Kiến Thức Chung

Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu

Ngày đăng: 08/07/2013, 01:26

Nguyễn Đình Chiểu: Nhà thơ yêu nước nồng cháy và một nhân cách lớn Lục Vân Tiên: Một tác phẩm chấn hưng phong hoá dân tộc Nguyễn Đình Chiểu (1822 1888) là một nhà nho yêu nước chân chính tiêu biểu của Nam Bộ trong thế kỷ XIX. Cùng chung số phận với nhiều văn thi hào và sĩ phu kiệt hiệt khác như Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, Trương Định ., Nguyến Đình Chiểu sống vào một giai đoạn vô cùng đen tối của lịch sử dân tộc. Triều đình nhà Nguyễn (với những ông vua thủ cựu như Tự Đức .) đang trên đà suy sụp, đã mất hẳn khả năng lãnh đạo nhân dân kể cả trong công cuộc xây dựng cũng như công cuộc bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Xã hội Việt Nam thời đó rơi vào tình trạng ngưng trệ và lạc hậu thảm hại. Rốt cuộc, trước sự xâm lược của thực dân Pháp, cái triều đình ươn hèn, bất lực đó đã không thể đối phó, không thể lập được “thế cân bằng” với ngoại bang, và đã để đất nước ta rơi trọn vào tay chúng. Trước vận mệnh bi đát của đất nước, trước cảnh “sinh dân nghiêng nghèo” ấy, Nguyễn Đình Chiểu cũng như bao người hiền tài khác, đã đau lòng nhức óc biết là nhường nào! Trước kia Nguyễn Trãi đã từng nhận định rằng trên đất nước ta, các thời đại “tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt không bao giờ thiếu” (Bình Ngô đại cáo). Nguyễn Đình Chiểu là một người con hào kiệt của vùng đồng bằng Nam Bộ, là một nhân cách lớn mà sự nghiệp và tên tuổi của ông sẽ mãi mãi sáng ngời. Là nhà thơ suốt đời bị mù loà, nhưng không những ông là tác giả của tác phẩm bất hủ Lục Vân Tiên, của “Ngư tiều y thuật vấn đáp”, “Dương Từ Hà Mậu” ., ông còn là tác giả của những bài thơ, những bài văn tế nổi tiếng, trong đó ông đã tưới máu và nước mắt của mình hoà chung với những bi kịch mà nhân dân anh hùng bất khuất và đau thương của ông phải chịu đựng khi chống trả bọn xâm lược. Có những câu thơ của ông đã khắc sâu vào lòng người: Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà. Lịch sử văn học đã xác nhận Nguyễn Đình Chiểu là nhà văn, nhà thơ tiên khu vĩ đại, người mở đầu cho dòng văn học yêu nước và cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Lục Vân Tiên là tác phẩm “tiểu thuyết bằng thơ nôm” sau chót của văn học Việt Nam, được Nguyễn Đình Chiểu sáng tác ngay trong thời kì cận đại. Đó là điểm son cuối cùng của loại hình tác “truyện nôm”, “diễn ca nôm” như Chinh phụ ngâm, cung oán ngâm khúc, Hoa Tiên, Phan Trần, Nhị Độ Mai, Bần nữ thán, Truyện Kiều, truyện nôm khuyết danh . Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác Lục Vân Tiên với động cơ gì? Như trên đã nói, trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, xã hội Việt Nam, trong cơ chế của một chế độ phong kiến phương Đông ngưng trệ, lạc hậu, đương trượt dài trên con đường suy thoái. Khắp đất nước phơi bày tình cảnh nghèo đói xác xơ, đạo đức con người cũng như phong hoá dân tộc ngày một sa sút. Nguyễn Đình Chiểu là một nhà Nho chân chính, cho nên trong lòng ông lúc nào cũng đau đáu những ý tưởng về sự “kinh bang tế thế”. Do hạn chế về lịch sử, ông chưa nhận thức được rằng những ý tưởng của những sĩ phu phong kiến như ông muốn khôi phục lại một xã hội lý tưởng thời Nghiêu Thuấn, thực ra đã lỗi thời rồi . Tuy nhiên với tâm huyết sôi sục của một con người nhập thế tích cực, nhất thiết ông phải hành động để phụng sự đất nước và dân tộc ông. Chính vì thiết tha muốn “đem lời nói đốt cháy lòng thiên hạ” (thơ Puskin) mà ông viết Lục Vân Tiên. Với ông, trong lúc đời đang suy, việc viết một tác phẩm đứng đắn và mang đầy nhiệt huyết như Lục Vân Tiên chính là một diệu kế, khả dĩ cứu vãn được sự suy thoái của đất nước và chấn hưng được phong hoá của dân tộc. 1 Lục Vân Tiên là bản trường ca đề cập về luân lí đạo đức của con người, nói cách khác: về “Đạo lý Việt Nam”. Đạo lý ấy rất giản dị: Trai thì trung với nước, hiếu với cha mẹ, có chí tiến thủ, giúp nước cứu dân; gái thì tiết hạnh và cao quý; đồng bào ăn ở với nhau thì có thuỷ có chung, luôn luôn sẵn sàng cứu giúp nhau trong những cơn hoạn nạn, không vì danh lợi mà chà đạp lên tình người, không vì những đố kị và oán hận riêng tây mà hại người, không nên “hành” những nghề lừa bịp tức cười như lang băm, thầy bói, thầy pháp nhảm nhí . Cái đạo lý rất mực dân dã ấy thực ra lại là rường cột của nền đạo đức của cả một dân tộc, là cội nguồn của hạnh phúc con người. Cái kết thúc “có hậu” của Lục Vân Tiên phản ánh quan niệm của nhân dân đối với những ai biết giữ gìn đạo đức (như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Vương Tử Trực, Hớn Minh .). Ngược lại, những nhân vật như Võ Công, mẹ con Thể Loan, Trịnh Hâm, đã phải trả giá đắt chỉ vì họ đã vứt bỏ cái đạo làm người đó. Là tác phẩm viết cho quảng đại quần chúng, chuyên luận bàn về luân lí đạo đức, Lục Vân Tiên được sáng tác, cốt truyện mạch lạc và hấp dẫn, đậm đà màu sắc văn hoá Nam Bộ. Đọc Lục Vân Tiên chúng ta cảm nhận được cái tinh thần đạo đức cao quý và tình người chan chứa hiện ra phơi phới trong mỗi trang thơ. Các nhân vật chính như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Vương Tử Trực, Tiểu Đồng, và các nhân vật phụ như Thể Loan, Kiều Công, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm . được tác giả miêu tả nkhá sinh động, có cá tính. Đặc biệt nữ nhân vật Kiều Nguyệt Nga người con gái Việt Nam đức hạnh nết na rõ ràng có một cuộc sống nội tâm khá phong phú, sâu sắc, một sự thông minh dễ thương và một đức kiên trinh đáng khâm phục, khiến chúng ta không thể không xúc động và yêu quý nàng. Tất cả những điều đó giải thích vì sao Lục Vân Tiên đã được đông đảo quần chúng nhân dân, nhất là nhân dân Nam Bộ, mến mộ suốt hơn một thế kỷ qua; vì sao Lục Vân Tiên đã đi vào ca dao: Vân Tiên Vân Tiển Vân Tiền Cho tôi một tiền, tôi kể Vân Tiên . TP. Hồ Chí Minh tháng 10-1996 Thiên Chương LỤC VÂN TIÊN VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM VÀO ĐỜI LỤC VÂN TIÊN VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM VÀO ĐỜI Nguyễn Thiên Thụ Lục Vân Tiên là một truyện nôm, là một tự thuật của Nguyễn Đình Chiểu về cuộc đời gian truân của ông. Ông là một thiếu niên của Gia Định thành, thân phụ người Trung, mẹ người Nam. Ông đã lo học tập, ước mơ một cuộc đời tươi sáng. Ông đã mang hy vọng đó khi ra kinh ứng thí. Nhưng rồi cuộc đời và lịch sử đã mang tai họa đến với ông. Nghe tin mẹ mất, ông