Kiến Thức Chung

Thẩn thơ Võ Phiến

Bạn đang xem: Thẩn thơ Võ Phiến

Đặng Tiến

Võ Phiến là tác gia có tầm cỡ hàng đầu trong văn học Việt Nam.

Hơn bốn mươi năm qua, từ 1956, anh đã cho xuất bản hơn bốn mươi đầu sách, thuộc nhiều thể loại văn xuôi, non nửa số được ra đời ngoài nước, từ 1975, tại Hoa Kỳ.

Nhà xuất bản Văn Nghệ (California) đã lần lượt in Toàn tập Võ Phiến: đây là hiện tượng xưa nay hiếm thấy, đối với một tác gia đang còn sung sức viết, trong cũng như ngoài nước.

Thế mà tác phẩm mới nhất của Võ Phiến lại là một tập thơ, xuất bản tại Pháp (1).

của Võ Phiến, do An Tiêm ấn hành 1997, khoảng trăm trang, gồm 51 bài thơ có ghi rõ thời điểm sáng tác: 7 bài làm trong nước từ 1943 đến 1975, phần còn lại làm tại Hoa Kỳ, chủ yếu từ 1986 đến nay. Người đọc để ý rằng trong thời kỳ sáng tác sung mãn nhất (1956-1975) không thấy có thơ, hoặc anh không làm thơ, hoặc bản thảo thất lạc, hoặc tác giả không muốn phổ biến. Võ Phiến làm thơ nhiều từ khi bị mổ tim lần đầu năm 1985 (lần thứ nhì 1992).

Thơ Võ Phiến phần nhiều làm theo vần điệu cổ điển, mang tính chất tâm sự và tự sự. Người đọc gặp lại những tư tưởng và cảm xúc đã từng thấy trong văn xuôi, nhất là tuỳ bút. Trong chừng mực nào đó, có thể nói cô đúc nhân sinh quan của Võ Phiến, “diễn ca” tâm tình mà tác giả muốn gửi gấm cho thân hữu, một loại thơ người xưa thường gọi là “ký hữu”. Thơ Võ Phiến không tìm độc giả, không tạo quần chúng. Có lẽ chỉ là lời nhắn cố nhân. Ai cố cựu thì về.

*

Võ Phiến không muốn tạo trường phái. Không những không có ý đồ, mà còn chống lại mọi ý đồ tương tợ. Nhưng vô hình trung, anh lại đưa ra một quan niệm về thơ, rồi minh hoạ bằng nhiều bài thơ. Từ địa vị của anh trong văn học, chủ yếu là văn xuôi, quan niệm của anh về thơ là một chứng từ quan trọng. Quan niệm ấy ra sao?

Gọi là Thơ Thẩn vì nó đối lập với Thơ Thơ, tên một tập thơ nổi tiếng (2). Thơ thơ phải làm mới có. “Mùa thi sắp tới” thì học trò bận quá, thiếu thì giờ, không cặm cụi được: bèn không có thơ thơ.

Ngược lại thơ thơ vướng ba trở ngại: cái đáng ghét: lập trường (…) cái đáng chán: sứ điệp” (và một) “quái tật: diêm dúa, lập dị, lố lăng, dị hợm”  (tr. xii).

Đây là lời tựa, Võ Phiến gọi là “bâng quơ” nhưng thật sự là một nhận xét gay gắt về quá trình thơ Việt Nam hiện đại, có thể gây bất bình cho các “giáo chủ thi ca”.

Ngoài những sáng tác, Võ Phiến đã viết nhiều bài lý luận, nhận định về văn học, anh là kẻ có “thẩm quyền”. Nhưng ở đây, tác giả không sử dụng thẩm quyền, mà chỉ dùng cái quyền thông thường của người đọc thơ, và thỉnh thoảng làm thơ; và cũng nên thừa nhận thêm cái thú nghịch ngợm, “trêu ngươi” của Võ Phiến như cái thời anh đùa cợt với những thời thượng “văn chương hôm nay”, “văn học viễn mơ” cách đây vài ba mươi năm. Giữa cái quyền và cái thẩm quyền, e có thêm phần quỷ biện.

*

Nhưng chỉ hiểu như một nghịch lý của thì chưa tri kỷ tri âm.

Thơ thẩn là một trong những chữ tuyệt vời trong ngôn ngữ Việt Nam, công dụng đơn giản mà hình thái (morphologie) phức tạp. Đây là một từ láy, Hồ Lê sắp xếp vào từ đơn lắp láy (3) nhưng theo lý thuyết của ông thì có thể xem như từ kép, vì có hai từ tố (3): thơ và thẩn có thể xem như hai nguyên vị (morphème hay radical?). Theo lý luận Nguyễn Tài Cẩn, thơ thẩn là một từ ghép vừa láy âm vừa láy nghĩa “ dưới ” (4) vì ta có thể nói “thơ với thẩn” hay “lơ thơ lẩn thẩn” (5). Thơ thẩn, có lẽ cùng nguồn với tha thẩn, nhưng rộng nghĩa hơn “” (6).

