Kiến Thức Chung

Full text of “Dai Nam quoc luoc su cua Nguyen Van Nhan”

Full text of “Dai Nam quoc luoc su cua Nguyen Van Nhan




BẠI-NAM QUÔC 

LƯỢC Sư 





t 


SÁCH CHỦ BÚT ÀY VIẼT. 

"V t 

V 

N 

La Nouvelle-Calédonie depuis sa découverte 
(1774) jusqu’a nos jours. — Essai historique. — Un 
voi. m-8o carr é avec une carte photo-lithographique 
(E. DENTu Paris. - 1882). T . 2 * 00 

Abr^g de 1’Histoire d’Annam. Un vo). in-Ro 
ẻcu (Ịrnp rimerie CLAUDE & Ớe à Saigo.n. - 1900) 
(Deuxièrtie édìtion sous presse) 2 8 00 

Les Iristỉtutions Annamites en Basse-Oiỡchin- 
chine avant la conquête ỉranọaise, 3 voi. in-8o écu 
(Imprimerie CLAƯDE * c*e à Saigon. — 1900-1902). 9 8 00 

Etụde SUP | a Constitutìon de la Propriẻté 
foncièx*Q en Coehinchine. ưn vo). in-8« raisin 
(Impnmepie commerciale L.MÉNARD ĩìSaigon. — 1902) 3 ỉ 00 

LeLỉv*%e foncier suivi du Rapport au Uieulenant- 
Gouverneur đe la Cochiủchine sur !’organisation de 
1*1' tnma ^ l^ìculation ĩoncière en divers pays. Un vol.in-8° 
raisin (Itìnprimerie Commerciale à Saigon. — 1904) 2 8’C0 

Deux; questions SUI* la guerre. Un vol. in-8° 
ẻcu (Imp H ^ erie CLAUDẸ à Cie ả Saigon. - 1905). . 2 $ 00 


f 

Cđc sách ,nằy ông chủ bút bận tại nhà minh, 
37 rue d e Bangkok, Saìgon. 



ALF RED SCHREINER 


ĐẠI-NAM QUỐC 

Lưực SỪ 


NổUYỄN-YĂN-NHÀN 

điên ra quốc NGử THEO KÌ IN TlẾNG' LANGSA LẲN 
THỨ HAI, CÓ CHỦ BÚT QUAN sóc 



SAIGON 

Alpred SCHREĨNER, Chủ bán sách 
37 rue de Bangkok 37 ■ 


Tous droits réservẻs 
(Cấm không cho in theo) 


Rõ 3ÁCH 





Saigon. — c í AU DE ií o, ímprimeurs-ÉđHeurs ■ • 

* ’ 



” ị". 

* ■ - 

. , * M 




TỰA 


Dầu con ngưổ’i ăn ỏ’ cách di địch, hay 
là hưởng đặng các đẻu ích lọi bõ'i sự 
giáo huân trồi xa, thòi cũng có ý tọc 
mạch luồn, là muốn biêt làm sao, vì cở 
nào mình ỏ' chỏ mình đang đình trú bày 
giờ, bỡi đàu các tiên nho*n đèn đổ, can 
cội, sự sống các đảng ảy thề nào, việc 
làm, danh sự dưỏ-ng bao. Nơi kẻ mọi 
rợ, có khi sự cắn bièt đều ày phải có 
ngàn, bỗ’i trí tinh tường ván vồi mà ra ; 
từ tồ phụ, tồ mấu sấp lèn, thường thưò-ng 
không bièt chi nửa; lại cũng phằi nói 
rằng chằng có việc gì quan tâm cho kc 
ằy^. Gòn no*i ngưòi thuán tục, sự ao ưó’C 
hiều việc mảy đời trưó*c khai sáng, thì 
mạnh lám, bỗ*i vì nó chảng còn phải 
sự ước ao mà thòi, song là đêu cán kièp, 
như chúng ta sè thày sau đây. 

