Kiến Thức Chung

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ tố hữu qua năm tập thơ từ ấy, việt bắc, gió lộng, ra trận, máu và hoa

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ tố hữu qua năm tập thơ từ ấy, việt bắc, gió lộng, ra trận, máu và hoa

docx – 124 trang

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

KHOA NGỮ VĂN

 

Tiểu Luận

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình

trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ :

Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa

GVHD: Thầy Bạch Văn Hợp

Nhóm thực hiện: Nhóm 3

Thành phố Hồ Chí Minh – 10/2016

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

KHOA NGỮ VĂN

 

Tiểu Luận:

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình

trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ :

Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa

Danh sách thành viên nhóm

Phan Hồ Nhật Khanh

K40.601.053

Lê Phan Thanh Nhàn

K40.601.097

Trần Thị Thanh Đoan

K40.601.026

Đậu Thị Trang

K40.601.130

Thành phố Hồ Chí Minh – 10/2016

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………………………………………1

1. Dẫn nhập………………………………………………………………………………………….1

2. Bố cục tiểu luận…………………………………………………………………………………2

PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………………………………..4

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ………………………………………………4

1.1. Vài nét về tác giả Tố Hữu…………………………………………………………….4

1.1.1. Cuộc đời nhà thơ Tố Hữu……………………………………………………….4

1.1.2. Những yếu tố chính tác động đến hồn thơ Tố Hữu…………………….6

1.2. Giới thiệu các tập thơ “Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”,

“Máu và hoa”……………………………………………………………………………………8

1.2.1. Tập thơ “Từ ấy”…………………………………………………………………….8

1.2.2. Tập thơ “Việt Bắc”………………………………………………………………10

1.2.3. Tập thơ “Gió lộng”………………………………………………………………13

1.2.4. Tập thơ “Ra trận”………………………………………………………………..17

1.2.5. Tập thơ “Máu và hoa”………………………………………………………….19

1.3. Cơ sở lý thuyết………………………………………………………………………….21

1.3.1. “Cái tôi”……………………………………………………………………………..21

1.3.2. “Cái tôi” trữ tình………………………………………………………………….22

CHƯƠNG 2: “CÁI TÔI” TRỮ TÌNH CỦA TỐ HỮU QUA NĂM TẬP THƠ

“TỪ ẤY”, “VIỆT BẮC”, “GIÓ LỘNG”, “RA TRẬN”, “MÁU VÀ HOA”. .24

2.1. “Cái tôi” trữ tình trong giai đoạn trước 1945 (qua tập thơ “Từ ấy”). . .24

2.1.1. “Cái tôi” giác ngộ lí tưởng cách mạng và say mê đấu tranh cho lí

tưởng cộng sản…………………………………………………………………………….24

2.1.2. “Cái tôi” thể hiện niềm cảm thương và đồng cảm cho số phận

những người “dưới đáy” xã hội………………………………………………………29

2.1.3. “Cái tôi” mang cảm hứng lãng mạn, lạc quan, yêu đời và say sưa

trước niềm vui bất tuyệt của độc lập tự do……………………………………….34

2.2. “Cái tôi” trữ tình trong giai đoạn sau 1975 (qua các tập thơ “Việt Bắc”,

“Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”)………………………………………………..41

2.2.1. “Cái tôi” thể hiện sự say mê với lý tưởng chiến đấu…………………41

2.2.2. “Cái tôi” bộc lộ sự vui sướng trước những chiến công oanh liệt,

những con người can trường………………………………………………………….43

2.2.3. “Cái tôi” mang niềm vui và tinh thần lạc quan trước thành quả

cách mạng và những thành tựu buối đầu của công cuộc xây dựng cuộc

sống mới xã hội chủ nghĩa…………………………………………………………….49

2.2.4. “Cái tôi” là tiếng nói kêu gọi đấu tranh giải phóng miền Nam,

thống nhất đất nước………………………………………………………………………55

2.2.5. “Cái tôi” tự hào trước chiến thắng lịch sử 1975 và đất nước Việt

Nam anh hùng……………………………………………………………………………..59

2.2.6. “Cái tôi” bộc lộ sự chân thành đối với chủ nghĩa vô sản và tình