Thử tìm hiểu nghĩa thường dùng của từ thơ thẩn. Theo Quấc âm tự vị của Huình Tịnh Của (1896): “ ” (A). Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (Hà Nội, 1988), “ ” (B). Hai định nghĩa bổ sung – thật ra là hai lối nhìn người và nhìn đời – dường như định nghĩa A nhấn mạnh vào chữ thơ (không có công chuyện mần) còn định nghĩa B nhấn vào từ thẩn (có điều gì suy nghĩ).

Dài dòng, chi ly để thấy chữ nghĩa không đơn giản. Mà chữ nghĩa của Võ Phiến lại buộc ta phải đề phòng cho lắm. Võ Phiến dùng chữ và ghiền chữ – nghiền chữ – như người ta ghiền cờ, dùng chữ như đánh cờ với người đọc.

Chữ thơ thẩn gợi cho ta, trước hết, một không gian, thường là rộng và mở; thứ đến là một thời gian, thường là thơ thới, hay ít nhất là thong thả; cuối cùng nói lên một tâm trạng đơn lẻ, mơ mộng, băn khoăn khi chân bước những bước ngắn, chậm, không rõ định hướng. Thơ thẩn là nhẹ bước trong không gian im ắng, thời gian êm ả và nhân gian ưu ái.

Chữ thơ thẩn trong Tống biệt của Tản Đà diễn tả nhiều tình cảm, nhưng chủ yếu là tạo nên cái không gian bao la và bơ vơ, cảnh trời đất từ nay xa cách mãi.

Tản Đà có bài thơ tên là Thơ thẩn, vào đề

Chữ thẩn thơ mô tả tâm trạng bâng khuâng của kẻ ngồi (trong) phòng văn, chứ không nhấc bước trong không gian rộng mở như nói ở trên, hay ở câu:

(Khối tình con I, 1916)

Từ thơ thẩn ở đây đượm niềm nhớ nhung chua xót có lẽ đã gợi ý cho Hàn Mạc Tử:

Bài Tình quê, lúc đầu, khi đăng báo mang tên là Mong đợi (1935) (7). Vậy người ta có thể vừa “thơ thẩn”, vừa “đăm đăm” thậm chí “lòng xuân cũng não nề”.

Nói khác đi thơ thẩn không phải lúc nào cũng thơ thới. Nhưng thường, là một tâm trạng thoát ly, mơ mộng. Trong Mai Đình mộng ký (1809?), nhân vật của Nguyễn Huy Hổ thoáng thấy người đẹp, khi lạc vào cảnh mộng, liền bâng quơ thầm thì một mình:

Chúng ta lưu ý đến những âm láy và cách dùng chữ “mơ mẩn” kết hợp với “thơ thẩn”, “thầm thì”.

Thơ thẩn đôi khi có nghĩa cụ thể giới hạn: mất thì giờ. Như trong bài Dặn thằng Cam của Nguyễn Gia Thiều dừng lại ở câu:

Thực tế thơ thẩn dọc đường không nhất thiết phải mất thì giờ… Như Nguyễn Bính, đã lạc bước và “lạc dạ”:

Hai chữ thơ ở câu đầu vọng âm lại ở hai chữ mơ ở câu cuối, vừa khác nghĩa vừa chồng nghĩa lên nhau, “rất nên thơ rất là mơ” (8) như lời Xuân Diệu. Xin mạn phép mách một đoạn thơ hay khác của Nguyễn Bính ít người nhớ:

(Hương, cố nhân, 1941)

*

Thơ thẩn còn có vẻ tiên phong đạo cốt như ở Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Ở đây là thái độ ung dung, thư thái của bậc triết nhân đã vượt lên khỏi những nhiễu nhương trần lụy, kẻ đã nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. Xét lại định nghĩa trong từ điển, ta thấy những nét tiêu cực của con người thơ thẩn “không có công chuyện mần, bơ vơ một mình… suy nghĩ vẩn vơ…”. Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, thơ thẩn là niềm vui tích cực trong cuộc sống: tác giả vẫn lao động cả hai mặt chân tay và trí óc; ông làm chủ không gian và thời gian trong mọi kích thước:

Có người sẽ bắt bẻ: chữ thơ thẩn tự nó không có ý nghĩa sâu rộng đó. Nhờ toàn thể bài thơ, và toàn thể tư tưởng, cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm dồn vào đó, mới tạo ra kích thước kia. Đã đành. Nhưng từ ngữ, tự nó phải có dung tích, sức chứa, như cái chai một lít chỉ chứa được một lít, rượu ngon hay nước lã cũng chỉ được một lít. Từ thơ thẩn, với âm vang của nguyên âm và phụ âm, tự nó có khả năng gợi một phong cảnh và tâm cảnh.