phải bỏ thi về thọ tang. Vì khóc quá nên ông mù mắt. Ông mất khá nhiều tiền để chửa binh nhưng tiền mất tật mang. Một năm sau về đến nhà thì gia đình gái từ hôn. Rồi Pháp đến xâm chiếm nước ta, dân chúng chết vì đạn Pháp, nhà cháy vì thưc dân đốt phá. Ông phải bỏ Gia Định mà về Bến Tre. Cuộc đời của ông hòa lệ với dân tộc Việt Nam. Nhất là đòi tư của ông là những trang tiểu thuyết bi thảm. Có lẽ muốn tránh người đời tò mò, hoặc cũng như thói thường các tiểu thuyết gia Việt Nam vay mượn truyện Trung Quốc, ông cũng dùng bảng hiêu Tây Minh để cho bình thường hóa tác phẩm của ông. 2 Lục Vân Tiên là biểu tượng con người trong cuộc đời. Sinh ra trên cõi đời, một số người hạnh phúc, nhưng một số người lại gặp bất hạnh. Lục Vân Tiên là cuộc đời của những người bất hạnh này. Nhìn chung, cuộc đời con người có thể chia ba giai đoạn:thuở thiếu thời, trung niên và tuổi già. Cuộc đời Lục Vân Tiên cũng vậy. Ta có thể chia ba thời kỳ: vào trường, vào đời và chung cuộc. I. VÀO TRƯỜNG Lục Vân Tiên là một chàng thư sinh, theo thầy ở trên núi, nghĩa là một người còn trẻ, đang học tập, chưa ra đời làm việc, hoạt động và sống với đời sống thực: Theo thầy nấu sử xôi kinh, Tháng ngày bao quản sân Trình lao đao. (11-12) Chàng học tập văn lẫn võ để chuẩn bị cho tương lai ra đời giúp nước, cứu dân: Văn đà khởi phụng đằng giao, Võ thêm tam lược, lục thao ai bì.(13-14) Sau một thời gian học tập, người trai phải từ giã thầy và mái trường để dấn thân vào đời.Ngày trọng đại đã đến, Lục Vân Tiên phải từ giã thầy mà xuống núi để nhập trường thi: Xảy nghe mở hội khoa thi, Vân Tiên vào tạ tôn sư ra về. ( 15-16 ) Tuổi trẻ nuôi nhiều mộng mơ. Vân Tiên hy vọng sẽ thi đỗ, làm quan, và đem tài ra giúp nước: Chí lăm bắn nhạn ven mây, Danh tôi đặng rạng, tiếng thấy đồn xa. Làm trai trong cõi người ta, Trước lo báo bổ sau là hiển vang. (21-24) Sự đời thay đổi, và cuộc đời không có gì bảo đảm. Có thể thành, có thể bại. Tuy là nuôi hy vọng, ai cũng lo sợ đường đời trắc trở. Bậc tiên sư đã nhìn thấy tương lai sóng gió của Lục Vân Tiên: Nhân cơ tàng sự dặn rằng, Việc người chẳng khác việc trăng trên trời. Tuy là soi khắp mọi nơi, Khi mờ, khi tỏ, khi vơi, khi đầy. (69-72) Nguyễn Bá Học đã nói đúng tâm trạng và chí khí của những chàng trai vừa lớn lại nuôi mộng cao xa: Người ta đương lúc thiếu niên, lòng xuân phơi phới như trăng mới lên, như hoa mới nở, sự đời chưa hề từng trải, tư tưởng những sự cao xa. ( Lời khuyên học trò ) Trừ những người vì hoàn cảnh khó khăn không đến trường được, đa số thanh niên khi từ giã mái trường đều nặng lòng thương nhớ: 3 Ra đi vừa rạng chân trời, Ngùi ngùi ngó lại nhớ nơi học đường.(77-78) Mái trường cũ là thiên đường đã mất, là bảo tàng của tuổi thơ, vì vậy, sau này xa quê, ai cũng nhớ mái trường cũ. Những ngày ở mái trường rất đẹp, là giai đoạn bình minh của cuộc đời. Rời xa mái trường, nghĩa là giã từ tuổi thơ, giã từ hạnh phúc để đi vào cuộc đời đầy sóng gió. Mái trường của Lục Vân Tiên ở trên non cao, là nơi thanh tịnh, nơi tu hành, nơi xa trần tục. Rời non cao để vào đời là bắt đầu đi vào phong ba, bão táp. Đây là cuộc đời đi xuống, cuộc đời trần tục. II. VÀO ĐỜI Vừa rời khỏi mái trường, con người đa số phải đối đầu với bao thực trạng xã hội xấu xa. Khi vào đời, Lục Vân Tiên đã trải qua nhiều kinh nghiệm, mà trong đó có những kinh nghiệm tốt đẹp, và những kinh nghiệp đắng cay. 1. GIẶC CƯỚP Xã hội nào cũng có những bọn giặc cướp, chỉ khác nhau ở chỗ công khai hay bí mật, mạnh hay yếu, tàn bạo nhiều hay it. Giặc cướp đây bao gồm tất cả những cá nhận hay nhóm người nào chiếm đoạt tài sản quốc gia, hay tư nhân, vi phạm quyền lợi nhân dân, giết hại và gây đói khổ cho nhân dân. Không phải chỉ có bọn Lương Sơn Bạc mới là ăn cướp. Bao thời đại, có rất nhiều bọn cướp và hình thức ăn cướp. Bọn chúng mặc áo nhà tu, đoàn thể cách mạng, công ty thương nghiệp, hay hội đoàn từ thiện. . .Nhưng phổ biến nhất là bọn vua chúa tàn ác, và quan lại tham ô, chúng là một bọn cướp như nhân dân ta quan niệm rất chính xác: Con ơi con nhớ lời này, Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan ( ca dao) Lục Vân Tiên vừa xuống núi là gặp ngay bọn cướp: Nhân rày có đảng lâu la, Tên rằng Đỗ Dự, hiệu rằng Phong Lai. Nhóm nhau ở chốn sơn đài, Người người sợ nó có tài khôn đương. Bây giờ xuống cướp thôn hương Thấy con gái tốt qua đường bắt đi. Xóm làng chẳng dám nói chi, Cám thương hai gã nữ nhi mắc nàn. Con ai vóc ngọc, mình vàng, Má đào, mày liễu dung nhan lạnh lùng. E khi mắc đảng hành hung, Uổng trang thục nữ sánh cùng thất phu. Thôi thôi chẳng dám nói lâu, Chạy đi cho khỏi kẻo âu đến mình (101-114) 4 Lục Vân Tiên là hạng người theo chánh nghĩa, không thể đứng yên nhìn bọn cướp hoành hành. Chỉ có chàng là một thanh niên mới lớn, tâm hồn còn trong trắng, còn thật lòng theo Phật, theo Khổng, còn nuôi mộng cứu khổn phò nguy, cho nên đã hăng hái đem bầu nhiệt huyết cùng tính mạng một mình tranh đấu chống bọn tham tàn: Vân Tiên ghé lại bên đàng, Bẻ cây làm gậy, bên đàng chạy vô. Kêu rằng bớ đảng hung đồ, Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân. (123-126 ) Lục Vân Tiên là biểu tượng của Chân, Thiện Mỹ. Tâm hồn chàng là tâm hồn một thư sinh trong sáng, ngọn lửa chánh nghĩa bùng lên trong tim. Hạng người như chàng nuôi mộng cao xa, rất có đạo đức. Họ không ghen ghét người giỏi, khinh bỉ người hèn, không ăn hối lộ, không trộm cắp của công, không lừa đảo dân chúng, không mưu hại đồng nghiệp, không nghiện bài bạc . Nhiều người chỉ trích Lục Vân Tiên khô khan, nhưng đó cũng là một sự thực: trong đời có nhiều người không mê nữ sắc, không tham dâm, không mê tiền tài, danh vọng. 2. TÌNH YÊU Gặp Kiều Nguyệt Nga là một kinh nghiệm thứ hai của Lục Vân Tiên. Đó là kinh nghiệm về tình yêu. Lục Vân Tiên là một chàng trai mới lớn, chưa hề quen biết một cô gái nào, và cũng chưa hề yêu đương cho nên đối với nữ nhân chàng còn nhiều e ngại. Hơn nữa, chàng thuộc thế hệ nho sĩ ngày xưa, trọng nghĩa khinh tài, biết thủ lễ và tránh những hành động có thể bị coi là lợi dụng. Vân Tiên khó nỗi làm thinh, Chữ ơn buộc lại chữ tình lây dây. Than rằng đó khó trêu đây, Ơn kia đã mấy, của này rất sang. Đương khi gập gỡ giữa đàng, Một lời cũng nhớ, ngàn vàng chẳng phai. Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài, Nào ai chịu lấy của ai làm gì. (201-08) Chàng không phải là hạng người lịch duyệt, biết ân cần, săn sóc phụ nữ, nhưng chàng đã vồn vã, lịch sự chào hỏi Nguyệt Nga mặc dầu chàng vẫn giữ một khoảng cách với nàng: Vân Tiên nghe nói động lòng, Đáp rằng: Ta đã trừ dòng lâu la. Khoan khoan ngồi đó chớ ra, Nàng là phận gái,ta là phận trai. Tiểu thư con cái nhà ai? Đi đâu nên nỗi mang tai bất kỳ? Chẳng hay tên họ là chi? 5 Khuê môn phận gái việc gì đến đây? (143-150) Còn Nguyệt Nga đưọc Lục Vân Tiên cứu thoát bàn tay bọn cướp, nàng cảm ơn cứu tử và cảm động vì hành động hào hiệp, can đảm của chàng. Đa số người nữ thường rung động trước sự giúp đỡ, và tình cản nồng hậu của nam nhân. Anh hùng cứu mỹ nhân, mỹ nhân yêu anh hùng là một đề tài phổ biến xưa nay. Nàng đã yêu chàng ngay trong buổi đầu. Hành động gửi tặng vật là một cách biểu lộ tình yêu một cách kín đáo. Khi Lục Vân Tiên tỏ vẻ lạnh lùng, nàng đã hờn dỗi. Cử chỉ của nàng rất đáng yêu: -Vật chi một chút gọi là, Thiếp thưa chưa dứt, chàng đà làm ngơ. Của này là của vất vơ, Lòng chê cũng phải, mặt ngơ sao đành .(197-200 ) -Thưa rằng chút phận nữ nhi, Vốn chưa biết lẽ có khi mích lòng. Ai dè những đấng anh hùng, Thấy trâm thôi lại thẹn thùng cùng trâm. Riêng than trâm hỡi là trâm, Vô duyên chi bấy ai cầm mà mơ. (209-14) Từ trước Lục Vân Tiên chưa yêu ai. Tình yêu của Nguyệt Nga là một kinh nghiêm đầu tiên rất tươi thắm trong đời chàng. 3. HÔN NHÂN Ngày xưa, người Việt Nam lấy vợ sớm, và hôn nhân do các bậc cha mẹ quyết định. Hai bên cha mẹ đãï đính ước từ trước, có khi hai trẻ còn nằm trong bụng me . Chàng là một thanh niên đầy hứa hẹn tương lai cho nên đã được nhà gái đón tiếp nồng hậu khi chàng đến thăm trước khi vào kinh ứng thí. Vị hôn thê của chàng là Võ Thể Loan đã ân cần với chàng trước khi chia tay: Chàng dầu cung quế xuyên dương, Thiếp xin hai chữ tao khang cho bằng. Xin đừng tham dó bỏ đăng, Chơi lê quên lựu, chơi trăng quên đèn.(709-12) Không hiểu vì chịu ảnh hưởng các truyện xưa tích cũ về tình nghĩa vợ chồng, hoặc vì linh tính, Lục Vân Tiên đã trả lời Võ Thể Loan bằng giọng điệu nghi ngờ: Tiên rằng như lửa mới nhen, Dễ trong một bếp mà chen mấy lò? May duyên, rủi nợ dễ phô, Chớ lo Ngô Khởi, hãy lo Mãi Thần. (713-16) 6 Gia đình họ Võ đã đem lại cho chàng nỗi niềm cay đắng trên bước đường đời. Khi chàng bị mùa lòa, chàng liền nghĩ đến vị hôn thê và gia đình bên vợ. Chàng là người mới bước vào đời, lòng còn trong sáng, còn tin tưởng vào lời hứa hẹn của người đời. Vì vậy, sau khi ngư ông cứu chàng thoát chết trong giòng sông sâu, chàng ngỏ lời cậy ngư ông đưa chàng đến nhà nhạc gia để họ giúp đỡ chàng khi nguy nan: Tiên rằng xưa đã gá lời, Sui gia ai nỡ đổi dời chẳng thương. Vợ chồng là đạo tang khang, Chi bằng tới đó tìm phương gửi mình. Trăm năm muốn trọn ân tình, Đương khi hoạn nạn ai đành bỏ nhau. Chút nhờ cứu tử ơn sâu, Xin đem tới đó, trước sau cho tròn. (981-988) Ngư ông là người từng trải việc đời, đã nghi ngờ họ Võ sẽ thay lòng đổi dạ khi thấy chàng thất bại công danh và mù lòa. Ông ngỏ lời khuyên can chàng nhưng chàng vẫn không nghe ý kiến của ngư ông: Ngư rằng làm đạo rể con, Cũng như sợi chỉ mà luồn trôn kim. Sợ bay mà mỏi sức chim, Bơ vơ cảnh lạ, khôn tìm cây xưa. E khi chậm bước tới trưa, Chớ đi sông cũ , bến xưa mà lầm. Mấy ai ở ở đặng hảo tậm,, Nắng đun chót nón, mưa dầm tả tơi. Mấy ai hay nghĩ việc đời, Nhớ nơi nghèo khổ, quên nơi sang giàu. Đã ba thứ tóc trên đầu, Gẫm trong thế sự thêm âu cho đời.( 989-1000) Nhưng niềm tin ngây thơ của chàng đã bị tan vỡ. Chàng bị mù lòa lại bị từ hôn. Cay đắng nhất là vị hôn thê của chàng đã dùng những lời thô bạo đối với chàng. Chàng là người chung thủy, nhưng nhân thế đã thay lòng đổi dạ: Loan rằng: Gót đỏ như son, Xưa nay ai dễ đem chôn xuống bùn. Ai cho sen muống một bồn, 7 Ai từng chanh khế sánh phồn lựu lê. Thà không trót chịu một bề, Nỡ đem mình ngọc, dựa kề thất phu. Đã công chờ đợi danh nho, Rể đâu có rể đui mù thế ni. . (1027-34) Chính Võ Thể Loan, vị hôn thê của chàng đóng vai trò tích cực trong việc đổi trắng thay đen. Nàng đã táo bạo đề nghị với cha mẹ cho nàng kết hôn cùng Vương Tử Trực, bạn của Vân Tiên vừa đỗ thủ khoa: Đã nghe người nói hội này, Rằng Vương Tử Trực chiếm rày khôi khoa. Ta dầu muốn kết xui gia, Họ Vương, họ Võ một nhà mới xinh.(1035-38) Khi Võ ông đem chàng bỏ hang sâu, chàng mới hiểu rõ lòng dạ người đới: Vân Tiên khi ấy hãi hùng, Nghĩ ra mới biết Võ công hại mình.(1059-60). 4. ÁC NHÂN Bọn gian ác ở khắp mọi nơi.Trong hàng ngũ trí thức cũng có kẻ gian ác mặc dầu nho sĩ vốn xuất thân cửa Khổng sân Trình, học nhân nghĩa lễ trí tín. Trên đường vào trường thi, chàng đã gặp bọn Trịnh Hâm, Bùi Kiệm. Bọn này đã vào trường thi cùng Lục Vân Tiên và Vương Tử Trực. Bọn này học kém, không làm được bài thi.Thấy Vương và Lục làm được bài, chúng sinh lòng ghen ghét, cho rằng Vương và Lục viết tùng cổ thi (464). Bọn họ đã cùng Lục Vân Tiên và Vương Tử Trực uống rượu, làm thơ. Ông chủ quán là người bình dân, nhưng môi trường làm việc của ông là quán khách, có nhiều loại người lui tới cho nên ông tiếp xúc với nhiều người và hiểu tâm tính của họ. Vì vậy, ông xem qua cách làm thơ của bọn này đã biết Trịnh Hâm và Bùi Kiệm thuộc loại lừa thầy, dối bạn: Tiên rằng: Ông quán cười ai, Quán rằng cười kẻ bất tài đồ thơ. Cười người Tôn Tãn không lừa, Trước đà thấy máy chẳng dè Bàng Quyên. (467-70) Khi bọn này trả lời ông chủ quán, ta thấy rõ tính vô lễ và khinh người của chúng: Kiệm rằng: Lão quán nói nhăng, Dầu cho trải việc cũng thằng bán cơm. Gối rơm theo phận gối rơm, Có đâu ở thấp mà chồm lên cao. (523-26 ) Khi tin nhà đưa đến, nghe tin mẹ già mất, Lục Vân Tiên khóc mù mắt, bỏ cuộc thi trở về quê cũ. Giữa đường chàng lại bọn này, chàng mù lòa nên phải trông cậy bạn giúp đỡ: 8 Tiên rằng: Tình trước nghĩa sau, Có thương xin khá giúp nhau phen này (863-64) Ở đời, lòng dạ con người khó lường. Ta không hề gặp mặt họ, ta cũng không tranh quyền đoạt lợi của họ. Ta cũng không cướp tài sản hoặc giết hại cha mẹ, anh em họ, thế mà họ thù ghét, oán hận ta. Họ nói xấu, vu khống ta. Thậm chí họ có thể giết hại ta. Vân Tiên không có thù oán gì với bọn này, không ngờ Trịnh Hâm, Bùi Kiệm chỉ vì ganh tài mà hãm hại Vân Tiên. Chúng đem tiểu đồng vào rừng trói lại cho cọp ăn, rồi đêm đến xô Vân Tiên xuống vực sâu. Ngoài Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Vân Tiên còn bị ba nhân vật gian manh khác bóc lột, lường gạt là thầy thuốc, thầy bói và thầy pháp. Ba ông này giống nhau hai điểm chính. Thứ nhất là tự quảng cáo, là khoe khoang, khoác