cảm bạn bè quốc tế……………………………………………………………………….63

2.3. Sự vận động của “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua các giai đoạn

………………………………………………………………………………………………………68

2.4. Phương thức biểu hiện……………………………………………………………….73

2.4.1. Đề tài ………………………………………………………………………………..73

2.4.2. Hình tượng nhân vật…………………………………………………………….75

2.4.3. Hình ảnh…………………………………………………………………………….89

2.4.4. Thể thơ………………………………………………………………………………96

CHƯƠNG 3: SO SÁNH “CÁI TÔI” TRỮ TÌNH TRONG THƠ TỐ HỮU GIAI

ĐOẠN TRƯỚC 1975 VÀ GIAI ĐOẠN SAU 1975…………………………………..102

PHẦN KẾT LUẬN……………………………………………………………………………….113

THƯ MỤC THAM KHẢO…………………………………………………………………….116

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ

“Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Dẫn nhập

Khi bàn về thơ ca trữ tình ta không thể không nhắc tới “cái tôi trữ tình”.

Theo Nguyễn Minh Sơn “Cái tôi trữ tình là một “hiện tượng nghệ thuật”, là cơ

sở cho hình tượng nhân vật trữ tình, là phương tiện để cho con người cảm thấy

sự tồn tại của họ. Cái tôi nâng con người cao hơn bình thường, hướng con

người đến một lí tưởng nào đó và là cầu nối giữa vô thức và hữu thức” [1]. Thế

kỉ XX thơ ca Việt Nam xuất hiện thêm một dạng thức của cái tôi trữ tình là “cái

tôi trữ tình cách mạng”. Cái tôi ấy là cái tôi của cộng đồng rộng lớn, thường

được hòa tan trong tiếng nói chung, tiếng nói của những con người chung hoàn

cảnh, cùng số phận, chí hướng là lời ca của những con người yêu lí tưởng, yêu

quê hương, yêu cuộc đời.

Thơ Tố Hữu là một biểu hiện của cái tôi trữ tình phong phú, đa dạng.

Chính cái tôi đó đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ thơ rất đỗi trữ tình. Nó có

sự hài hòa, hoàn chỉnh giữa cá nhân và tập thể, là tiếng nói của cả cộng đồng

được lòng qua một cái bản ngã. Chính cái tôi đặc sắc đó đã đem tên tuổi Tố Hữu

lên một tầm cao vĩ đại, trở thành “ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng”. Do vậy

các nhà nghiên cứu đều nhất trí cho rằng thơ Tố Hữu là sự kiện văn học quan

trọng trong lịch sử văn học Việt Nam và đã có rất nhiều nhà phê bình văn

chương đã chọn thơ ông làm đề tài nghiên cứu.

Dù rất được chú trọng tìm hiểu tuy nhiên chúng tôi nhận ra rằng những

bài viết về thơ Tố Hữu còn rất hạn chế về mặt dung lượng và hầu như chỉ lướt

qua một số vấn đề lớn, còn cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu thì gần như chưa

được khai thác nhiều, các bài viết chưa thật sự hoàn chỉnh sắc sảo. Ở tiểu luận

này chúng tôi ý thức được rằng cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu là một đề tài

rộng lớn chính vì vậy chúng tôi sẽ chỉ nhận diện và miêu tả cái tôi trữ tình trong

1

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ

“Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”

thơ ông qua năm tập thơ tiêu biểu là: “Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra

trận”, “Máu và hoa”.

Không tham vọng có thể làm rõ được mọi vấn đề liên quan đến cái tôi trữ

tình trong thơ Tố Hữu, vì vậy, trong tiểu luận này, chúng tôi chỉ tập trung vào

nhận diện và miêu tả cái tôi trữ tình thơ Tố Hữu qua năm tập thơ lớn nêu trên.

Với mong muốn đem đến cho những người quan tâm đến thơ Tố Hữu có thêm

cái nhìn cận cảnh, mới mẻ về cái tôi trữ tình trong thơ ông trước, trong và sau

thời kì cách mạng, chúng tôi xin đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình

vào công việc nghiên cứu thơ ca Tố Hữu – vốn là một công việc cần thiết, hấp

dẫn và rất đáng được quan tâm hiện nay.