Xem thêm:   ✅4 VIỆC NÊN BIẾT DỪNG LẠI KỊP THỜI – Thiền Đạo

Xem thêm :  SKKN Biện pháp bồi dưỡng nâng cao năng lực hướng nghiệp cho giáo viên tại trường PT Nguyễn Mộng Tuân

Trong tiếng nói, có những từ ngữ mang nhiều âm độ và sắc độ, có khả năng tiếp thu và phát huy âm sắc, những tia hồng ngoại và tử ngoại chiếu vào văn cảnh. Thơ thẩn là một từ tầm thường, thường bị coi thường, ít có người lưu ý đến hào quang riêng của nó.

Nhân chuyện âm vang của từ ngữ, xin mách lại một vài quan điểm của nhà thơ “mô đéc” thời danh Đỗ Kh., chung quanh cuộc tranh luận thơ thanh thơ tục, có vần không vần trên tạp chí Thơ mới đây: “thơ phải là hơi thở, không thể là bàn thờ…” (9) “Nếu đạo thơ có giòng linh thiêng thì cũng có giòng thơ Dại (…). Không bị đòn (…) của giòng thơ thầy là thơ Thợ” (10). Bạn đọc lưu ý cách dùng chữ của Đỗ Kh.: thơ, thở, thờ, thợ… Xin thêm: thơ hay thường là thơ Dại, thơ khôn chỉ là lời nói khéo, ngắn gọn và vần vè. Quan niệm Thơ Dại, Thơ Ngây không xa với Thơ Thẩn của Võ Phiến. Ở những câu thơ hay, đích thực là thơ, thì thơ cũ và thơ mới, cách nhau chỉ một đường tơ.

*

Trong các tác gia lớn, nguồn rung cảm dường như bẩm sinh, hằng hữu trong những nguyên lý thâm trầm nhất. Sau quá trình sáu mươi năm (1938-1998) giọng văn Tô Hoài không thay đổi âm hao. Trước sau một nửa thế kỷ, câu thơ Nguyễn Đình Thi vẫn vậy. Những bài thơ văn xuôi Võ Phiến làm từ 1946, đã mang cảm xúc vừa chi ly vừa man mác trong các tác phẩm về sau:

(tr.21).

Như vậy, từ tuổi hai mươi, thế giới văn học đã thành hình trong chàng thanh niên Võ Phiến. Rõ ràng hơn nữa, cụ thể và chính xác, chúng ta đã đọc trong truyện ngắn Về một xóm quê viết năm 1957 chuyện một nông dân: “” (11).

Năm 1994, ở bài Mùi áo cũ, trong Thơ Thẩn, Võ Phiến nói về cõi chết:

“” (tr.90).

Lời xưa, ý cũ. Võ Phiến nói để nghe âm vang giọng mình nói, lặp lại “mùi áo xiêm tiên nữ” rồi lại tự trả lời cho niềm e ngại: “ …” (tr. 91). Ý không mới, vì tác giả đã diễn tả đậm đà hơn trong truyện ngắn, nhưng thấm thía qua giọng u trầm của người luống tuổi, nhớ hoài trong bóng chiều lữ thứ.

Một đoạn văn khác, cũng trong Về một xóm quê: “ ” (tr.11).

Đoạn văn ấy, mấy chục năm sau (1957-1993) đã tái sinh trong một cảnh ngộ khác, từ một Bình Định xác xơ và xa xưa đến một Los Angeles tân tiến

Trưa vừa xế, ta mới vừa chợp mắt
Tỉnh giấc ra, ngày đứng phắc bao giờ
Mây ngẩn ngơ nắng cũng sững sờ
Mỗi vạt nắng trong vườn chết trân tại chỗ
(…) Khắp cả vườn không chiếc lá nào lay
Lay hiểu nào khi đất sắp ngừng quay
– Quả đất rồi nhẹ nhõm tha hồ quay
Ta đi xong, quả đất mày: Thích nhé!

tr. 63

Tôi sở dĩ bị ám ảnh bởi câu văn vì hai chữ . Thế còn Võ Phiến? Không lẽ anh đọc lại văn xưa của mình để diễn ca? Muốn làm thơ, đại khái như đoạn thơ trên thì thiếu gì ý? Có lẽ mỗi nhà văn thường viết đi viết lại, để sống đi sống lại một vài hình ảnh đơn giản. Dường như Albert Camus có lần nói đâu đó, đại khái như vậy.

Về buổi trưa trong thi ca hiện đại, Huy Cận đã để lại nhiều câu, nhiều bài xuất sắc gợi cùng một khí hậu với Võ Phiến:

Huy Cận thiết tha với buổi trưa đến mức mong khi lìa đời, sẽ ra đi vào lúc ban trưa:

1974

Bên ngoài sự chọn lựa chính trị, mang theo nó quan niệm văn học, và nếu chỉ đứng trên bình diện rung cảm nghệ thuật, thì giữa những nhà thơ nhà văn thuộc những chân trời khác nhau vẫn có những điểm gần nhau.