lác. Ông thầy thuốc: Ngang rằng: Ta ở chốn này, Ba đời nối nghiệp làm thầy vừa ba. Sách chi cũng đủ trong nhà, Nội kinh đã sẵn, ngoại khoa thêm màu. Trước xem y học làm đầu, Sau xem Thơ Thế, thứ cầu Đông Y (665-770 ) Ông thầy bói: Ta đây nào phải các thầy, Bá vơ, bá vất, nói nhây không nhằm. Ôn nhuần Châu dịch mấy năm, Sáu mươi bốn quẻ, ba trăm dư hào. Huỳnh Kim, Dã Hạc sách cao, Lục nhâm, lục giáp, chỗ nào chẳng hay. (715-20 ) Ông thầy pháp: Pháp rằng: Ấn đã cao tay, Lại thêm phù chú, xưa nay ai bì. Qua sông, cá thấy xếp vi, Vào rừng cọp thấy phải quỳ lạy đưa. Pháp hay hú gió, kêu mưa, Sai chim, khiến cọp, đuổi lừa, vật trâu. Pháp hay miệng niệm một câu, 9 Tóm thâu muôn vật vào bầu hồ linh. (673-70 ) Ba ông thầy này đều giống nhau là tham lam, luôn chú trọng tiền bạc. Gặp Vân Tiên, cả ba thầy trước tiên là hỏi tiền bạc. Thầy thuốc chưa chửa bệnh đã hỏi tiền: Gặp ta bệnh ấy ắt lành, Bạc tiền trong túi sẵn dành bao nhiêu? (659-60 ) Thầy bói chưa gieo quẻ đã hỏi tiền: Đặt tiền quan mốt bốn mươi, Khay trầu chén rượu cho tươi mới thành. Thầy bèn gieo đặng quẻ lành. (723-25 ) Ông này sau một hồi ba hoa, đã đề cập đến tiền: Có ba trăm lạng đưa sang, Đặng thầy sắm sửa lập đản chửa cho. (775-76 ) 5.THIỆN NHÂN Cuộc đời có nhiều màu sắc và có nhiều mâu thuẫn. Nếu trong cuộc đời có những kẻ ác thì cũng có những người hiền lành, nhân từ đức hạnh. Vân Tiên đã gặp bọn gian ác nhưng chàng cũng đã gặp những người trung hậïu. Nguyệt Nga là ánh trăng rằm trong đời chàng. Ông chủ quán là người bình dân nhưng ông thực sự là tay minh kinh bác học. Những lời nghị luận của ông chúng tỏ ông học rộng, hiểu nhiều và là người trung trực : Quán rằng ghét việc tầm phào, Ghét cay ghét đắng ghét vào tới tâm. Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm, Để dân đến nỗi sa hầm, sẩy hang. Ghét đời U Lệ đa đoan, Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần . . . . . . . . . . Thương là thương bậc thánh nhân, Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuôn. Thương thầy Nhan tử dở dang, Ba mươi mốt tuổi tách đường công danh. Thương ông Gia Cát tài lành, Gặp cơn Hán mạt đã đành phôi pha. . .(479-494) 10 […]… nhân (119 2-9 4) 11 Đó là lẽ báo ứng, là luật nhân quả mà Khổng và Phật luôn đề cao trong kinh điển, trong văn chương và trong đời sống Lục Vân Tiên là giấc mơ Vân Tiên đã qua cơn hoạn nạn và được vinh hiển, trái lại, Nguyễn Thiên Thụ Văn bản Lục Vân Tiên, những… luận và các nhà nghiên cứu văn học chú ý Về cuốn phim màu Lục Vân Tiên năm 1957 Thi phẩm Lục Vân Tiên của văn hào Nguyễn Ðình Chiểu đã từng được soạn thành tuồng cải lương, trình diễn trên sân khấu từ thập niên 1940 và cho đến nay thỉnh thoảng vẫn còn thấy Lục Vân Tiên- Nguyệt Nga xuất hiện qua các sô hát ở hải ngoại Về cuốn phim màu Lục Vân Tiên năm 1957 Thế nhưng, về lãnh vực phim ảnh thì chỉ duy… Bị tin một gậy chàng rày mạng vong Đây là câu 136 trong Lục Vân Tiên Ca Diễn Chữ Tin được viết là tiên (bộ nhật + sơn) nên tất cả các bản Lục Vân Tiên đều ghi là: Bị Tiên một gậy, chàng rày mạng vong Người đầu tiên xướng lên cách đọc này vẫn là Jan-nô và A-ben đê Mi-sen, sau đó đến Trương Vĩnh Ký và tiếp tục cho đến ngày nay Thực ra, đọc là bị Tiên một gậy tuy không được ổn thỏa nhưng cũng dễ hiểu;… Pháp văn, tức là tác phẩm Lục Vân Tiên Ca Diễn, trước sau chỉ lèo tèo có mấy học giả quan tâm nghiên cứu và chú giải truyện Lục Vân Tiên: Aubaret, Bajot, Trương Vĩnh Ký, Sorilène, Nguyễn Thanh Tâm, Ngọc Hồ Nếu truyện Lục Vân Tiên đã phải cam chịu thân phận hẩm hiu không được hoan nghinh và phổ cập rộng rãi trong thượng tầng xã hội trí thức Việt Nam thì ngược lại, truyện Lục Vân Tiên đã được nồng nhiệt… thích Lục Vân Tiên Tôi đã phát hiện hàng trăm trường hợp có vấn đề phải cân nhắc lại cách phiên âm chữ Nôm và cách hiểu các từ cổ trong Lục Vân Tiên Trong bài này, tôi chỉ nói đến hai trường hợp, đến câu thơ số 1233 và số 136 Để làm công việc này, tôi dùng bản Nôm Lục Vân Tiên Ca Diễn (LVTCD) của Trần Ngươn Mạnh làm bản gốc; bản này tuy không phải là nguyên bản làm sao có thể có được nguyên bản Lục Vân. .. Vân Tiên xuất hiện một cách bình thường từ câu 144: Vân Tiên nghe nói động lòng Nếu đọc câu thơ 136 là: Bị Tiên một gậy, chàng rày mạng vong, ta sẽ làm đổ vỡ cấu trúc toàn bộ đoạn văn, hiểu sai lạc ý của tác giả Xét về mặt chữ Nôm, các nhà phiên âm Lục Vân Tiên đã có lý khi họ phiên âm chữ tiên (bộ nhân + sơn) là Tiên tức Lục Vân Tiên, nhưng chữ tiên (bộ nhân + sơn) rất giống với chữ tín (bộ nhân +… dân tộc Trong truyện Lục Vân Tiên Tiên là Trực chị dâu” là câu thơ bị dư luận phê bình nhiều nhất Có người coi đó là một câu thơ “dễ dãi, chưa được trau chuốt”, có người chỉ giải thích đó là “tác giả theo cú pháp chữ Hán” nhưng có nhiều người đã cho câu thơ này chỉ là một câu vè, không xứng đáng với văn tài trác tuyệt tiên chịu trách nhiệm… vách 17 mạch rừng Nay với Truyện Lục Vân Tiên do ông biên soạn, chú giải, khảo dị và phục dạng, thêm một lần nữa, ông đã nhiệt tình góp phần không nhỏ vào việc bảo tồn các áng văn cổ viết bằng chữ Nôm và hoàn chỉnh tiếng Việt phổ thông * Truyện Lục Vân Tiên Chữ Nôm Nguyễn Bá Triệu biên soạn, chú giải, khảo dị, phục dạng Tác giả xuất bản Printing 2003-ISBN 0-9 73021 4-0 -3 by Nguyen Ba Trieu, 22 Elderwood… nhất Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã ghi được từ tin theo nghĩa này: Phỏng tin được một vài phần hay không (Truyện Kiều, 2194); Đã tin điều trước ắt nhằm việc sau (Truyện Kiều, 2410) Trong câu Lục Vân Tiên: tác giả câu văn không nhắc đến tên của Lục Vân Tiên, không mô tả việc… còn người bình dân miền nam ai cũng thuộc lòng truyện Lục Vân Tiên Truyện Kiều rất phổ biến ở miền bắc cho đến Huế Truyện Lục Vân Tiên rất phổ biến ở miền nam và cũng chỉ ra tới Huế Đi về hướng nam quá khỏi Huế thì không còn thấy truyện Kiều Đi về hướng bắc quá khỏi Huế thì cũng không ai biết Lục Vân Tiên Mà Huế thì đúng là nằm trên trục Đà Nẵng-Tchépone Vậy vấn đề được đặt ra là sự khác biệt về địa . Tiên Vân Tiển Vân Tiền Cho tôi một tiền, tôi kể Vân Tiên. TP. Hồ Chí Minh tháng 1 0-1 996 Thiên Chương LỤC VÂN TIÊN VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM VÀO ĐỜI LỤC VÂN TIÊN. Nguyễn Đình Chiểu: Nhà thơ yêu nước nồng cháy và một nhân cách lớn Lục Vân Tiên: Một tác phẩm chấn hưng phong hoá dân tộc Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888)

Xem thêm:   (Review) Những bài học cần thiết ai học Tiếng Anh cũng phải biết!