Cách sống thưỏ-ng ngày, sự thù tạc 
con người vói kè khác, chang phầi buộc 
lè thông thái mà thòi, lại cách trải việc 
nửa. Ạy vậy, chảng ai đặng sự từng 
trằi việc đời trong thi vắn vòi náy, tử 
ngày sir^i ra cho tới khi chèt; nó bời 



học bièt cách ăn ờ một đám nhơn loài, 
chằng những kim thời, mà lại tiẻn nhựt 
nửa. Sự trài cuộc thè bời những công 
việc thiên hạ đời kia đời nọ làm tích 
trử đề lại. Đó lả gia tài tồ tông di truyền, 
mà mỗi người trong chúng ta thèm vô 
một chút, trước khi trồi cho kè hậu kè, 
lại tới phiên chúng nó, cũng ỉàm như 
chúng ta vậy. 

Cách thạo chuyện náy cán kíp cho mày 
kè ồ* riêng nhau, nó lại thậm quan yếu 
cho các đám con ngưò-i qui hội, các dàn 
vạn quòc. Muồn cho lê .thứ nào ăn ở 
trúng lý, trước hèt, -phằi bièt nưó;c khác 
sữa trị thể nào, tiên nhơn hành sự. làm 
sao, danh việc nào đã thi vị, đều lảm 
lồi chi đã phạm. Hữu ích cho ta đặng 
bièt những nhơn đức cùng mọi tính xàu 
người. Gưo‘ng các đứng ây đề lại chỉ 
cho ta cái nào nên noi theo, cái chi phài 
lánh. 

Như nội gia nào, con cháu có phép 
lày tài đức cha mẹ mà khoe mình, cùng 
phằi lánh đều quày người đã sa phạm, 
huòng chi một dân kia có căn bồn, phát 
sinh, tuyệt tông, cũng như bằtluận là 
ai trong chúng ta, mà không làm thề 
ày sao. Tùy cách lê dân ần ở trúng lý 



- ffi - 

hay là sải lê, thì đặng an lạc hoặc lao 
đao, hường thọ làu dài hay là một ít lâu 
mà thôi. Nhưng vậy, muốn àn ờ khỏn 
ngoan, ta xin nhẳo lại một lán nừa, là 
phải biêt việc ông bà thuở trước làm sao. 
Như vậy, nối gót trong việc lành cùng 
răn mình vê đẻu hư từ ngưòi mới đặng. 

Bièt việc nào nên làm, lẽ chi phằi 
lánh, nhờ truyện dạy mà ra; học nó mới 
hiều cách thạo đời cán kièp trong vụ giúp 
nước và ăn ỏ’ với thiên hạ. Chảc cỏ lẽ 
gặp đôi khi trong truyện- náy một ít đoạn 
rằt xâu, song nó cũng dành để khoàn 
khác thật rỏ’ ràng. Bò qua khúc chằng 
hay mà coi phản tòt, là thàm thụa vô 
lường. Phai đọc sự lành, sự dừ, đặng 
bièt chuyện đời đề dùng ngày sau.^ 

Người nào khôn tường thông phồ xứ 
mình, chằng xứng làm quan, lo việc nước, 
lại cũng không đảng làm lê thứ nửa. Theo 
lẽ chung, ta nói kè nào chằng rò truyện 
tích tỏng môn mình, thòi tỷ như người 
tha phương kia ờ giửa gia quyẽn nó vậy, 
không gọi là chi hèt. Ngày nào người 
ằy thuộc hiều các việc tiên nhơn minh 
đã tác vi, thời mới gội mình thiệt lương 
thán, lại dùng đặng gương nhửng đứng 
đại nhơn đề lại mầ cáu cạnh, như nó 

'4 



mượn hơi vinh vang mày người trong 
họ hàng đã được đanh vọng vậy. 

Ai ai cũng có quê hương, như có gia 
thàt. Phải tồn kính, mèn yèu cà hai, lại 
có kinh yêu đặng thật, là khi hiều thàu 
những chuyện nhà cùng chung quanh 
mình, và bièt việc kim thời, cồ tích, Sự 
truỹen ngôn dạy về gia đạo, còn s ừ kỷ 
vẻ tồ quản. Như muồn làm ngưòi hàõ 
tàm, chớ bò sự nào trong hai đêu náy, 
bò’i chưng tại đỏ, người ta tìm đặng bội 
hơn mọi nơi khác, các gương lảnh đề 
noi theo, ỉại trong cơn khốn khó, nhiẻu 
lò’i khuyên giài, giúp lòng mạnh mè, cùng 
trông cậy ỉuỏn. 