2. Bố cục tiểu luận

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, bài luận gồm ba chương:

Chương 1:

Chương này nêu khái quát về cuộc đời, sự nghiệp và các yếu tố ảnh

hưởng đến hồn thơ Tố Hữu và giới thiệu về các tập thơ “Từ ấy”, “Việt Bắc”,

“Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”. Đồng thời đề cập những nét chính về “cái

tôi” và “cái tôi” trữ tình

Chương 2:

Chương này làm rõ và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua

năm tập thơ “Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa” cùng các

biểu hiện.

Chương 3:

Chương này chỉ ra những điểm tiếp nối và thay đổi của “cái tôi” trữ tình

thơ Tố Hữu trong hai thời kì là trước và sau khi đất nước ta giành được độc lập

Xem thêm :  Cách khắc phục lỗi không tìm thấy wifi sau khi cập nhật windows 10

2

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ

“Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”

Xem thêm:   Hướng Dẫn Từ A Đến Z Cách Tải Nhạc Về Thẻ Nhớ Trên Máy Tính Đơn Giản

nhằm thấy được sự chuyển mình, đổi mới và những điều làm nên nét đặc sắc

riêng của tác giả.

3

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ

“Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Vài nét về tác giả Tố Hữu

1.1.1. Cuộc đời nhà thơ Tố Hữu

Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4/10/1920 tại làng Phù

Lai, huyện Quảng Ðiền, tỉnh Thừa Thiên (nay là Thừa Thiên Huế). Ông là một

nhà thơ tiêu biểu của thơ cách mạng Việt Nam, đồng thời là một chính trị gia.

Cha ông là một nhà nho nghèo, không đỗ đạt và phải kiếm sống rất chật

vật nhưng lại thích thơ, thích sưu tập ca dao tục ngữ. Ông đã dạy Tố Hữu làm

thơ cổ. Mẹ ông cũng là con của một nhà nho, thuộc nhiều ca dao dân ca Huế và

rất thương con. Cha mẹ đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn thơ Tố Hữu. Mẹ ông

mất vào năm ông lên 12 tuổi. Năm 13 tuổi, ông vào trường Quốc học Huế. Tại

đây, được trực tiếp tiếp xúc với tư tưởng Cộng sản qua sách báo tiến bộ của

Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh, Goocki… kết hợp với sự vận động, giác

ngộ của các Ðảng viên ưu tú bấy giờ (Lê Duẩn, Phan Ðăng Lưu, Nguyễn Chí

Diểu), người thanh niên Nguyễn Kim Thành sớm nhận ra lý tưởng đúng đắn.

Gia nhập Ðoàn thanh niên, hăng hái hoạt động, được kết nạp Ðảng năm 1938.

Tháng 4/1939, Tố Hữu bị bắt, bị tra tấn dã man và đày đi nhà lao Thừa

Phủ (Huế) rồi chuyển sang nhà tù Lao Bảo (Quảng Trị) và nhiều nhà tù khác ở

Tây Nguyên. Trong tù, người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi luôn giữ vững khí tiết,

tiếp tục hoạt động cách mạng ở mọi hoàn cảnh.

Cuối 1941, ông vượt ngục, về hoạt động bí mật ở Hậu Lộc – Thanh Hóa.

Khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ, Tố Hữu là Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa của

thành phố Huế. Năm 1946, nhà thơ giữ chức bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa. Cuối

1947, ông lên Việt Bắc làm công tác văn nghệ, tuyên huấn. Từ đó, nhà thơ luôn

4

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ

“Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”

giữ những trọng trách trong công tác văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo Ðảng và

nhà nước:

 1948: Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam

 1952: Giám đốc Nha Tuyên truyền và Văn nghệ thuộc Thủ tướng

phủ

 1954: Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền

 1963: Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam

 Tại đại hội Đảng lần II (1951): Ủy viên dự khuyết Trung ương

 1955: Ủy viên chính thức

 Tại đại hội Đảng lần III (1960): vào Ban Bí thư

 Tại đại hội Đảng lần IV (1976): Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí

thư Ban chấp hành Trung ương, Trưởng ban Tuyên truyền Trung

ương, Phó Ban Nông nghiệp Trung ương

 Từ 1980: Ủy viên chính thức Bộ Chính trị

 1981: Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, rồi Phó Chủ tịch thứ nhất

Hội đồng Bộ trưởng cho tới 1986. Ngoài ra ông còn là Bí thư Ban

chấp hành Trung ương

Ngoài ra, ông từng đảm nhiệm nhiều chức vụ khác như Hiệu trưởng

Trường Nguyễn Ái Quốc, Trưởng ban Thống nhất Trung ương, Trưởng ban

5

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ

“Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”

Tuyên huấn Trung ương, Trưởng ban Khoa giáo Trung ương. Ông còn là Đại

biểu Quốc hội khoá II và VII.