Xem thêm :  10 ca khúc nhạc Hàn hay nhất về tình bạn

Chiểu: Nhà thơ yêu nước nồng cháy và một nhân cách lớnTiên: Một tác phẩm chấn hưng phong hoá dân tộc(18221888) là một nhà nho yêu nước chân chính tiêu biểu của Nam Bộ trong thế kỷ XIX. Cùng chung số phận với nhiềuthi hào và sĩ phu kiệt hiệt khác như Cao Bá Quát,Khuyến, Tú Xương, Hoàng Diệu, PhanPhùng, Trương.,sống vào một giai đoạn vô cùng đen tối của lịch sử dân tộc. Triềunhà(với những ông vua thủ cựu như Tự Đức .) đang trên đà suy sụp, đã mất hẳn khả năng lãnh đạo nhân dân kể cả trong công cuộc xây dựng cũng như công cuộc bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Xã hội Việt Nam thời đó rơi vào tình trạng ngưng trệ và lạc hậu thảm hại. Rốt cuộc, trước sự xâm lược của thực dân Pháp, cái triềuươn hèn, bấtđó đã không thể đối phó, không thể lập được “thế cân bằng” với ngoại bang, và đã để đất nước ta rơi trọn vào tay chúng. Trướcmệnh bi đát của đất nước, trước cảnh “sinh dân nghiêng nghèo” ấy,cũng như bao người hiền tài khác, đã đau lòng nhức óc biết là nhường nào! Trước kiaTrãi đã từng nhậnrằng trên đất nước ta, các thời đại “tuy mạnh yếu cókhác nhau, song hào kiệt không bao giờ thiếu” (Bình Ngô đại cáo).là một người con hào kiệt của vùng đồng bằng Nam Bộ, là một nhân cách lớn mà sự nghiệp và tên tuổi của ông sẽ mãi mãi sáng ngời. Là nhà thơ suốt đời bị mù loà, nhưng không những ông là tác giả của tác phẩm bất hủTiên, của “Ngư tiều y thuậtđáp”, “Dương Từ Hà Mậu” ., ông còn là tác giả của những bài thơ, những bàitế nổi tiếng, trong đó ông đã tưới máu và nước mắt của mình hoà chung với những bi kịch mà nhân dân anh hùng bất khuất và đau thương của ông phải chịu đựng khi chống trả bọn xâm lược. Có những câu thơ của ông đã khắc sâu vào lòng người: Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà. Lịch sửhọc đã xác nhậnlà nhà văn, nhà thơkhu vĩ đại, người mở đầu cho dònghọc yêu nước và cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.là tác phẩm “tiểu thuyết bằng thơ nôm” sau chót củahọc Việt Nam, đượcsáng tác ngay trong thời kì cận đại. Đó là điểm son cuối cùng của loại hình tác “truyện nôm”, “diễn ca nôm” như Chinh phụ ngâm, cung oán ngâm khúc, Hoa Tiên, Phan Trần, Nhị Độ Mai, Bần nữ thán, Truyện Kiều, truyện nôm khuyết danh .đã sáng tácvới động cơ gì? Như trên đã nói, trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, xã hội Việt Nam, trong cơ chế của một chế độ phong kiến phương Đông ngưng trệ, lạc hậu, đương trượt dài trên con đường suy thoái. Khắp đất nước phơi bày tình cảnh nghèo đói xác xơ, đạo đức con người cũng như phong hoá dân tộc ngày một sa sút.là một nhà Nho chân chính, cho nên trong lòng ôngnào cũng đau đáu những ý tưởng về sự “kinh bang tế thế”. Do hạn chế về lịch sử, ông chưa nhận thức được rằng những ý tưởng của những sĩ phu phong kiến như ông muốn khôi phục lại một xã hội lý tưởng thời NghiêuThuấn, thực ra đã lỗi thời rồi . Tuy nhiên với tâm huyết sôi sục của một con người nhập thế tích cực, nhất thiết ông phải hành động để phụng sự đất nước và dân tộc ông. Chính vì thiết tha muốn “đem lời nói đốt cháy lòng thiên hạ” (thơ Puskin) mà ông viếtTiên. Với ông, trongđời đang suy, việc viết một tác phẩm đứng đắn và mang đầy nhiệt huyết nhưchính là một diệu kế, khả dĩ cứuđược sự suy thoái của đất nước và chấn hưng được phong hoá của dân tộc. 1là bản trường ca đề cập về luân lí đạo đức của con người, nói cách khác: về “Đạo lý Việt Nam”. Đạo lý ấy rất giản dị: Trai thì trung với nước, hiếu với cha mẹ, có chíthủ, giúp nước cứu dân; gái thì tiết hạnh và cao quý; đồng bào ăn ở với nhau thì có thuỷ có chung, luôn luôn sẵn sàng cứu giúp nhau trong những cơn hoạn nạn, không vì danh lợi mà chà đạp lên tình người, không vì những đố kị và oán hận riêng tây mà hại người, không nên “hành” những nghề lừa bịp tức cười như lang băm, thầy bói, thầy pháp nhảm nhí . Cái đạo lý rất mực dân dã ấy thực ra lại là rường cột của nền đạo đức của cả một dân tộc, là cội nguồn của hạnh phúc con người. Cái kết thúc “có hậu” củaphản ánh quan niệm của nhân dân đối với những ai biết giữ gìn đạo đức (nhưTiên, Kiều Nguyệt Nga, Vương Tử Trực, Hớn Minh .). Ngược lại, những nhân vật như Võ Công, mẹ con Thể Loan, Trịnh Hâm, đã phải trả giá đắt chỉ vì họ đã vứt bỏ cái đạo làm người đó. Là tác phẩm viết cho quảng đại quần chúng, chuyên luận bàn về luân lí đạo đức,được sáng tác, cốt truyện mạch lạc và hấp dẫn, đậm đà màu sắchoá Nam Bộ. Đọcchúng ta cảm nhận được cái tinh thần đạo đức cao quý và tình người chan chứa hiện ra phơi phới trong mỗi trang thơ. Các nhân vật chính nhưTiên, Kiều Nguyệt Nga, Vương Tử Trực, Tiểu Đồng, và các nhân vật phụ như Thể Loan, Kiều Công, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm . được tác giả miêu tả nkhá sinh động, có cá tính. Đặc biệt nữ nhân vật Kiều Nguyệt Ngangười con gái Việt Nam đức hạnh nết narõ ràng có một cuộc sống nội tâm khá phong phú, sâu sắc, một sự thông minh dễ thương và một đức kiên trinh đáng khâm phục, khiến chúng ta không thể không xúc động và yêu quý nàng. Tất cả những điều đó giải thích vì saođã được đông đảo quần chúng nhân dân, nhất là nhân dân Nam Bộ, mến mộ suốt hơn một thế kỷ qua; vì saođã đi vào ca dao:Cho tôi một tiền, tôi kể. TP. Hồ Chí Minh tháng 10-1996 Thiên ChươngVÀ NHỮNG KINH NGHIỆM VÀO ĐỜIVÀ NHỮNG KINH NGHIỆM VÀO ĐỜIThiên Thụlà một truyện nôm, là một tự thuật củavề cuộc đời gian truân của ông. Ông là một thiếu niên của Giathành, thân phụ người Trung, mẹ người Nam. Ông đã lo học tập, ước mơ một cuộc đời tươi sáng. Ông đã mang hy vọng đó khi ra kinh ứng thí. Nhưng rồi cuộc đời và lịch sử đã mang tai họa đến với ông. Nghe tin mẹ mất, ông phải bỏ thi về thọ tang. Vì khóc quá nên ông mù mắt. Ông mất khá nhiềuđể chửa binh nhưngmất tật mang. Một năm sau về đến nhà thì giagái từ hôn. Rồi Pháp đến xâm chiếm nước ta, dân chúng chết vì đạn Pháp, nhà cháy vì thưc dân đốt phá. Ông phải bỏ Giamà về Bến Tre. Cuộc đời của ông hòa lệ với dân tộc Việt Nam. Nhất là đòi tư của ông là những trang tiểu thuyết bi thảm. Có lẽ muốn tránh người đời tò mò, hoặc cũng như thói thường các tiểu thuyết gia Việt Nam vay mượn truyện Trung Quốc, ông cũng dùng bảng hiêu Tây Minh để cho bình thường hóa tác phẩm của ông. 2là biểu tượng con người trong cuộc đời. Sinh ra trên cõi đời, một số người hạnh phúc, nhưng một số người lại gặp bất hạnh.là cuộc đời của những người bất hạnh này. Nhìn chung, cuộc đời con người có thể chia ba giai đoạn:thuở thiếu thời, trung niên và tuổi già. Cuộc đờicũng vậy. Ta có thể chia ba thời kỳ: vào trường, vào đời và chung cuộc. I. VÀO TRƯỜNGlà một chàng thư sinh, theo thầy ở trên núi, nghĩa là một người còn trẻ, đang học tập, chưa ra đời làm việc, hoạt động và sống với đời sống thực: Theo thầy nấu sử xôi kinh, Tháng ngày bao quản sân Trình lao đao. (11-12) Chàng học tậplẫn võ để chuẩn bị cho tương lai ra đời giúp nước, cứu dân:đà khởi phụng đằng giao, Võ thêm tam lược,thao ai bì.