Võ Phiến có một tập truyện nhan đề mượn ý ca dao: . Câu ca dao hẹn ngàn năm về sau, vẫn còn thương hoài, thương mãi. Ở Võ Phiến, chữ hoài còn một nghĩa thứ hai, ngược chiều, ngoái lại, thương tiếc ngàn năm đã mất. Tác phẩm Võ Phiến, tâm hồn Võ Phiến, là chữ tình một khối u hoài khôn nguôi. Võ Phiến là Người tù một đêm xuân trăng sáng, người tù không có hy vọng nào được phóng thích hay vượt ngục, vượt biên. Võ Phiến, người tù của một hột thông rơi lặng lẽ bên mình (tr.20), một chiều Huế 1946 và – năm mươi năm sau người tù của tiếng chó rài ăng ẳng từ xóm cũ sủa theo… đêm đêm Los Angeles

Mai kia, mình đã đi xa, đêm đêm tiếng ủng ẳng của trần gian rồi có đuổi theo sang thế giới bên kia, như thể tiếng gọi kêu tuyệt vọng của cõi nhân thế tuyệt vời… (tr.99).

Bài viết tháng 7.1995. Tôi thèm được gửi đến cố nhân một đêm sao mùa hạ cũ. Một nhấp nháy tuyệt vọng tuyệt vời trên một cọng rơm khô. Với mấy chữ trong thơ xưa “nhất phiến nhu hoài” mà Vũ Hoàng Chương ưa thích.

Năm 1957, phong cách Võ Phiến còn đơn giản, anh đã đặt một cái tên thật thà Tuổi thơ đã mất cho một truyện ngắn có tính cách ma quái: một nhân vật, đồng thời là người kể chuyện, bị phân thân, thường xuyên sống đeo đẳng với cái bóng của mình như một bóng ma. Về sau, trong những Truyện thật ngắn (1991), bút pháp tân kỳ hơn, Võ Phiến vẫn hư cấu những cốt truyện phân thân hư hư thực thực như thế: Tôi nhiều đứa, Thằng bé, vẫn loanh quanh chủ đề “xa cách tuổi thơ hơn một kiếp luân hồi” (12).

Trong tuỳ bút Khách xá Quy Tâm (1988) mượn tên một bài thơ Giả Đảo – Võ Phiến đã diễn tả những thay đổi trong tâm hồn người di dân đã thích ứng “an phận” với không gian mới, nhưng vẫn còn nghe những âm vang quay quắt:

    “ ” (13). 

Thật khó mà phân biệt đâu là văn xuôi, đâu là thơ, giữa tiếng hú hút hồn và tiếng sủa ăng ẳng. Có lẽ thơ ít lời và thấp giọng hơn. Đoạn văn kể trên được trích từ tập tuỳ bút Quê (1992) mào đầu bằng hai câu thơ của Tường Linh, không biết Võ Phiến moi ở đâu ra:

Dù có viết trăm ngàn trang thì tôi cũng không thêm được gì so với hai câu thơ của Tường Linh, nhà thơ cùng quê.

Thơ và văn xuôi khác nhau chỗ này chăng?

*

Võ Phiến là nhà văn của những phôi pha. Những bất hạnh nhỏ nhoi, những nguồn vui vặt vãnh, là những “ảo ảnh” trong “phù thế”. Con người trong tác phẩm Võ Phiến, nói chung vừa là nạn nhân của thời cuộc vừa chối từ lịch sử. Điều then chốt là ở đây. Nói là mâu thuẫn cũng được, nói là hệ luận cũng xong. Dùng chữ lớn lao, gọi anh là phi sử quan, phi biện chứng, nói cho gọn, gọi anh là “chống cộng”, đều được. Thiếu thời, Võ Phiến sống với bà nội và tâm sự “ ” (14a). Lịch sử, ở đây, là những chuyện cụ thể về dòng họ, làng nước do bà kể. Đời bà cụ loanh quanh với những hũ mắm cua chua mà giá trị chẳng thua gì một thư viện gồm mấy vạn cuốn sách quý, hoặc một kho tàng đồ cổ vô giá (14b). Nhìn một cách nào đó (dĩ nhiên là sai) thì Võ Phiến không phải là tác giả “trí thức”, không vận dụng vào tác phẩm tri thức và lý luận trừu tượng. Lịch sử là một khái niệm trừu tượng, mà người ta có thể đem ra thảo luận ngược xuôi, nhưng viên đạn ghim vào đùi Bốn Thôi (14c) là một thực tế không có gì đáng bàn luận.

Về sau này, nhất là từ khi xa rời đất nước từ 1975, Võ Phiến có khoảng cách, nhìn đất nước xa hơn, trong không gian và thời gian, rồi trích dẫn ca dao đất nước:

(15)

Anh không còn chăm chút vào Bồ địch Giếng Vuông của tuổi thơ nữa. Và đặc biệt trong Thơ Thẩn, Võ Phiến đã để trí tưởng lang thang “lạc đường vào triết lý”.

Thơ và văn xuôi khác nhau ở chỗ này chăng?

Xem thêm:   Tiếng Việt Lớp 2 – Bài 1 – Tập Đọc – Bé Mai Đã Lớn – Trang 10 – Sách Chân Trời Sáng Tạo

Xem thêm :  Giải thích câu ca dao “Công cha như núi ngất trời. Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông”

Nỗi nhớ đi xa hơn nữa, lần lên quá cõi trăm năm:

.