Trong thời gian phụ trách mảng văn nghệ, ông là người đã phê phán quyết

liệt phong trào Nhân văn – Giai phẩm (1958). Nhiều ý kiến coi ông là tác giả

chính của vụ án văn nghệ – chính trị này. Sau khi Lê Duẩn mất, có sự thay đổi

mạnh mẽ tiến tới đổi mới nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế toàn diện. Ông

bị mất uy tín vì vai trò “nhà thơ đi làm kinh tế” qua những vụ khủng hoảng tiền

tệ những năm 1980 nên bị miễn nhiệm mọi chức vụ, chỉ còn làm một chức

nghiên cứu hình thức.

Năm 1996, ông được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về

Văn học nghệ thuật (đợt 1).

Tố Hữu mất lúc 9 giờ 15 phút 7 giây, ngày 9 tháng 12 năm 2002 tại Bệnh

viện 108.

1.1.2. Những yếu tố chính tác động đến hồn thơ Tố Hữu

Nhắc đến cái tôi trữ tình của Tố Hữu, chắc hẳn chúng ta sẽ không thể chối

cãi được chính quê hương là nơi ươm mầm cho hồn thơ dạt dạt dào tình cảm ấy,

bởi lẽ xứ Huế mang trong mình một vẻ đẹp đầy thơ mộng, lại có truyền thống

văn hóa lâu đời. Quê hương – nơi chôn nhau cắt rốn bao giờ cũng là nơi có ảnh

hưởng lớn đến cuộc đời của mỗi con người, và với nhà thơ Tố Hữu điều đó cũng

không phải là ngoại lệ. Xứ Huế mộng mơ, hữu tình, nên thơ dường như cũng đi

vào lòng người, vào trái tim, đem đến cho người nghệ sĩ sự rung động với cuộc

đời từ rất sớm. Đây là một vùng đất có thiên nhiên nhiên nên thơ, cũng là một

vùng đất nhiều truyền thống văn hóa, kể cả văn hóa dân gian và văn hóa cung

đình. Trong các sáng tác của Tố Hữu ta không ít lần bắt gặp những câu thơ như:

Huế ơi, quê mẹ của ta ơi!

6

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ

“Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”

Nhớ từ ngày xưa, tuổi chín mươi

Mây núi hiu hiu, chiều lặng lặng

Mưa nguồn gió biển, nắng xa khơi…

(Quê mẹ – “Gió lộng”)

Huế là quê hương, là cội nguồn dân tộc, là nơi chất chứa bao kỉ niệm và

cũng là nơi vun đắp tình yêu cho những người con với trái tim đôn hậu một tình

cảm nồng nhiệt với đất nước, quê hương.

Nền tảng gia đình cũng chính là động lực thôi thúc chất trữ tình trong thơ

của Tố Hữu. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn hóa và sinh

hoạt tinh thần phong phú. Thân sinh ông là một nhà nho nghèo nhưng yêu thơ,

hay sưu tầm ca dao, tục ngữ. Mẹ ông là con gái trong một gia đình nhà Nho,

cũng yêu ca dao, dân ca xứ Huế và giàu lòng thương con. Yếu tố truyền thống

văn hóa gia đình đã sớm định hình trong ông tình yêu với văn học và ngôn ngữ

dân tộc. Ta bắt gặp điều nay trong những tác phẩm của ông, khi ông thường

xuyên sử dụng lồng ghép các thể thức văn học dân gian trong sáng tác của

mình. Những bài thơ lục bát mang cả sắc thái lục bát ca dao và lục bát cổ điển,

dạt dào những âm hưởng nghĩa tình của hồn thơ dân tộc. Chẳng hạn như trong

bài thơ nổi tiếng “Việt Bắc”, Tố Hữu sử dụng thể thơ lục bát cùng kết cấu đối

đáp dân gian quen thuộc:

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

(Việt Bắc – “Việt Bắc”)

7

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ

“Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”

Xem thêm:   Tài nói chuyện và sự im lặng- Giá Trị Đích Thực Bí Quyết Thành Công

Xem thêm :  Kinh nghiệm trình bày bài giới thiệu bản thân theo mẫu

Như vậy, ta thấy rằng yếu tố truyền thống văn hóa gia đình và sinh hoạt

tinh thần phong phú đã góp phần định hướng và ảnh hướng lớn đến thơ Tố Hữu.