(13-14) Sau một thời gian học tập, người trai phải từ giã thầy và mái trường để dấn thân vào đời.Ngày trọng đại đã đến,phải từ giã thầy mà xuống núi để nhập trường thi: Xảy nghe mở hội khoa thi,vào tạ tôn sư ra về. ( 15-16 ) Tuổi trẻ nuôi nhiều mộng mơ.hy vọng sẽ thi đỗ, làm quan, và đem tài ra giúp nước: Chí lăm bắn nhạn ven mây, Danh tôi đặng rạng, tiếng thấy đồn xa. Làm trai trong cõi người ta, Trước lo báo bổ sau là hiển vang. (21-24) Sự đời thay đổi, và cuộc đời không có gì bảo đảm. Có thể thành, có thể bại. Tuy là nuôi hy vọng, ai cũng lo sợ đường đời trắc trở. Bậcsư đã nhìn thấy tương lai sóng gió củaTiên: Nhân cơ tàng sự dặn rằng, Việc người chẳng khác việc trăng trên trời. Tuy là soi khắp mọi nơi, Khi mờ, khi tỏ, khi vơi, khi đầy. (69-72)Bá Học đã nói đúng tâm trạng và chí khí của những chàng trai vừa lớn lại nuôi mộng cao xa: Người ta đươngthiếu niên, lòng xuân phơi phới như trăng mới lên, như hoa mới nở, sự đời chưa hề từng trải, tư tưởng những sự cao xa. ( Lời khuyên học trò ) Trừ những người vì hoàn cảnh khó khăn không đến trường được, đa số thanh niên khi từ giã mái trường đều nặng lòng thương nhớ: 3 Ra đi vừa rạng chân trời, Ngùi ngùi ngó lại nhớ nơi học đường.(77-78) Mái trường cũ là thiên đường đã mất, là bảo tàng của tuổi thơ, vì vậy, sau này xa quê, ai cũng nhớ mái trường cũ. Những ngày ở mái trường rất đẹp, là giai đoạn bình minh của cuộc đời. Rời xa mái trường, nghĩa là giã từ tuổi thơ, giã từ hạnh phúc để đi vào cuộc đời đầy sóng gió. Mái trường củaở trên non cao, là nơi thanh tịnh, nơi tu hành, nơi xa trần tục. Rời non cao để vào đời là bắt đầu đi vào phong ba, bão táp. Đây là cuộc đời đi xuống, cuộc đời trần tục. II. VÀO ĐỜI Vừa rời khỏi mái trường, con người đa số phải đối đầu với bao thực trạng xã hội xấu xa. Khi vào đời,đã trải qua nhiều kinh nghiệm, mà trong đó có những kinh nghiệm tốt đẹp, và những kinh nghiệp đắng cay. 1. GIẶC CƯỚP Xã hội nào cũng có những bọn giặc cướp, chỉ khác nhau ở chỗ công khai hay bí mật, mạnh hay yếu, tàn bạo nhiều hay it. Giặc cướp đây bao gồm tất cả những cá nhận hay nhóm người nào chiếm đoạt tài sản quốc gia, hay tư nhân, vi phạm quyền lợi nhân dân, giết hại và gây đói khổ cho nhân dân. Không phải chỉ có bọn Lương Sơn Bạc mới là ăn cướp. Bao thời đại, có rất nhiều bọn cướp và hình thức ăn cướp. Bọn chúng mặc áo nhà tu, đoàn thể cách mạng, công ty thương nghiệp, hay hội đoàn từ thiện. . .Nhưng phổ biến nhất là bọn vua chúa tàn ác, và quan lại tham ô, chúng là một bọn cướp như nhân dân ta quan niệm rất chính xác: Con ơi con nhớ lời này, Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan ( ca dao)vừa xuống núi là gặp ngay bọn cướp: Nhân rày có đảng lâu la, Tên rằng Đỗ Dự, hiệu rằng Phong Lai. Nhóm nhau ở chốn sơn đài, Người người sợ nó có tài khôn đương. Bây giờ xuống cướp thôn hương Thấy con gái tốt qua đường bắt đi. Xóm làng chẳng dám nói chi, Cám thương hai gã nữ nhi mắc nàn. Con ai vóc ngọc, mình vàng, Má đào, mày liễu dung nhan lạnh lùng. E khi mắc đảng hành hung, Uổng trang thục nữ sánh cùng thất phu. Thôi thôi chẳng dám nói lâu, Chạy đi cho khỏi kẻo âu đến mình (101-114) 4là hạng người theo chánh nghĩa, không thể đứng yên nhìn bọn cướp hoành hành. Chỉ có chàng là một thanh niên mới lớn, tâm hồn còn trong trắng, còn thật lòng theo Phật, theo Khổng, còn nuôi mộng cứu khổn phò nguy, cho nên đã hăng hái đem bầu nhiệt huyết cùng tính mạng một mình tranh đấu chống bọn tham tàn:ghé lại bên đàng, Bẻ cây làm gậy, bên đàng chạy vô. Kêu rằng bớ đảng hung đồ, Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân. (123-126 )là biểu tượng của Chân, Thiện Mỹ. Tâm hồn chàng là tâm hồn một thư sinh trong sáng, ngọn lửa chánh nghĩa bùng lên trong tim. Hạng người như chàng nuôi mộng cao xa, rất có đạo đức. Họ không ghen ghét người giỏi, khinh bỉ người hèn, không ăn hối lộ, không trộm cắp của công, không lừa đảo dân chúng, không mưu hại đồng nghiệp, không nghiện bài bạc . Nhiều người chỉ tríchkhô khan, nhưng đó cũng là một sự thực: trong đời có nhiều người không mê nữ sắc, không tham dâm, không mêtài, danh vọng. 2. TÌNH YÊU Gặp Kiều Nguyệt Nga là một kinh nghiệm thứ hai củaTiên. Đó là kinh nghiệm về tình yêu.là một chàng trai mới lớn, chưa hề quen biết một cô gái nào, và cũng chưa hề yêu đương cho nên đối với nữ nhân chàng còn nhiều e ngại. Hơn nữa, chàng thuộc thế hệ nho sĩ ngày xưa, trọng nghĩa khinh tài, biết thủ lễ và tránh những hành động có thể bị coi là lợi dụng.khó nỗi làm thinh, Chữ ơn buộc lại chữ tình lây dây. Than rằng đó khó trêu đây, Ơn kia đã mấy, của này rất sang. Đương khi gập gỡ giữa đàng, Một lời cũng nhớ, ngàn vàng chẳng phai. Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài, Nào ai chịu lấy của ai làm gì. (201-08) Chàng không phải là hạng người lịch duyệt, biết ân cần, săn sóc phụ nữ, nhưng chàng đã vồn vã, lịch sự chào hỏi Nguyệt Nga mặc dầu chànggiữ một khoảng cách với nàng:nghe nói động lòng, Đáp rằng: Ta đã trừ dòng lâu la. Khoan khoan ngồi đó chớ ra, Nàng là phận gái,ta là phận trai. Tiểu thư con cái nhà ai? Đi đâu nên nỗi mang tai bất kỳ? Chẳng hay tên họ là chi? 5 Khuê môn phận gái việc gì đến đây? (143-150) Còn Nguyệt Nga đưọccứu thoát bàn tay bọn cướp, nàng cảm ơn cứu tử và cảm động vì hành động hào hiệp, can đảm của chàng. Đa số người nữ thường rung động trước sự giúp đỡ, và tình cản nồng hậu của nam nhân. Anh hùng cứu mỹ nhân, mỹ nhân yêu anh hùng là một đề tài phổ biến xưa nay. Nàng đã yêu chàng ngay trong buổi đầu. Hành động gửi tặng vật là một cách biểu lộ tình yêu một cách kín đáo. Khitỏ vẻ lạnh lùng, nàng đã hờn dỗi. Cử chỉ của nàng rất đáng yêu: -Vật chi một chút gọi là, Thiếp thưa chưa dứt, chàng đà làm ngơ. Của này là của vất vơ, Lòng chê cũng phải, mặt ngơ sao đành .