1993, tr.66

Ký ức lần theo thượng nguồn, đến thời Homo Erectus:

1994, tr.87

Lối suy tưởng xa xăm này, chúng ta chỉ mới gặp gần đây ở Võ Phiến, đặc biệt là sau những lần mổ tim. Trước kia, không thấy anh băn khoăn về nguồn gốc con người và vũ trụ, thậm chí có thể xem anh là nhà văn “phản siêu hình” thỉnh thoảng chế giễu triết gia và triết học (15) thường xuyên từng dòng từng chữ truy tìm những “… ” (14d). Chỉ sau này, ta mới gặp cảnh: “ ” (Quê, sđd, tr.77). Nhưng từ Grand Canyon, đỉnh cao lục địa, tầm nhìn lại quay về nội giới, về “ ” (sđd, tr.90-91). Ôi cái tâm sự về chiều sao mà não nùng, thê thiết. Tháng Tư năm 1975 khi lìa xa đất nước, Võ Phiến làm một bài thơ vỏn vẹn có ba câu dang dở:

(tr.30)

Ba câu này, vì một tình cờ, đã nằm trong sổ tay của tôi, do Võ Phiến ghi vào. Và cũng tình cờ mà tôi còn giữ, để bây giờ “ ” (Quê, sđd, tr.90-91).

Khách quan hơn mà nhìn, và nói chung thì thơ Võ Phiến không ảm đạm như vậy; ngược lại thường là trần gian hạnh phúc. Võ Phiến là người có khả năng quan niệm và cảm thụ hạnh phúc, có hảo ý chia sẻ hạnh phúc với đời, và bén nhạy lúc nhận diện niềm vui ở kẻ khác, tuy rằng ở văn xuôi, anh thường đùa cợt hay độ lượng trước những niềm vui đó. Trái lại, trong thơ, Võ Phiến như khoan dung với chính mình.

Hạnh phúc với Võ Phiến là sự hoà đồng, hoà hợp giữa con người và vũ trụ, tóm tắt trong một câu thơ

Con người lắng nghe, và có khả năng thấu hiểu những trăn trở của không gian, những chuyển mình mong manh nhất:

Vũ trụ có những sinh hoạt tinh thần, mà con người “đọc” được: định đến, chợt, ngập ngừng, nén hơi, toan trở mình, rón rén… tác giả nắm bắt được những ý nghĩ thầm kín của thiên nhiên. Và ngược chiều, cỏ cây cũng thấu đáo niềm bí mật của con người:

Con người và vũ trụ thậm chí còn đồng loã trong những tình cảm bất chính: thơ Võ Phiến hay ở chỗ ranh mãnh, tinh quái; cho là kinh nghiệm của văn xuôi đi nữa, thì vẫn là một sinh thú cho người đọc. Quan niệm hạnh phúc đôi khi rất đơn sơ:

Sự hoà hợp hoà đồng ấy đưa đến một câu thơ xuất sắc:

và một kết luận tuyệt vọng tuyệt trần:

1992, tr.55-57

Lịch sử loài người, tiến bộ khoa học, là quá trình bạo lực, lấn chiếm, chế ngự thiên nhiên. Nói chung, Võ Phiến không tin vào khoa học và lịch sử để mưu cầu hạnh phúc: đây là một tư tưởng thường xuyên, từ trẻ đến già, từ một xóm quê xơ xác Bình Định Giếng Vuông cho đến Los Angeles đỉnh cao kỹ thuật. Trong Thư Nhà, 1962, Chuyện Bốn Thôi, anh đã viết ngao ngán: “ ” (14e). Chúng ta không ai lạc hậu đến mức đi so sánh hiệu lực của dầu rái với Dagénan, nhưng chuyện của chúng ta nằm ở chỗ khác: ở những bàn chân, những vết chân và những bước chân, thậm chí những “ ” (Truyện Thật Ngắn, sđd, tr. 108).

Hạnh phúc là niềm vui mong manh lưu lại vài hình ảnh êm đềm trong ký ức. Mong manh, nó e ngại thời gian và ngại ngùng trước lịch sử và khoa học, những bước chân giục giã thời gian. Võ Phiến muốn lẩn trốn thời gian để gìn giữ tuổi thơ. Anh luyến tiếc thời Đường thời Tống mà anh chưa bao giờ sống, chẳng qua là để mình tự nhớ mình. Một bài thơ hay, làm từ 1947, cổ điển, tài hoa và uyên bác:

1947, tr.26

Thơ Võ Phiến còn gợi lên những niềm vui cụ thể, nồng nhiệt:

1995, tr.92

Đọc bài thơ, ta mừng tác giả – và con người – đang sống niềm hoan lạc lớn lao, nhưng đến câu cuối, chữ từng, một chữ thôi, bỗng xô toàn niềm hạnh phúc vào hoài niệm và mất mát…, cùng nhiều bài thơ khác:

1993, tr.74

Chữ Em không nhất thiết phải là một kẻ khác, một phụ nữ; có khi nó là tác giả nói chuyện với mình

1993, tr. 72

Bồ địch Giếng Vuông là nơi sinh tác giả (1925) đã để lại những hình ảnh cụ thể cho tuổi lên mười, lủi thủi, te tua, rạc cánh chuồn chuồn. Lên tuổi hai mươi, hình ảnh thơ mộng hơn, nhưng nhoè nét:

1986, tr. 35

Trong Thơ Thẩn phảng phất nỗi buồn, nhưng không bi lụy. Có lẽ nguồn vui văn chương và sức mạnh tư tưởng đã hoá giải được thân phận, tạo được nơi Võ Phiến niềm an lạc trong phong cảnh quê người:

1987, tr.40

Chúng ta mừng là Võ Phiến còn đủ tươi tắn nhìn sang ngực bà hàng xóm, nhìn con chó hít trời xanh, chắc là chó Tây – chó Việt chỉ rài ăng ẳng từ xóm cũ (1995, tr.99). Nhưng tươi tắn nhất ở cách nghịch chữ trong câu cuối, tiềm ẩn một câu khác, ý khác, một thứ ẩn tự (anagramme) theo nghĩa de Saussure (17):

Ta vẫn nói: xa tít xa tắp, thít tha, thịt thà. Ai ngăn được tôi nói: xa tít xa ta (Tôi lại nhớ bài Kẻ ở của Nguyễn Đình Tiên: ).

Võ Phiến dùng lối nghịch chữ để kết luận một bài thơ khác, bài Nghìn sau “triết lý”:

1992, tr.49-50

Chữ không hề câu trên có nghĩa chưa hề, không bao giờ. Câu cuối, chữ hề còn là một chữ đệm trong thơ cổ, trong từ và nhạc phủ, nó làm nổi bật chữ không có nghĩa là hư vô – một trong khái niệm đạo học đông phương. Trong bài Hôm qua (1994, tr.84) nói về cõi chết, tác giả lặp lại hôm qua với vần qua năm câu liên tiếp để độc giả tinh ý phải tự thêm vào dấu nặng thành “con quạ của già Poe” (1993, tr.80). Người sành điệu sẽ nhớ một câu thơ Nguyễn Giang (1910-1969): 

Tri kỷ thì nhớ bài Đêm thu nghe quạ kêu của Quách Tấn cùng quê với Võ Phiến. Người uyên bác còn liên hệ với thơ Lưu Vũ Tích thời Đường:

Ô y hạng khẩu tịch dương tà
(Đầu ngõ áo đen nhạt bóng chiều)

Tìm ra được dấu nặng thêm vào chữ qua thành quạ cũng chẳng tài giỏi gì, vì Võ Phiến đã “gợi ý” trong bài thơ xuôi Lên đường:

1994, tr.89

Về một cái dấu nặng trong hoang tưởng mà phải dài dòng, vì như tôi đã nói trong đoạn đầu “chữ nghĩa Võ Phiến buộc ta phải đề phòng cho lắm”.

Thật ra, ngôn ngữ Võ Phiến, nói chung, không quá quắt và anh cũng không đòi hỏi người đọc phải quay quắt như vậy.

Cùng trong đề tài hạnh phúc phôi pha của trần gian, anh có những bài thật hay và đơn giản như Tạ từ thân xác:

(…)

1986, tr.36, 37, 38

Nguồn vui hoà tan trong lời thơ, hoá giải thân phận sau khi hoà giải với hình hài. Người đọc vui lây vì thấy Võ Phiến không còn lo “”, và ngược lại an vui trong cảnh tạm dung, người tạm trú.

Văn chương, nghệ thuật là những bàn tay, vô hình hay cụ thể, đã dẫn dắt Võ Phiến lân la, thơ thẩn ven bờ bi kịch. Nhân vật, những đứa con tinh thần của Võ Phiến, thường xuyên sống bi kịch. Họ tìm cách đào vong, cách này hay cách khác nhưng ít khi thoát khỏi nanh vuốt của số mệnh mang tên là Lịch sử. Trong những bi kịch Việt Nam, Lịch sử còn tàn nhẫn hơn Thần Linh trong huyền thoại La Hy. Vì Lịch sử vừa là thực chất vừa là huyền thoại: đánh người đánh cả hai tay. Thần Linh chỉ có quyền uy và bạo lực, Lịch sử còn nhân danh công lý và đạo lý. Trẻ Tạo Hoá chỉ mới đành hanh, Già Lịch Sử cay nghiệt, không bao giờ lơ đãng.