Bên cạnh đó, trong giai đoạn trước 1945, nhà thơ còn chịu ảnh hưởng của phong

trào Thơ Mới đương thời về hình thức thơ ca.Trong sự nghiệp sáng tác của mình

Tố Hữu có tiếp thu những tinh hoa của phong trào Thơ mới như những tiến bộ

về mặt thể thơ, về đề tài. Những bài thơ theo thể thất ngôn trang trọng nhưng

không khuôn sáo, trái lại, hơi thơ rất liền mạch, tự nhiên, diễn tả được hiện thực

đa dạng và nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau. Điểm nổi bật của Tố Hữu so với

các nhà thơ đương thời là ông chịu tiếp cận cái mới, biến cái mới sao cho phù

hợp với nền tảng và nét đẹp văn hóa dân tộc. Chính yếu tố này đã tạo nên sự

thành công của nhà thơ trong sự nghiệp văn chương.

Năm 13 tuổi Tố Hữu vào học tại trường Quốc học Huế, tại đây ông được

tiếp xúc với lí tưởng Cộng sản và nhận ra lí tưởng đúng đắn. Tố Hữu sớm giác

ngộ Cách mạng và hăng say hoạt động, kiên cường đấu tranh trong các nhà tù

thực dân. Thơ ca Tố Hữu gắn liền và phản ánh phong trào đấu tranh giành độc

lập dân tộc. Mỗi bước biến chuyển trong thơ ông đều gắn liền sự nghiệp cách

mạng của đất nước. Quãng thời gian học tập tại trường Quốc học Huế, được tiếp

cận với sách báo tiến bộ của Mác và Ănghen đã ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp

sáng tác của nhà thơ trong việc định hướng nội dung, tư tưởng cho các tác

phẩm. Như vậy, ảnh hưởng của sách báo tiến bộ, của phong trào cách mạng, của

Đảng cũng là một yếu tố góp phẩn hình thành nên cái tôi trữ tình đặc sắc của tác

giả.

8

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ

“Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”

1.2. Giới thiệu các tập thơ “Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”,

“Máu và hoa”

1.2.1. Tập thơ “Từ ấy”

Tâp thơ “Từ ấy” (1937 – 1946) là chặng đường đầu mười năm thơ của Tố

Hữu, cũng là mười năm hoạt động sôi nổi, say mê từ giác ngộ qua thử thách đến

trưởng thành của người thanh niên cách mạng trong một giai đoạn lịch sử diễn

ra nhiều biến cố to lớn làm rung chuyển và thay đổi xã hội Việt Nam.

Tập thơ gồm ba phần tương ứng với ba chặng đường trong mười năm đầu

hoạt động của người thanh niên cách mạng là Máu lửa, Xiềng xích và Giải

phóng.

Máu lửa gồm hai mươi bảy bài, được viết từ cuối năm 1937 đến đầu năm

1939. Trong thời gian này mặt trận Đông Dương phát triển mạnh dưới sự lãnh

đạo của Đảng cộng sản Đông Dương, đồng thời đây cũng là những năm tháng

mà trên thế giới phong trào chống phát xít bảo vệ dân chủ và hòa bình diễn ra

sôi nổi. Máu lửa là tiếng lòng náo nức của một tâm hồn trẻ đang băn khoăn đi

tìm lẽ sống thì gặp gỡ ánh sáng lí tưởng. Có thể thấy qua bài Từ ấy

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim…

Ánh “Mặt trời chân lí chói qua tim” ấy đã giúp nhà thơ nhận rõ được

những áp bức, bất công trong xã hội, cảm thông sâu sắc với số phận những

người lao động nghèo khó và khơi dậy lòng căm thù giặc, ý chí đấu tranh, niềm

tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp.