(197-200 ) -Thưa rằng chút phận nữ nhi, Vốn chưa biết lẽ có khi mích lòng. Ai dè những đấng anh hùng, Thấy trâm thôi lại thẹn thùng cùng trâm. Riêng than trâm hỡi là trâm, Vô duyên chi bấy ai cầm mà mơ. (209-14) Từ trướcchưa yêu ai. Tình yêu của Nguyệt Nga là một kinh nghiêm đầurất tươi thắm trong đời chàng. 3. HÔN NHÂN Ngày xưa, người Việt Nam lấy vợ sớm, và hôn nhân do các bậc cha mẹ quyết định. Hai bên cha mẹ đãïước từ trước, có khi hai trẻ còn nằm trong bụng me . Chàng là một thanh niên đầy hứa hẹn tương lai cho nên đã được nhà gái đón tiếp nồng hậu khi chàng đến thăm trước khi vào kinh ứng thí. Vị hôn thê của chàng là Võ Thể Loan đã ân cần với chàng trước khi chia tay: Chàng dầu cung quế xuyên dương, Thiếp xin hai chữ tao khang cho bằng. Xin đừng tham dó bỏ đăng, Chơi lê quên lựu, chơi trăng quên đèn.(709-12) Không hiểu vì chịu ảnh hưởng các truyện xưa tích cũ về tình nghĩa vợ chồng, hoặc vì linh tính,đã trả lời Võ Thể Loan bằng giọng điệu nghi ngờ:rằng như lửa mới nhen, Dễ trong một bếp mà chen mấy lò? May duyên, rủi nợ dễ phô, Chớ lo Ngô Khởi, hãy lo Mãi Thần. (713-16) 6 Giahọ Võ đã đem lại cho chàng nỗi niềm cay đắng trên bước đường đời. Khi chàng bị mùa lòa, chàng liền nghĩ đến vị hôn thê và giabên vợ. Chàng là người mới bước vào đời, lòng còn trong sáng, còn tin tưởng vào lời hứa hẹn của người đời. Vì vậy, sau khi ngư ông cứu chàng thoát chết trong giòng sông sâu, chàng ngỏ lời cậy ngư ông đưa chàng đến nhà nhạc gia để họ giúp đỡ chàng khi nguy nan:rằng xưa đã gá lời, Sui gia ai nỡ đổi dời chẳng thương. Vợ chồng là đạo tang khang, Chi bằng tới đó tìm phương gửi mình. Trăm năm muốn trọn ân tình, Đương khi hoạn nạn ai đành bỏ nhau. Chút nhờ cứu tử ơn sâu, Xin đem tới đó, trước sau cho tròn. (981-988) Ngư ông là người từng trải việc đời, đã nghi ngờ họ Võ sẽ thay lòng đổi dạ khi thấy chàng thất bại công danh và mù lòa. Ông ngỏ lời khuyên can chàng nhưng chàngkhông nghe ý kiến của ngư ông: Ngư rằng làm đạo rể con, Cũng như sợi chỉ mà luồn trôn kim. Sợ bay mà mỏi sức chim, Bơ vơ cảnh lạ, khôn tìm cây xưa. E khi chậm bước tới trưa, Chớ đi sông cũ , bến xưa mà lầm. Mấy ai ở ở đặng hảo tậm,, Nắng đun chót nón, mưa dầm tả tơi. Mấy ai hay nghĩ việc đời, Nhớ nơi nghèo khổ, quên nơi sang giàu. Đã ba thứ tóc trên đầu, Gẫm trong thế sự thêm âu cho đời.( 989-1000) Nhưng niềm tin ngây thơ của chàng đã bị tan vỡ. Chàng bị mù lòa lại bị từ hôn. Cay đắng nhất là vị hôn thê của chàng đã dùng những lời thô bạo đối với chàng. Chàng là người chung thủy, nhưng nhân thế đã thay lòng đổi dạ: Loan rằng: Gót đỏ như son, Xưa nay ai dễ đem chôn xuống bùn. Ai cho sen muống một bồn, 7 Ai từng chanh khế sánh phồn lựu lê. Thà không trót chịu một bề, Nỡ đem mình ngọc, dựa kề thất phu. Đã công chờ đợi danh nho, Rể đâu có rể đui mù thế ni. . (1027-34) Chính Võ Thể Loan, vị hôn thê của chàng đóng vai trò tích cực trong việc đổi trắng thay đen. Nàng đã táo bạo đề nghị với cha mẹ cho nàng kết hôn cùng Vương Tử Trực, bạn củavừa đỗ thủ khoa: Đã nghe người nói hội này, Rằng Vương Tử Trực chiếm rày khôi khoa. Ta dầu muốn kết xui gia, Họ Vương, họ Võ một nhà mới xinh.(1035-38) Khi Võ ông đem chàng bỏ hang sâu, chàng mới hiểu rõ lòng dạ người đới:khi ấy hãi hùng, Nghĩ ra mới biết Võ công hại mình.(1059-60). 4. ÁC NHÂN Bọn gian ác ở khắp mọi nơi.Trong hàng ngũ trí thức cũng có kẻ gian ác mặc dầu nho sĩ vốn xuất thân cửa Khổng sân Trình, học nhân nghĩa lễ trí tín. Trên đường vào trường thi, chàng đã gặp bọn Trịnh Hâm, Bùi Kiệm. Bọn này đã vào trường thi cùngvà Vương Tử Trực. Bọn này học kém, không làm được bài thi.Thấy Vương vàlàm được bài, chúng sinh lòng ghen ghét, cho rằng Vương vàviết tùng cổ thi (464). Bọn họ đã cùngvà Vương Tử Trực uống rượu, làm thơ. Ông chủ quán là người bình dân, nhưng môi trường làm việc của ông là quán khách, có nhiều loại người lui tới cho nên ông tiếp xúc với nhiều người và hiểu tâm tính của họ. Vì vậy, ông xem qua cách làm thơ của bọn này đã biết Trịnh Hâm và Bùi Kiệm thuộc loại lừa thầy, dối bạn:rằng: Ông quán cười ai, Quán rằng cười kẻ bất tài đồ thơ. Cười người Tôn Tãn không lừa, Trước đà thấy máy chẳng dè Bàng Quyên. (467-70) Khi bọn này trả lời ông chủ quán, ta thấy rõ tính vô lễ và khinh người của chúng: Kiệm rằng: Lão quán nói nhăng, Dầu cho trải việc cũng thằng bán cơm. Gối rơm theo phận gối rơm, Có đâu ở thấp mà chồm lên cao. (523-26 ) Khi tin nhà đưa đến, nghe tin mẹ già mất,khóc mù mắt, bỏ cuộc thi trở về quê cũ. Giữa đường chàng lại bọn này, chàng mù lòa nên phải trông cậy bạn giúp đỡ: 8rằng: Tình trước nghĩa sau, Có thương xin khá giúp nhau phen này (863-64) Ở đời, lòng dạ con người khó lường. Ta không hề gặp mặt họ, ta cũng không tranh quyền đoạt lợi của họ. Ta cũng không cướp tài sản hoặc giết hại cha mẹ, anh em họ, thế mà họ thù ghét, oán hận ta. Họ nói xấu, vu khống ta. Thậm chí họ có thể giết hại ta.không có thù oán gì với bọn này, không ngờ Trịnh Hâm, Bùi Kiệm chỉ vì ganh tài mà hãm hạiTiên. Chúng đem tiểu đồng vào rừng trói lại cho cọp ăn, rồi đêm đến xôxuống vực sâu. Ngoài Trịnh Hâm, Bùi Kiệm,còn bị ba nhân vật gian manh khác bóc lột, lường gạt là thầy thuốc, thầy bói và thầy pháp. Ba ông này giống nhau hai điểm chính. Thứ nhất là tự quảng cáo, là khoe khoang, khoác lác. Ông thầy thuốc: Ngang rằng: Ta ở chốn này, Ba đời nối nghiệp làm thầy vừa ba. Sách chi cũng đủ trong nhà, Nội kinh đã sẵn, ngoại khoa thêm màu. Trước xem y học làm đầu, Sau xem Thơ Thế, thứ cầu Đông Y (665-770 ) Ông thầy bói: Ta đây nào phải các thầy, Bá vơ, bá