Quận He khởi nghĩa –

Hà Ân,…) các tác giả còn khai thác đề tài sinh hoạt, lao động, học tập như

truyện ngắn Ngày công đầu tiên của cu Tí – Bùi Hiển, Những mẩu chuyện về bé

Ly – Bùi Minh Quốc, Đàn chim gáy – Tô Hoài…. Trong thời kì này, đội ngũ

nhà thơ viết cho các em rất hùng hậu, đặc biệt là Võ Quảng và Phạm Hổ. Sự ra

đời của tập thơ Chú bò tìm bạn, Em thích em yêu, Những người bạn nhỏ của

Phạm Hổ, Võ Quảng với Thấy cái hoa nở và Nắng sớm đã thực sự ghi được dấu

ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc. Nhìn chung, trong thời kì này, văn học thiếu nhi

Việt Nam đã phát triển khá toàn diện và phong phú.

Giai đoạn thời kì kháng chiến chống Mỹ (1965 – 1975) Văn học thiếu nhi

Việt Nam giai đoạn này phát triển mạnh với nhiều cây bút tài năng và nhiều tác

phẩm giá trị. Đề tài kháng chiến chống Pháp tiếp tục được khai thác với Đội du

kích thiếu niên Đình Bảng của Xuân Sách, Quê nội, Anh đom đóm, Măng tre và

Gà mái hoa của Võ Quảng, Kim Đồng của Tô Hoài. Đề tài kháng chiến chống

Mỹ được quan tâm phản ánh trong nhiều tác phẩm như: Những đứa con trong

10

Xem thêm:   Dạng 3. Tổng hợp Polime.

gia đình (Nguyễn Thi), Chú bé Cả Xên (Minh Khoa), Em bé sông Yên (Vũ

Cận)… Những nhà văn như Hà Ân, Lê Vân, Nguyễn Hiền tiếp tục theo đuổi đề

tài lịch sử. Một số nhân vật và sự kiện lịch sử đã xuất hiện trong Bên bờ Thiên

Mạc, Trăng nước Chương Dương, Sát thát… Trở thành cảm hứng cho rất nhiều

sáng tác chính là cuộc sống sinh hoạt của trẻ em trên miền Bắc xã hội chủ

nghĩa. Chú bé sợ toán của Hải Hồ, Mái trường thân yêu của Lê Khắc Hoan,

Những tia nắng đầu tiên của Lê Phương Liên, Tập đoàn san hô của Phan Thị

Thanh Tú… là những tác phẩm đáng chú ý về mảng đề tài này. Ngoài ra, còn có

những tác phẩm tiêu biểu về mảng đề tài về nông thôn như: Cơn bão số bốn

(Nguyễn Quỳnh), Những cô tiên áo nâu (Hoàng Anh Đường), Kể chuyện nông

thôn (Nguyễn Kiên)… Nhận định về thành tựu của mảng đề tài nông thôn trong

10 năm kháng chiến chống Mỹ, Lã Thị Bắc Lý viết: “Có lẽ đây là giai đoạn

phát triển rực rỡ nhất của mảng đề tài này vì ở giai đoạn sau, khi nông thôn

chuyển sang thời kì phát triển mới thì mảng đề tài này cũng không phát triển”.

Một đặc điểm đáng chú ý của văn học thiếu nhi thời này đó là sự phát triển

mạnh mẽ của loại truyện về người thật việc thật của con người mới, thời đại

mới. Đó là hồi ký Lớn lên nhờ cách mạng của Phùng Thế Tài, tự truyện Những

năm tháng không quên của Nguyễn Ngọc Ký, truyện Hoa Xuân Tứ của Quang

Huy… Ngoài ra, thể đồng thoại và thơ cho thiếu nhi cũng tiếp tục phát triển.