9

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ

“Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”

Nếu Máu lửa khắc họa một tâm hồn trẻ reo vui vì đã gặp gỡ được ánh

sáng lí tưởng thì Xiềng xích lại ghi tạc cuộc đấu tranh gay go của người chiến sĩ

cách mạng trong nhà tù thực dân, mặc dù kề cận bên cái chết mà vẫn gửi những

lời trăng trối đầy tin tưởng cho đời. Xiềng xích với ba mươi bài thơ đã thể hiện

sự trưởng thành, vững vàng của người thanh niên vượt qua bao thử thách nguy

hiểm, khó khăn gian khổ, đồng thời bộc lộ một tâm hồn tha thiết yêu đời, mong

muốn một ngày mai tự do, một tương lai tốt đẹp.

Giải phóng là những bài thơ được sáng tác sau khi tác giả thoát khỏi nhà

tù thực dân, tiếp tục hoạt động cách mạng và những ngày đất nước vui tươi,

phấn khởi trong niềm vui độc lập sau khi Cách mạng tháng tám thành công.

Phần này gồm mười bốn bài là sự ca ngợi nồng nhiệt của nhà thơ đối với thắng

lợi của cách mạng, nền độc lập, tự do của tổ quốc, là sự ngất ngây trong niềm

hạnh phúc với cảm hứng lãng mạn trào dâng trước cuộc đổi thay vĩ đại của dân

tộc.

“Từ ấy” là tập thơ đánh dấu mười năm thơ đầu của Tố Hữu, đây là tập thơ

hết sức độc đáo và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc như Đặng Thai Mai đã từng

nhận định rằng: “Từ ấy là tiếng nói cáo trạng nhân danh phẩm giá của con người

lao khổ, nhân danh chủ nghĩa nhân đạo để chống với một chế độ tàn bạo, nhân

danh cái đẹp của thiên nhiên và nghệ thuật của chân lí để phản công cái xấu, cái

giả dối”.

1.2.2. Tập thơ “Việt Bắc”

Hầu hết các bài trong tập thơ “Việt Bắc” được sáng tác trong những năm

kháng chiến chống Pháp và đã được xuất bản trên báo chí trước khi in thành tập

lần đầu tiên vào năm 1954.

Trong lần in đầu tiên năm 1954, tập thơ “Việt Bắc” gồm 24 bài với bài

đầu tiên là Cá nước, sáng tác năm 1947 và kết thúc với bài Lại về, sáng tác năm

10

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ

“Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”

1954. Tập thơ cũng có 6 bài thơ dịch, bao gồm thơ của Louis Aragon (Pháp),

Konstantin Mikhailovich Simonov (Nga), thơ kháng chiến của Nam Tư và thơ

tuyệt mệnh của ông bà Rosenberg (Mỹ).

Trong những lần in sau đó, tập thơ “Việt Bắc” được bổ sung thêm 4 bài

Đêm xanh, Lạnh lạt, Tình khoai sắn, Trường tôi, sáng tác vào năm 1946.

Về nội dung, tập thơ đã nhấn mạnh cái ta chung của dân tộc, của giai cấp,

như một bản hợp ca của cả một dân tộc anh hùng không chịu khuất phục trước

bất kì kẻ thù nào, trước bất kì khó khăn gian khổ nào để giành được độc lập tự

do. Bản hợp ca đó được xây dựng trên một nền trữ tình phong phú, nổi bật là

hình tượng quần chúng nhân dân kháng chiến. Nhà thơ tập trung thể hiện hình

ảnh những con người đại diện cho quần chúng với những chi tiết bình dị mà

chân thực của cuộc sống, trong mọi hoạt động kháng chiến với tâm tình, ý nghĩ

và tiếng nói của họ. Đó là anh vệ quốc quân đã làm nên chiến thắng Việt Bắc

vang dội:

Giọt giọt mồ hôi rơi

Trên má anh vàng nghệ

Anh Vệ quốc quân ơi

Sao mà yêu anh thế!

(Cá nước)

Là những người mẹ nông dân chất phác gắn bó tình nghĩa với kháng

chiến, hòa làm một tình thương yêu con với lòng yêu nước:

Bao bà cụ từ tâm như mẹ

Yêu quý con như đẻ con ra.

11

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ

Xem thêm :  Những câu nói hay về đàn ông đểu ❤️️ lăng nhăng hay

“Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”

Xem thêm:   Tập làm văn lớp 2 – Tuần 32 – Sách Tiếng Việt 2 trang 123

Cho con nào áo nào quà

Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi.