vất, nói nhây không nhằm. Ôn nhuần Châu dịch mấy năm, Sáu mươi bốn quẻ, ba trăm dư hào. Huỳnh Kim, Dã Hạc sách cao,nhâm,giáp, chỗ nào chẳng hay. (715-20 ) Ông thầy pháp: Pháp rằng: Ấn đã cao tay, Lại thêm phù chú, xưa nay ai bì. Qua sông, cá thấy xếp vi, Vào rừng cọp thấy phải quỳ lạy đưa. Pháp hay hú gió, kêu mưa, Sai chim, khiến cọp, đuổi lừa, vật trâu. Pháp hay miệng niệm một câu, 9 Tóm thâu muôn vật vào bầu hồ linh. (673-70 ) Ba ông thầy này đều giống nhau là tham lam, luôn chú trọngbạc. GặpTiên, cả ba thầy trướclà hỏibạc. Thầy thuốc chưa chửa bệnh đã hỏi tiền: Gặp ta bệnh ấy ắt lành, Bạctrong túi sẵn dành bao nhiêu? (659-60 ) Thầy bói chưa gieo quẻ đã hỏi tiền: Đặtquan mốt bốn mươi, Khay trầu chén rượu cho tươi mới thành. Thầy bèn gieo đặng quẻ lành. (723-25 ) Ông này sau một hồi ba hoa, đã đề cập đến tiền: Có ba trăm lạng đưa sang, Đặng thầy sắm sửa lập đản chửa cho. (775-76 ) 5.THIỆN NHÂN Cuộc đời có nhiều màu sắc và có nhiều mâu thuẫn. Nếu trong cuộc đời có những kẻ ác thì cũng có những người hiền lành, nhân từ đức hạnh.đã gặp bọn gian ác nhưng chàng cũng đã gặp những người trung hậïu. Nguyệt Nga là ánh trăng rằm trong đời chàng. Ông chủ quán là người bình dân nhưng ông thực sự là tay minh kinh bác học. Những lời nghị luận của ông chúng tỏ ông học rộng, hiểu nhiều và là người trung trực : Quán rằng ghét việc tầm phào, Ghét cay ghét đắng ghét vào tới tâm. Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm, Để dân đến nỗi sa hầm, sẩy hang. Ghét đời U Lệ đa đoan, Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần . . . . . . . . . . Thương là thương bậc thánh nhân, Khi nơi Tống, Vệ,Trần,Khuôn. Thương thầy Nhan tử dở dang, Ba mươi mốt tuổi tách đường công danh. Thương ông Gia Cát tài lành, Gặp cơn Hán mạt đã đành phôi pha. . .(479-494) 10 […]… nhân (119 2-9 4) 11 Đó là lẽ báo ứng, là luật nhân quả mà Khổng và Phật luôn đề cao trong kinh điển, trongchương và trong đời sốnglà giấc mơ của Nguyễn Đình CHiểu Lụcđã qua cơn hoạn nạn và được vinh hiển, trái lại, Nguyễn Đình Chiểu một đời khốn khó, bản thân ông cũng như quốc gia Việt Nam phải trải qua bao nỗi dắng cay từ khi mất nướcThiên ThụbảnTiên, những… luận và các nhà nghiên cứuhọc chú ý Về cuốn phim màunăm 1957 Thi phẩmcủahàoÐìnhđã từng được soạn thành tuồng cải lương, trình diễn trên sân khấu từ thập niên 1940 và cho đến nay thỉnh thoảngcòn thấyTiên- Nguyệt Nga xuất hiện qua các sô hát ở hải ngoại Về cuốn phim màunăm 1957 Thế nhưng, về lãnh vực phim ảnh thì chỉ duy… Bị tin một gậy chàng rày mạng vong Đây là câu 136 trongCa Diễn Chữ Tin được viết là(bộ nhật + sơn) nên tất cả các bảnđều ghi là: Bịmột gậy, chàng rày mạng vong Người đầuxướng lên cách đọc nàylà Jan-nô và A-ben đê Mi-sen, sau đó đến Trương Vĩnh Ký và tiếp tục cho đến ngày nay Thực ra, đọc là bịmột gậy tuy không được ổn thỏa nhưng cũng dễ hiểu;… Pháp văn, tức là tác phẩmCa Diễn, trước sau chỉ lèo tèo có mấy học giả quan tâm nghiên cứu và chú giải truyệnTiên: Aubaret, Bajot, Trương Vĩnh Ký, Sorilène,Thanh Tâm, Ngọc Hồ Nếu truyệnđã phải cam chịu thân phận hẩm hiu không được hoan nghinh và phổ cập rộng rãi trong thượng tầng xã hội trí thức Việt Nam thì ngược lại, truyệnđã được nồng nhiệt… thíchTôi đã phát hiện hàng trăm trường hợp cóđề phải cân nhắc lại cách phiên âm chữ Nôm và cách hiểu các từ cổ trongTrong bài này, tôi chỉ nói đến hai trường hợp, đến câu thơ số 1233 và số 136 Để làm công việc này, tôi dùng bản NômCa Diễn (LVTCD) của Trần Ngươn Mạnh làm bản gốc; bản này tuy không phải làbảnlàm sao có thể có đượcbảnVân. ..xuất hiện một cách bình thường từ câu 144:nghe nói động lòng Nếu đọc câu thơ 136 là: Bịmột gậy, chàng rày mạng vong, ta sẽ làm đổ vỡ cấu trúc toàn bộ đoạn văn, hiểu sai lạc ý của tác giả Xét về mặt chữ Nôm, các nhà phiên âmđã có lý khi họ phiên âm chữ(bộ nhân + sơn) làtứcTiên, nhưng chữ(bộ nhân + sơn) rất giống với chữ tín (bộ nhân +… dân tộc Trong truyện của Nguyễn Đình Chiểu , câu “Vợlà Trực chị dâu” là câu thơ bị dư luận phê bình nhiều nhất Có người coi đó là một câu thơ “dễ dãi, chưa được trau chuốt”, có người chỉ giải thích đó là “tác giả theo cú pháp chữ Hán” nhưng có nhiều người đã cho câu thơ này chỉ là một câu vè, không xứng đáng vớitài trác tuyệt của Nguyễn Đình Chiểu Người đầuchịu trách nhiệm… vách 17 mạch rừng Nay với Truyệndo ông biên soạn, chú giải, khảo dị và phục dạng, thêm một lần nữa, ông đã nhiệt tình góp phần không nhỏ vào việc bảo tồn các ángcổ viết bằng chữ Nôm và hoàn chỉnh tiếng Việt phổ thông * TruyệnChữ NômBá Triệu biên soạn, chú giải, khảo dị, phục dạng Tác giả xuất bản Printing 2003-ISBN 0-9 73021 4-0 -3 byBa Trieu, 22 Elderwood… nhất Trong Truyện Kiều,Du đã ghi được từ tin theo nghĩa này: Phỏng tin được một vài phần hay không (Truyện Kiều, 2194); Đã tin điều trước ắt nhằm việc sau (Truyện Kiều, 2410) Trong câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu : Bị tin một gậy, chàng rày mạng vong, tác giả làm nổi bật được một sự kiện quan trọng là uy vũ củaTiên: tác giả câukhông nhắc đến tên củaTiên, không mô tả việc… còn người bình dân miền nam ai cũng thuộc lòng truyệnTruyện Kiều rất phổ biến ở miền bắc cho đến Huế Truyệnrất phổ biến ở miền nam và cũng chỉ ra tới Huế Đi về hướng nam quá khỏi Huế thì không còn thấy truyện Kiều Đi về hướng bắc quá khỏi Huế thì cũng không ai biếtMà Huế thì đúng là nằm trên trục Đà Nẵng-Tchépone Vậyđề được đặt ra là sự khác biệt về địa . Tiên Vân Tiển Vân Tiền Cho tôi một tiền, tôi kể Vân Tiên. TP. Hồ Chí Minh tháng 1 0-1 996 Thiên Chương LỤC VÂN TIÊN VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM VÀO ĐỜI LỤC VÂN TIÊN. Nguyễn Đình Chiểu: Nhà thơ yêu nước nồng cháy và một nhân cách lớn Lục Vân Tiên: Một tác phẩm chấn hưng phong hoá dân tộc Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888)

Xem thêm:   Luyện từ và câu lớp 5 tuần 7 – Từ nhiều nghĩa – Tiếng Việt lớp 5 tuần 7 trang 66, 67

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Giáo Dục

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Kiến Thức Chung

Related Articles

Back to top button