Đây là thời kì phát triển rực rỡ nhất của mảng sách khoa học và đặc biệt là

“những tiếng chim hoạ mi vút bay từ trong lửa đạn” qua hiện tượng trẻ em làm

thơ như Cẩm Thơ, Hoàng Hiếu Nhân, Trần Đăng Khoa…

Giai đoạn sau 1975 có tình trạng văn học thiếu nhi chưa được đánh giá

đúng mức. Dư luận còn hờ hững với bộ phận văn học này. Nhiều người cho

rằng viết cho thiếu nhi là viết tay trái, lấy ngắn nuôi dài, lấy ngoài nuôi trong,

lấy nhi đồng nuôi người lớn. “Tình hình trên khiến cho những người viết cho

thiếu nhi cảm thấy cô đơn như đi trong ngõ vắng”. Mười năm đầu sau chiến

tranh, văn học thiếu nhi đang trong giai đoạn “trăn trở, tìm tòi”. Nhưng kể từ đại

11

hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, văn học thiếu nhi đã có nhiều khởi sắc. Đội ngũ

sáng tác ngày càng đông đảo. Bên cạnh những cây bút cũ như Tô Hoài, Phạm

Hổ… đã xuất hiện nhiều cây bút trẻ, thậm chí rất trẻ về tuổi đời và tuổi nghề.

Đó là Nguyễn Nhật Ánh, Trần Thiên Hương, Lê Cảnh Nhạc, Dương Thuấn,

Nguyễn Hoàng Sơn, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Thị Châu Giang, Hoàng Dạ

Thi với những tác phẩm tiêu biểu như: Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Tôi là

Bêtô, Đảo mộng mơ (Nguyễn Nhật Ánh), Bây giờ bạn ở đâu (Trần Thiên

Hương), Hương sữa đầu mùa (Lê Cảnh Nhạc), Dắt mùa thu vào phố (Nguyễn

Hoàng Sơn),… Thời kì này, thể loại tự truyện rất phát triển với những tác phẩm

giá trị như: Tuổi thơ im lặng (Duy Khán), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Dòng

sông thơ ấu (Nguyễn Quang Sáng), Miền xanh thẳm (Trần Hoài Dương)…

Chính sách “cởi trói” của đại hội Đảng tạo điều kiện cho các tác giả mở rộng hệ

thống đề tài. Các sáng tác thời này không chỉ quan tâm đến những đề tài truyền

thống mà còn hướng đến đề tài miền núi (Chú bé thổi kèn – Quách Liêu, Đường

về với Mẹ Chữ – Vi Hồng, Đồi sói hú – Nguyễn Quỳnh…), đề tài về sinh hoạt,

tâm lí thường nhật của trẻ (Kính vạn hoa – Nguyễn Nhật Ánh).

Nhìn lại chặng đường phát triển của văn học thiếu nhi sau 75 chúng ta

thấy tuy nó có những bước phát triển thăng trầm nhưng cũng đạt được những

giá trị nhất định và ngày càng khởi sắc. Trong sáng tác có nhiều đổi mới về cách

khám phá hiện thực cũng như quan niệm nghệ thuật về con người. Các tác giả

tiếp cận cuộc sống với cái nhìn đa chiều và nhìn nhận con người với tư cách là

một chỉnh thể phức tạp về tâm lí và tính cách.

1.1.2 Đặc điểm của thơ thiếu nhi

Văn học thiếu nhi Việt Nam có sự đóng góp tâm lực của rất nhiều thế hệ

nhà văn, trong đó có cả những cây bút nhí. Từ sự đa dạng của chủ thể sáng tác,

văn học thiếu nhi Việt Nam phát triển với sự phong phú về đề tài, thể loại

phong cách nghệ thuật và đặc điểm riêng biệt của riêng nó.

12

Các tác giả, dù là trẻ em hay nhà văn lớn tuổi, họ đều nhìn con người,

nhìn cuộc đời bụi bặm của chúng ta bằng con mắt trong veo và ngơ ngác của

con trẻ…. Vì thế, các tác phẩm của họ đã trở thành những thế giới nghệ thuật

non trẻ, tinh khôi, trong sáng, ngộ nghĩnh, đáng yêu đến lạ kì. Điều đó đúng với

tinh thần mà tác giả Quang Huy đã phát biểu: “Thơ cho thiếu nhi bao giờ cũng

phải vui tươi, ngộ nghĩnh. Đằng sau những câu phải giấu những nụ cười. Các

em không phải là những ông cụ non, không chấp nhận những bài thơ khô khan,

nghiêm nghị quá mức. Mỗi bài thơ không thể là lời giáo huấn sống sượng và lột

bỏ hết mọi say đắm, hồn nhiên dí dỏm của đời sống tuổi nhỏ”. Với tâm huyết

dành cho thiếu nhi, các tác giả đã tạo ra những sáng tác phù hợp với đặc điểm

tâm sinh lí của trẻ đó là: dung lượng tác phẩm ngắn gọn, sự giản dị trong sáng

và giàu tính nhạc của ngôn từ, sự có mặt của yếu tố hài hước, ngắn gọn, trong

sáng, dễ hiểu. Sự ngắn gọn không chỉ thể hiện ở dung lượng tác phẩm mà còn

thể hiện trong cả câu văn, câu thơ. Trong văn xuôi thường sử dụng những câu

đơn, ngắn, vừa sức với khả năng tiếp nhận của trẻ nhỏ; còn trong thơ, các nhà

văn thường sử dụng thể thơ 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, rất gần với đồng dao, vui nhộn,

vừa dễ đọc, dễ thuộc, dễ nhớ.