(Bầm ơi)

Là em bé liên lạc hồn nhiên, anh dũng ngã xuống trên cánh đồng quê

tháng mười dưới làn đạn giặc mà linh hồn và hình ảnh của em vẫn còn mãi với

quê hương đất nước:

Cháu nằm trên lúa

Tay nắm chặt bông

Lúa thơm mùi sữa

Hồn bay giữa đồng

(Lượm)

Mặt khác, là tập hùng ca của kháng chiến toàn dân tám năm ròng rã chống

bọn xâm lăng, “Việt Bắc” phản ánh đầy đủ con đường chiến đấu gian lao và sự

trưởng thành của dân tộc Việt Nam qua những dấu ấn, hình ảnh về cuộc kháng

chiến. Đó là tiếng hát mở đường (bài Phá đường); tiếng hò kéo pháo lên chiến

dịch (bài Voi); nỗi lòng bà mẹ nhớ con (bài Bầm ơi); nguồn sáng nơi căn nhà của

cụ Hồ (bài Sáng tháng năm); bước chân người chiến sĩ vào trận tuyến nơi núi

rừng Tây Bắc (bài Lên Tây Bắc); niềm hân hoan trước chiến công lừng lẫy tại

Điện Biên Phủ (bài Hoan hô chiến sĩ Điện Biên); niềm vui chiến thắng và hòa

bình trên bước đường đi tới (bài Ta đi tới); nỗi nhớ nhung và lời hẹn ước giã từ

thủ đô gió ngàn (bài Việt Bắc)…

Một trong những điểm nổi bật của tập thơ là sự khắc họa chân thực những

nhân vật văn học đại diện cho các tầng lớp nhân dân Việt Nam kháng chiến,

những con người mới của thời đại mới, mà nổi bật trong đó là hình ảnh Hồ Chí

12

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ

“Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”

Minh hiện thân cho tinh hoa và trí tuệ của dân tộc. Về mặt nghệ thuật, các bài

thơ trong thi tập sử dụng nhiều thể thơ như thơ tự do, thơ ngũ ngôn, đặc biệt là

các thể thơ dân tộc như thơ lục bát và thơ xen song thất lục bát. Tuy được đánh

giá là bước trưởng thành quan trọng của thơ Tố Hữu, là một thành tựu xuất sắc

của thơ Việt Nam giai đoạn kháng chiến chống Pháp, yếu tố cách tân trong tập

thơ cũng chưa được nhìn thấy.

Tập thơ “Việt Bắc” được tặng giải nhất về thơ của Giải thưởng văn học

giai đoạn 1954-1955 của Hội Văn nghệ Việt Nam.

1.2.3. Tập thơ “Gió lộng”

“Gió lộng” là tập thơ nổi bật của Tố Hữu, gồm 25 bài, được sáng tác trong

khoảng thời gian từ năm 1955 đến 1961. Tập thơ được Tố Hữu viết trong

khoảng thời gian miền Bắc đang xây dựng xã hội chủ nghĩa và miền Nam đang

tiếp tục đấu tranh chống Mỹ. “Gió lộng” là bài ca vui kiến thiết chủ nghĩa xã hội

trên một nửa nước Việt Nam, là tiếng thét căm thù, đấu tranh với bọn bán nước

và cướp nước ở miền Nam Việt Nam.

Sau năm 1954, ở miền Bắc, nhân dân ta náo nức bắt tay vào công cuộc

xây dựng chủ nghĩa xã hội, khôi phục và phát triển kinh tế, hàn gắn vết thương

chiến tranh, hợp tác hoá nông nghiệp, công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây

dựng và phát triển kinh tế, văn hoá:

Dân có ruộng dập dìu hợp tác

Lúa mượt đồng ấm áp làng quê

Chiêm mùa, cờ đỏ ven đê

Sớm trưa, tiếng trống đi về trong thôn

(Ba mươi năm đời ta có Đảng)

13

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ

“Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”

“Tiếng trống đi về” nghe thật rộn rã, tươi vui, náo nức. Nông thôn là thế,

còn thành thị thì

Xuân ơi xuân, em mới đến dăm năm

Mà cuộc sống đã tưng bừng ngày hội

Như hôm nay giữa công trường đỏ bụi

Những đoàn xe vận tải nối nhau đi

(Bài ca mùa xuân 1961)

Cuộc sống mới và con người mới trên đất nước Việt Nam cũng như trên

các đất nước xã hội chủ nghĩa anh em đã đưa lại cho “Gió lộng” những vần thơ

tươi vui, đầm ấm, phơi phới lạ thường

Xuân ơi xuân, vui tới mông mênh

Biển vui dâng sóng trắng đầu ghềnh

Thơ đã hát, mắt trong lời chúc:

Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh!