Sách ta đã chép ra chàng phài về một 
bực người mà thôi, nó đề cho thày thày. 
Những đứng yẻn hào cảc nước, các dòng 
các đòi đồng như nhau, mây thiện công 
đẻu lưu hậu thè, lại như cỏ lâm vàp 
chuyẹn 1"1I* l^cn — vì nhơn loài khôn 
tuyèn hằo — thì cũng phải tỏ cáo nỏ 
nửa, ngỏ cho khòi tái phạm ngày sau. 
Sách ta là bài học chung, chàng phân 
biệt ai, mỏi ngưòi dụng nó được ; chơ chi 
nỏ tằn ích cho ngưòi nào chạy đèn cùng 
nó,- đó là chính lời ta chúc cảu ho-n hèt 

Saìgon, ngày 25 tháng AvriM905. 



ĐAI NAM Qưỏc 

Lược SỪ 

— — — 

KHOẢN THỨ NHỨT 



Bờ cỏi nước An-Nam. Tiền .nhựt. — Nhá 
Hòng-Bàng. — Sụ cai trị uua nước Thục. — 
NTỉà Triệu. 

Bở CÒI NƯỚC AN-NAM 

Xử người an-nam ỏ' ngày nav,. nhiều kẻ văn 
chương có họa ra một hình tạc ngưcỵi, như cái 
gánh kia vậy, một đầu thuộc miền sổng iNliỉ-Hà 
(Bẳc-Kỳ), đầu kia miền sông Kliong (Nam-Kỳ), còn 
đòn gánh là nước Àn-Nam chánh; hiệu, hav là 
Trung-Kỳ. 

Phía đông, phía nam cùng lày-nam xứ nầy có 
biền (là vịnh Bẳc-Kỳ, Trung-Quốc hải, vịnh Xièm- 
La). Phía bằc, cỏ một dấy núi cách nước Tàu ra, 
nghĩa là ’ tỉnh Vân-Nam, Quảng-Tà-y, Quảng-Bông 
cùng nhiều gò sủng không có tên chung., Phía tày 
có dày Ị núi dài chia nó với phần dất Sông-Dương 
dư ỉặỉỊ Gòn Nam-Kỷ như chồ chửa đất bồi lớn lảm, 



— 2 — 


cảng ngày cảng rộng ; lại lấy sòng rạch, vũng trấp, 
dường giao lân, vcri một khÚG đất núi, từ sông Khong 
CỈIO tới vịnh Xiêm, mả chia xứ Cao-Man ra. 

Ba phần đất' kề trước nầy.dều cỏ địa dồ khác 
nhau, người ta cũng nói đặng mỗi phần cỏ truyện 
tích rièng minh ; vẵ chăng, đất Trung-Kỷ đang thời 
tỷ như cuộc hòa hiệp về sử Bẳc-Kỷ củng sử Nam-Kỷ. 

Ta hảy xem xét lần Tân ba xứ nầy tử bắc chí 
nam, do theo Lích nó từ đời. 

TIÊN NHỤT 

Bẳc-Kỳ nay cũng còn kèn lù Bàng-Ngoài Ợ) luồn, 

0) Sánh vói Trung-Kỳ gọi là : Đáng-Trong . 

Ta viết các tieng hiệp lại làm một tên riêng an-nam bằng chữ 
hoa ; sự ấy khảc vói thói quen ngưò-i bồn quốc thưòũg viết 
Scái ; song rủi thay, sự sái nầy đã trảng trong cả và Bông-Dưo-ng. 
Cách ta viết hi’ẽu dự như sau nầy : 

Các nưó-c nào dùng chữ vần latin mả viết tiếng minh, dều 
dong ỷ lấy chữ hoa mà viết dầu các tên riêng. Khi tên nào có 
nhiều tiếng hộp lại mà có gạch ngân, mấy tiếng ấy phải viết bằng 
chữ hoa, trử ra tiêng chỉ giống, số một, sô nhiêu (aríicle) ; 
tiếng chỉ cho, ngày giò', cách ăn ả, nhiều ít (ạdvẹrbe) ; 
liếng dè trưửc tiếng bôi nghĩa tiếng khác (préposition) ; tiếng 
dê kết hai tiếng khác, hay là hai phân cảu nối làm mọt (con- 
jo»ction) mà dã xen trong tiếng viết nối mà thôi, thi thường 
dùng chữ nhỏ. Ta cho qui hữu rỏ thấy sau dây một ít ví dụ 
rút trong nhiều tiếng ngoại quốc. 