Trong thơ cuộc sống được hiện lên thông qua cái nhìn bằng “đôi mắt trẻ

thơ” và thể hiện từ cảm xúc hồn nhiên, trong trẻo. Trong bài “Chú bò tìm bạn”

của Phạm Hổ “Mặt trời rúc bụi tre/ Buổi chiều về nghe mát/ Bò ra sông uống

nước/ Thấy bóng mình ngỡ ai/ Bò chào: “Kìa anh bạn/ Lại gặp anh ở đây”/

Nước đang nằm nhìn mây/ Nghe bò cười toét miệng…” một chú bò làm người ta

thấy đáng yêu, hài hước, dí dỏm…. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy đặc

trưng ấy trong bài thơ “Ngủ rồi” của Phạm Hổ:“Gà mẹ hỏi gà con/ Đã ngủ chưa

đấy hả?/ Cả đàn gà nhao nhao/ Ngủ cả rồi đấy ạ!”…nói đã ngủ mà vẫn hồn

nhiên trả lời được thì chỉ có thể là trẻ con mới làm vậy.

Trẻ em được tiếp xúc với văn học thiếu nhi chủ yếu là qua lời đọc, lời kể

của ông bà, cha mẹ, thầy cô… cho nên văn học thiếu nhi khi viết phải đặc biệt

Xem thêm :  Cách làm bánh xèo miền tây giòn lâu, ngon ngất ngây

13

Xem thêm:   Toán lớp 3 – Giới thiệu bảng nhân, trang 74

quan tâm đến đặc điểm tâm lí lứa tuổi và những sở thích của các em. Người lớn

muốn viết thơ thiếu nhi phải thực sự hòa nhập với cuộc sống trẻ thơ, sống hết

mình với tuổi thơ mới có thể tạo ra được sự cộng hưởng và mang lại cho tác

phẩm sự thành công. Bài thơ “Chú thỏ đa nghi” của Phạm Hổ: “Thỏ đây! Ai

đấy? Mèo à? Mèo thế nào? Mình không trông thấy cậu/ Nhỡ đứa khác thì

sao?”… không chỉ thể hiện sự hồn nhiên ngây thơ mà còn đa nghi, ngốc nghếch

của chú thỏ. Thỏ dùng máy nói mà cứ đòi phải nhìn thấy người ở đầu dây bên

kia chú mới tin đó chính là bạn mình. Trí tưởng tượng của trẻ rất độc đáo, đi

học gặp trời mưa và bé có thể nói là ướt do bị ông trời dội nước. Suy nghĩ của

trẻ giống như suy nghĩ của người cổ đại, dùng tưởng tượng để giải quyết những

thắc mắc của mình, vì thế những gì bay bổng sẽ hấp dẫn trẻ. Ngoài ra trẻ có tư

duy khám phá, thích những gì độc đáo, trẻ em cũng là đối tượng giàu tình cảm

nên nó đòi hỏi văn học viết cho thiếu nhi cũng cần giàu chất trữ tình như: tình

bạn, cha mẹ , thầy trò , nhân đạo…

Sở dĩ các tác phẩm truyện viết cho trẻ em lôi cuốn, hấp dẫn, có sức cảm

hóa lạ lùng, mạnh mẽ được các em còn vì văn học thiêu nhi luôn lấp lánh chất

thơ, chất truyện. Điều này giúp trẻ em sau khi được nghe ông bà, cha mẹ kể

chuyện, gấp sách lại vẫn thấy bao nhiêu điều kì diệu, “bám chặt” lấy tâm hồn,

tình cảm và chắp cánh cho những ước mơ, khát vọng của tuổi thơ (truyện “Dế

mèn phiêu lưu kí” của Tô Hoài là một ví dụ cụ thể). Bên cạnh đó, đặc điểm này

cũng là một trong những yếu tố khiến cho các em dễ hiểu, dễ cảm nhận tác

phẩm .