(Bài ca mùa xuân 1961)

Ở “Gió lộng”, cuộc sống xã hội chủ nghĩa là cuộc sống “thiên đường”,

cuộc sống “bình minh dậy”, là “cuộc sống gió lộng đường khơi”. Trên đất nước

mình đã vậy, khi đi trên đất nước anh em, nhà thơ vẫn thấy vẻ đẹp của cuộc

sống và con người xã hội chủ nghĩa là vẻ đẹp và cuộc sống của con người có tự

do. Cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa đã đưa lại cho thơ Tố Hữu cảm hứng anh

hùng trong lao động xây dựng sáng tạo. Đôi cánh lãng mạn cách mạng của thơ

Tố Hữu dường như càng bay cao hơn:

14

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ

“Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”

Ồ đâu phải, qua đêm dài lạnh cóng

Mặt trời lên là hết bóng mù sương

Ôi đâu phải qua đoạn đường lửa bỏng

Cuộc đời ta bỗng chốc hoá thiên đường

(Mùa thu mới)

Đặc biệt, “Gió lộng” đã ghi lại được hình ảnh vị lãnh tụ của cách mạng

Việt Nam trong điều kiện lịch sử mới

Bác đi, muôn dặm đường xa

Hôm nay tuyết lạnh, nay vừa nắng lên

Bác về, tóc có bạc thêm?

Năm canh, bốn biển, có đêm nghĩ nhiều?

(Cánh chim không mỏi)

Hiện thực nước ta trong thời kỳ 1954 – 1961 không chỉ có miền Bắc xây

dựng chủ nghĩa xã hội mà còn có miền Nam đang kiên cường đấu tranh chống

Mỹ – Nguỵ. Cuộc sống mà bè lũ xâm lược dựng nên ở miền Nam là “cõi chết, là

“cơn ác mộng”, cuộc sống mà “thịt rơi máu chảy đêm dài”, có “nghìn hồn oan

bay khắp nhân gian”… Đứng trên đỉnh cao của cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa,

nhà thơ giáng xuống đầu bọn Mỹ và tay sai một mỗi căm thù mang sức mạnh

của bão tố

Bão ngày mai là giá nổi hôm nay!

Trời chớp giật, tất đến ngày sét đánh!

15

Nhận diện và miêu tả “cái tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu qua năm tập thơ

“Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”

(Thù muôn đời muôn kiếp không tan)

Nhưng hiện thực miền Nam trong giai đoạn 1954 – 1961 mà “Gió lộng”

phản ánh chủ yếu không phải là bộ mặt của bọn Mỹ – Diệm, không phải là cuộc

sống ngột ngạt, đen tối mà chúng đã dựng nên với những tội ác man rợ mà chủ

yếu chính là hình ảnh những con người và cuộc sống của nhân dân cách mạng

trong máu lửa vẫn kiên trì đấu tranh hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân

chủ ở miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc. Cuộc đấu tranh vì độc

lập tự do đã được phản ánh với sức sống không gì dập tắt nổi

Đước đã mọc thành rừng gỗ cứng

Gió càng lay càng vững thành đồng

(Ba mươi năm đời ta có Đảng)

Trong kháng chiến, tình cảm Bắc Nam cũng trở thành biểu tượng tươi đẹp

của tình yêu nước thắm thiết. Tình cảm sâu nặng đối với miền Nam thể hiện qua

sự day dứt, canh cánh khôn nguôi :

Tôi viết cho ai bài thơ 61?

Đêm đã khuya rồi, rét về tê buốt

Hà Nội rì rầm… Còi thổi ngoài ga

Một chuyến tàu chuyển bánh đi xa

Tiếng xình xịch, chạy dọc đường Nam Bộ…

(Bài ca xuân 1961)

16

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Giáo Dục

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Kiến Thức Chung

Related Articles

Back to top button