Sống lìa xa quê hương là một bất hạnh. Nhưng nhờ luật bù trừ, nỗi bất hạnh lớn đó, thỉnh thoảng có mang ít nhiều an ủi. Xa vùng sấm sét, con người thỉnh thoảng nhìn về, bắt gặp một khoảng trời xanh, có khi điểm vài ánh sao li ti. Xa xứ, dường như cái nhìn Võ Phiến rộng rãi, bao dung hơn, nhất là với thời gian

Xem thêm:   Các tính năng, ưu điểm và nhược điểm của chủ nghĩa cộng sản nguyên thủy / Kinh tế

Xem thêm :  Soạn bài Kiểm tra về thơ và truyện hiện đại lớp 9 ngắn nhất

1993, tr.69

Giải thoát nhờ huyền học phương đông, Võ Phiến còn sống lại nguồn vui hồn nhiên của dân gian Việt Nam, như lời ca dao:

Lối nhìn, lối nói phúng thế theo kiểu dân gian – hay Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến… xưa kia – ta vẫn gặp trong văn xuôi Võ Phiến. Nhưng lối châm biếm thường cay chua, thậm chí còn độc ác. Trong Thơ Thẩn, lời đùa vui đối với bản thân có tính cách hoà giải, phóng túng, bằng hữu, như bài Đáp bạn Chu Ly, về thân phận người di tản:

1993, tr.59-60

Bài thơ cũng như bài Đọc thơ Đường đã dẫn, hay một cách “chuyên nghiệp”, không thuộc vào dòng “thơ thẩn” như Võ Phiến tự nhận về sau… Võ Phiến có tài làm thơ và sớm thành tựu về thơ, nhưng anh đã chọn văn xuôi làm bút pháp, âu cũng là một chọn lựa căn cơ và chính đáng. Vì văn xuôi rộng đường đi hơn, hợp với xã hội Việt Nam hơn, có quần chúng đông đảo và lâu bền hơn. Ngoài ra, ta có thể làm thơ khi viết văn xuôi – truyện ngắn, tuỳ bút, thậm chí phê bình – khi đó văn xuôi sẽ được nâng cấp. Ngược lại thì không xong: viết văn xuôi khi làm thơ ngang phè, prosaïque, thơ bị xuống cấp. Nguyên Hồng làm thơ hay, nhưng sự nghiệp đồ sộ của ông là văn xuôi. Ngược lại, Xuân Diệu viết truyện hay, nhưng chủ yếu là nhà thơ về mặt sáng tác. Tuy nhiên, làm thơ khi luống tuổi để cô đúc một số cảm xúc, tư tưởng là một việc chính đáng. Mai Thảo cũng vậy, về già chỉ làm thơ. Trên tạp chí Thơ số mới nhất, Thanh Tâm Tuyền có tiết lộ là Mai Thảo 1955 bước vào văn học với một bài thơ xuất sắc ký bút hiệu Nhị (18) nhưng sau đó dồn nghị lực vào văn xuôi. Và đặc sắc trong văn xuôi Mai Thảo là chất thơ. Điều này vẫn đúng đối với nhiều nhà văn phương Tây. Tại Pháp, trong kỳ thi tuyển giáo viên trung học (CAPES) năm nay (3-1998) thí sinh phải bình giải một đoạn văn của Michel Butor, đại ý như sau:

“” (19).

Nói chuyện dông dài về thơ – truyện Võ Phiến, sang cả Nguyên Hồng, Mai Thảo, là cũng muốn mượn cơ hội nêu lên một vấn đề lý thuyết phổ thông, cơ bản và hiện đại.

Nhưng trong thực tiễn sáng tạo, hiện tượng ấy đã xảy ra ra sao?

Mới đây, Võ Phiến đã kể lại một kinh nghiệm – không nhất thiết của bản thân – trong một tuỳ bút có tính hoạt kê (1990): một người cao hứng, làm thơ ca ngợi ngày chủ nhật, nhưng được dăm câu thì cụt hứng:

” (20).

Cái ống thổi lửa – nói cho ngay – nó quả chưa có dịp đi vào thơ văn. Nó chưa “đi vào” đâu cả”. Trong Hồng Đức quốc âm thi tập có thơ về cái bếp, ông táo, cái rế nhưng không thấy ống thổi lửa. Nhưng là tứ thơ, nó có lố bịch, lếu láo không? Võ Phiến đã chứng minh là không, trong một đoạn văn xuôi đầy ắp chất thơ: “ ” (20).

Trong sự thưởng ngoạn (quê mùa) của tôi, đây là một đoạn văn xuôi đặc sắc dạt dào thi tính. Một chất thơ mật thiết, đến từ cuộc đời làm bằng những tương quan cụ thể giữa trần gian: ống tre, cườm tay, miệng, hơi thở truyền hơi thở con người vào đời sống thiên nhiên “ ”. Ngọn lửa, ánh sáng và hơi ấm, là sự sống bùng lên từ hơi thở – thường là hơi thở của một người đàn bà, phà sức sống vào cành khô củi chết, vào tro tàn than lạnh:

1993, tr. 78.