Văn học thiếu nhi còn mang một đặc điểm rất riêng đó là giàu hình ảnh,

vần điệu, nhạc điệu. Hình ảnh đẹp, rực rỡ cùng với vần điệu, nhạc điệu vui tươi

sẽ làm cho tác phẩm thêm sinh động và có sức lôi cuốn, hấp dẫn các em, đây là

một trong những yếu tố không thể thiếu trong thơ viết cho các em.

14

Chức năng giáo dục của văn học thiếu nhi luôn được các tác giả đặt lên

hàng đầu. Tô Hoài khẳng định: “Nội dung một tác phẩm văn học viết cho thiếu

nhi bao giờ cũng quán triệt vấn đề xây dựng đức tính con người. Nói thì thừa,

cần nhắc lại và thật giản dị, một tác phẩm chân chính có giá trị đối với tuổi thơ

là một tác phẩm tham dự mạnh mẽ vào sự nghiệp nên người của bạn đọc ấy”.

Tuy nhiên, các nhà văn không muốn mình là người thuyết giáo, đưa ra những

bài học giáo huấn khô khan, cứng nhắc cho các em. Nghệ thuật giáo dục là điều

được các tác giả quan tâm thực hiện thường xuyên. Tính giáo dục được coi là

một trong những đặc trưng cơ bản nhất của Văn học thiếu nhi, nó có vai trò vô

cùng to lớn trong việc giáo dục toàn diện nhân cách trẻ, cả về đạo đức, trí tuệ và

thẩm mỹ.

1.2

Phạm Hổ và thơ thiếu nhi

1.2.1 Phạm Hổ và quá trình sáng tác

Phạm Hổ sinh năm 1926 mất năm 2007, ông được biết đến với bút danh

Hồ Huy. Phạm Hổ quê ở xã Nhân An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông

xuất thân trong một gia đình Nho học. Ngay từ nhỏ, Phạm Hổ là một người say

mê đọc sách, ông có điều kiện đọc nhiều sách, truyện cổ tích, đồng dao… chính

điều này đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn và tình yêu thơ văn. Lớn lên, ông lại

được nhà thơ Cách mạng Trần Mai Ninh và họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung dìu dắt.

Đặc biệt người anh trai của ông là Phạm Văn Ký có ảnh hưởng rất lớn đến văn

chương của ông. Năm Phạm Hổ học lớp 3, ông Phạm Văn Ký đạt giải nhất cuộc

thi thơ viết bằng tiếng Pháp được tổ chức cho các nước thuộc địa của Pháp, đây

chính là thời gian Phạm Hổ cùng anh trai rời quê ra Huế. Ông Ký đã dạy cho

Phạm Hổ biết cách đọc sách, cách sáng tác văn học và tiếng Pháp. Ông là một

trong số ít những nhà văn thông thạo tiếng Pháp. Phạm Hổ học trung học ở Huế,

thi đỗ Thành chung ở Qui Nhơn. Quy Nhơn là mảnh đất được thiên nhiên ưu đãi

với nhiều danh lam thắng cảnh. Những cảnh đẹp nơi đây đã là nguồn cảm hứng bất

tận cho Phạm Hổ trong rất nhiều trang viết của ông.

15

Cách mạng tháng Tám thành công, ông đi theo Cách mạng và hoạt động

văn nghệ từ đó. Năm 1955, ông tập kết ra Bắc và là một trong những thành viên

sáng lập ra nhà xuất bản Kim Đồng. Ông làm công tác thông tin tuyên truyền,

được sự giúp đỡ dìu dắt của các nhà thơ, nhà báo, ông trở thành cán bộ sáng tác

của chi hội văn nghệ. Với cảnh tuyệt đẹp bình yên của đồng bằng Bắc bộ Phạm

Hổ đã cho ra đời tập thơ Chú bò tìm bạn năm 1957, ngay sau đó là tập thơ Em

thích em yêu năm 1958 và tập thơ Những người bạn nhỏ năm 1960. Sau đó ông

chuyển sang công tác ở các nhà xuất bản lớn. Ông từng là Chủ tịch Hội đồng

Văn học thiếu nhi trực thuộc Hội nhà văn.