Mac-Cleỉlan, Nouuelle-Catédonie, Porl-Royaỉ, Charỉes- 
Qiunt, Girạldi-Cinlio, San-Juan, Pígueras-Moragas, Rio- 
Janeiro, Toussaint-Louueríure, Pont-Saint-Ẽsprit, Samte - 
Cỉaire-DeviUe, Saint-Amant-Roche-Sauine, quận còng Sch- 
lesĩvig-Holstein-Sonderburg, nhà Boncompơgni-Ludovisi- 
Oltoboni, nhà Doria-Pamphiỉị-Landi,. nhà Smithson-Sey- 
mour-Louvain-Percy. 



đòi khi kêu là ' Bẳc-Thành (1), như chỉ thảnh 
ấy là cả xử vạy. Tên Tonkin người phương Tày- đặt 

Phần khác, ngưòi ta thường viết Riom-ès-Moniagne, Chà - 
lons-sur-Mcu'ne, Pỉessis-les-Tours, Rive-de-Gỉer, Crépy-en- 
Vulỡis. Dầu dàỳ, tùy theo luảt chung mặc lòng, song dôi khi 
gặp ngưòi ta viết tiếng nào cũng bằng chữ hoa ; và chăng, ta 
chắc thiên hạ sẻ bỏ lần lẫn mấy gạch ngăn những tiếng nay, 
.Mù khi ấy các chừ nhỏ khỏ-i dầu tiếng ès, sur, ỉes mói trúng 
cách thật. 

Nếu, bày giò-, chúng la trải xem qua phép viết quốc ngữ là 
chữ vân latin ngirỏi an-nam dùng mà viết, thi, chánh lý, chủng 
u phải ép mình nhỉnh biết các cách thiên hạ dẵ chịu, mà 
tùng theo trong khi dùng vần ialin thề nào. 

Những tiếng Vân (LỐI, trần thiết), Sơn (núi), Đức (dửc), 
Kỹ (lạ), Tẩn (tứi), Đăng (thèm), Hiền (hiên), Phước (phưóc), 
Minh (súng), Phát (sanh), Kiêm (chồng •thêm) Thị (họ),v. V. 
dùng .làm chữ lót, như (Nguyen-Văn-Tran. ■Đinh-Sơn-I.ỳ. 
V. V.) ai nấy thấy nó là tiếng chỉ tèn, phụ triếu hay là còng 
cuộc, vậy phải viết IIÓ bằng chữ hoa, cũng như tiếng thử ha, 
nghĩa là tèn, chánh danh con ttgưòi. 

Mấy ai viết ■Đàng-ngoái, Nguyễn-ưăn-Trăn hiiv là Xgtiýèn- 
oan-trỗn, thi là viết lỗi, không lý chữa minh đặng, hoặc không 
thòng mẹo langsa, bằng chang chưa tường luật buộc về cách 
dùng vân latin dặilg viết tiếng các nưức thề nào. 

Sự dáng xót lòng cho ngưừi an-nam, là cỏ nhiêu kẻ khi 
buức chưn vào dirừng nào, không còn muốn ra nữa, dặug d 
dó, thì niấỵ ngưừi ấy lấy lẻ dối má chống lại ; chửng viết mấy 
tiếng lỏt nầy, nói rằng nó là tiếng phụ thêm , nên không viết 
nó bằng chừ hoa lùm chi, song thiệt không hiễu rỏ tiếng phụ 
thèm là gi. Mà chẳng icli chi cho mấy ngưòi ấy, họ không 
muốn sữa cácỉr viết sãi lại, họ không lo chút chi về dều luận 
lý, một lấy lẻ sư sài mà giai, rồi gọi rằng khoái dạ. 