Một hình tượng như vậy không thi vị, thậm chí không thiêng liêng sao? Ấy thế mà cái ống thổi lửa thân mật thân thiết đã bị lãng quên trong một xó ký ức không được một tia sáng lịch sử văn hoá nào soi tới. Phải đợi Võ Phiến nhắc lại ta mới sống lại trong lòng bàn tay, ở đầu hơi thở một thoáng dịu dàng, ấm áp đã xa xăm. Võ Phiến là thi sĩ trong văn xuôi, thi sĩ của trần gian. Là thi sĩ. Đọc và nghiên cứu về thơ trong nhiều năm, tôi đã gặp nhiều định nghĩa, hùng hồn và uyên bác. Riêng với Võ Phiến, tôi dám hạ bút: “Thơ là ống thổi lửa” mà không sợ mấy chữ “lố bịch, lếu láo” anh đã dùng. Đời là ống thổi lửa. Triết lý chăng?

*

Thơ Thẩn, thi tập của Võ Phiến, không phải là biến cố văn học. Tác giả không muốn vậy, chỉ xem như là một bó cỏ gửi đến bạn bè. Bên ngoài tình cố cựu, tôi đặc biệt lưu ý đến giá trị văn học của tập thơ. Trước tiên, nó đúc kết kinh nghiệm một đời văn, về mặt xúc cảm, tâm tình, suy nghĩ và hành văn. Một đời văn dồi dào, súc tích, đa dạng. Và chìm nổi. Tác phẩm Võ Phiến, ngay từ đầu, đã mang nhiều đặc tính dân tộc – nhưng ở cục bộ: thân phận con người, cá nhân và địa phương. Trong Thơ Thẩn, tình tự dân tộc rộng hơn, xuề xoà, xởi lởi. Một thứ minh triết chân quê. Một triết thàng (*). Làm nhớ một Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến lúc lui về sống trong làng.

Tưởng không giấu được ai: tôi viết về Võ Phiến vì chút tình riêng. Không phải là chuyện văn nghệ. Chỉ vì văn nghệ, tôi không đọc như vậy, không thấy và không viết như đang viết. Giữa con người với nhau dường như có cái gì quý hơn, sâu hơn, bền hơn văn chương.

Mở đầu tập tuỳ bút (1962), Võ Phiến viết: “”.

Ở đây, là ở đây:

Đặng Tiến,

7.-02 – 18.-4.1998

Đọc lại, 09-01-2007.

(1) Thơ Thẩn, nhà xuất bản An Tiêm, Paris 1997, 70 FF. Địa chỉ liên lạc: 14 villa des Acacias, 202 rue d’Epinay, 95360 Montmagny.

(2) Xuân Diệu, Thơ Thơ, Đời Nay, Hà Nội, 1938, tái bản nhiều lần.

(3) Hồ Lê, Vấn đề cấu tạo từ, tr 216, 80 và 203, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976.

(4) Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt, nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 82.

(5) Hứa Văn Hoành, Từ láy trong tiếng Việt, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985.

(6) Võ Phiến, Truyện ngắn Văn chương, báo Văn Học, California, số Xuân Đinh Sửu, 1997, tr.6.

(7) Báo Sàigòn Văn Chương, 25.11.1935.

(8) Xuân Diệu (viết về Thế Lữ) trong Tuyển tập Thế Lữ, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1983, tr. 597.

(9) Đỗ Kh., tạp chí Thơ, California, số 9, 1997, tr. 42.

(10) Đỗ Kh., tạp chí Thơ, số 10, 1997, tr. 38 (Chàng còn viết “luận về thơ pả hi vần pả hi vèo” – pả hi: từ “phải” in… quấy!)

(11) Đêm Xuân trăng sáng, nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng, Sài Gòn, 1961, tr. 310 và 319. In lại trong Tuyển tập, nhà xuất bản Văn Nghệ, California, 1987, tr. 11 và 17.

(12) Truyện thật ngắn, nhà xuất bản Văn Nghệ, California, 1991, tr.7.

(13) Quê, nhà xuất bản Văn Nghệ, 1992, tr. 92.

(14) Thư Nhà, Thời Mới, Saigon 1962, lần lượt: (a) tr. 134, (b) 130, (c) 145, (d) 35, (e) 106.

(15) Chim và rắn, trong Truyện ngắn II, Văn Nghệ, California, 1987, tr 295.

(16) Lại thư gửi bạn, Người Việt, California, 1979, tr 7.

(17) Jean Starobinsky, Les mots sous les mots, Gallimard, Paris, 1971.

(18) Tạp chí Thơ số 12, 1998, tr.7. Mai Thảo tên thật là Nguyễn Đăng Quý sinh 8.6.1927 tại Nam Định, mất ngày 10.1.1998 tại California. Tác phẩm cuối là tập thơ Ta thấy hình ta những miếu đền, nhà xuất bản Văn Khoa, California, 1989.

(19) Répertoire II, Minuit, Paris 1964, tr. 7, dẫn theo đề thi CAPES.

(20) Sống và Viết, nxb Văn Mới, California, 1996, tr. 33-34-35. 7.2.1998

(Văn Học số 234 tháng 11&12/2007, số đặc biệt về Võ Phiến)

(*) thàng: thường (thổ ngữ Bình Định – Đặng Tiến chú, 8/2020)

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Giáo Dục

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button