Đến với Phạm Hổ chúng ta có thể nhận thấy rằng đây là một ông già với

mái tóc ngả bạc nhưng lại có tâm hồn trong vắt như tâm hồn của một đứa trẻ một người trẻ cao tuổi. Theo cách nói của Trần Đăng Khoa thì “ông không phải

là người mà là một thứ đồ chơi, một món quà đặc biệt mà Tạo hóa đã thửa

riêng, làm riêng để trao tặng các đấng trẻ con” [5, tr 5]. Phạm Hổ sáng tác

nhiều thể loại cho cả người lớn và trẻ em nhưng nói tới Phạm Hổ, trước hết phải

nói đến sự đóng góp to lớn của ông cho nền Văn học thiếu nhi nước nhà. Ông

đã được nhận nhiều giải thưởng về Văn học thiếu nhi và giải thưởng nhà nước

về Văn học thiếu nhi. Tác phẩm của ông còn được giới thiệu ở các nước như

Nga, Trung Quốc, Pháp, Đức….

Khác với nhiều bạn văn khác, Phạm Hổ chọn con đường đi vào thế giới

tâm hồn trẻ thơ. Phạm Hổ luôn tâm niệm: “Đối với tôi được viết cho các em là

cả một hạnh phúc”. Và ngay cả khi đang nằm trên giường bệnh, phải chống lại

cùng với những cơn đau dữ dội, Phạm Hổ vẫn không quên sáng tác để dành

tặng thiếu nhi, tặng cho cuộc đời những vần thơ chất chứa yêu thương và khát

vọng sống:

“Núi sinh ra để cao

Biển sinh ra để rộng

Sông sinh ra để dài

16

Hoa sinh ra để đẹp

Con người để yêu thương”

(Ý nghĩ đầu xuân)

Đó là tiếng thơ cuối cùng trước khi ông vào cõi vĩnh hằng, đọc những vần

thơ này ta cảm thấu được cái tâm và cái tài của ông, một người suốt đời vì nghệ

thuật vị nhân sinh, đọc thơ ông khiến chúng ta thêm yêu đời hơn và biết quý

trọng cuộc sống của mình hơn. Như một nhà nghiên cứu đã từng nhận xét về

ông : “Người nghệ sĩ chân chính sáng tạo không phải để kiếm sống mà trước

hết là do một yêu cầu thôi thúc bên trong”. Nội lực bên trong của Phạm Hổ

không gì khác đó chính là tình yêu với con trẻ, niềm vui khi giúp cho đời một

việc gì đó, là được nhìn thấy nụ cười rạng rỡ của các cháu mẫu giáo, là sự

trưởng thành của thiếu nhi khi chúng được sống và học tập, được đọc thơ mình

yêu thích bằng chính ngôn ngữ mẹ đẻ bằng nhịp điệu thân thuộc với bạn bè,

thầy cô và những người thân yêu nhất, để rồi sau này các em lớn lên có cái tâm

sáng hơn, đẹp hơn vững vàng hơn làm chủ đất nước.

Là một nhà văn đa tài, Phạm Hổ sáng tác ở khá nhiều mảng. Bên cạnh

sáng tác thơ, truyện ngắn, truyện vừa, kịch, tiểu thuyết, viết phê bình cho cả

người lớn và trẻ em. Ông còn là dịch giả của nhiều tác phẩm thơ, truyện thiếu

nhi. Nhưng thành công nhât vẫn là những tác phẩm dành cho thiếu nhi.

Hơn 60 năm cầm bút Phạm Hổ đã để lại khoảng trên 20 tập thơ, 9 tập

truyện và 4 vở kịch viết cho thiếu nhi. Các tác phẩm chính:

Tập thơ: “Em vẽ Bác Hồ” (1948), “Chú bò tìm bạn” (1957), “Em thích

em yêu” (1958), “Những người bạn nhỏ” (1960), “Bạn trong vườn” (1967), “Từ

không đến mười”(1973), “Mẹ, mẹ ơi cô bảo”(1980), “Những người bạn im lặng”

(1984), “Đỗ đen đỗ trắng” (1991) , “Cháu chọn hạt nào” (1992), “Câu chuyện về

Miu trắng” (1993)…

Truyện: “Viết thư cho cha” (1959), “Khẩu súng người ông” (1960),

“Cất nhà giữa hồ” (1964), “Chuyện hoa chuyện quả” (1982) (gồm những tập

17

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Giáo Dục

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Kiến Thức Chung

Related Articles

Back to top button