(1) Trong chỉ dụ dẻ nhị, tiếp theo diệu thứ 396 nưi Luật an- 
nam, thời ạọi Bẳc-Kv i ỉỉảc-T hành. ,ồng Philạstre tường dó 
lã tên xưạ. .ngưừi ta k<‘‘U Ihành Bắc-Niah, ỉà kinh' dô Bắc- Kỷ, 
trư ức khi dời dinh thần về Hà-Nội. 



lúc sau đày, dăng kêu theo giọng [mỉnbj thi bơi 
Đông-Kinh (i), ĩả tên xưa thảnh Hả-Nội mả ra. 
Luận về phong cảnh củng địa lọi, xứ nầy cỏ hai phần 
khác nhau : trung châu (nghĩa là phần đất thấp 
bởi sông bồi mà ra) với thượng du (phần dat 
núi) . 

Miền trung chảu nguvên bởi đất bồi sòng Nhỉ- 
Hà lấy suối tại núi tỉnh Vàn-Nam, cùng nhiều sông 
nhỏ khác, cải thì bỡi mấy chòm núi chia tĩnh Quảng- 
Tàỵ vá tĩnh Quảng-Đòng; cái tại dày đất núi phàn 
cảc ngọn sông Khong nơi Lào-Thượng, chảy xuống 
mà làm ra. Đỏ ỉà miền thồ điền thượng hảo, nay cỏ 
lẻ dàn sự ở tràn lẳm, song lúc trước nó là chồ quến 
các sơn nhơn chưng quanh đến mà lliòi. 

Chắc lúc trước miền đất thấp n'âv chưa đặng rộng 
lớn như bây giờ, song nó quến dàn, nhờ nó dược 
phì nhiêu, cận hải, nhiều sông rạch trìu vảv chảy 
thòng với nhau, ngoài biền trong sông tôm cá hằng 
hà, dư sức nuôi thièn hạ, hơn là việc săn bắn muông 
thứ, dã hiềm nghèo, mệt nhọc, mủ lại ít khi kiếm đu 
thịt dùng. 

Bến sau các dân ỏ’ miền trung chàu xử Bẳe-Kỷ là 
ai, lại ỏ* đàu mà đến đó ? Chúng ta gặp đàv lời hòi 
luận về các sắc nhơn loài, inà sách dạy tiếng nói 
các dãn, hiệp cùng thiên nhiên nhơn chí, có khi một 
ngáy kia sế chỉ dần; song lúc nay nó như cầu đố, 
chưa giải dặng. Ta dám giác thế sự nầy mà thôi, lả 
người an-nam, tuy dỏng dỏi minh thuở trước bị hóa 
lộn nhiều phen với người hắc bi (nẻgre), Ihanh- 


(1) Thánh Hà-Nội nay còn ki-u là Bắc-Thành, lại tiếng 
thường gọi là Kẻ-Chợ. 



- 5 — 


khách, chàm, chá- vả (l), cao-man, thiện-trưỏrc, giu- 
dêu, tây, V. 'V., thì xem ra cũng gin giữ hình tích 
dòng giống xưa mình luôn, nghĩa ỉàloái mông~cồ,một 
thứ như người thauh-khách, nhựt-bồn, chả-vả, V. V. 

Nguyên xưa dàn an-nam cũng ở một chỗ vộ*i dàn 
tàu^mà khi bỏ mấy đồng cao noi trung phương Đòng, 
thi xuống bải biền mà thôi. Phải đi theo, hoặc chậm 
hoặc mau, song không tránh đặng đường sủng núi, vi 
có một minh nỏ mỏ’ cho mà di. Ắt có khi trong lúc 
băng ngàn, dàn ấy bị nhiều chuyện ngăn trở, trề tràn, 
có lẽ phải thối lại ; dầu vậy, khi cơ quan giục ép lại 
thê cuộc so-n địa cỏ đàng đi, dàn nầỵ bèn quá ải mà 
theo nẻo. khác. Song dày cũng là cốc lộ phải tủy, như 
các đoàn dàn xưa đam nhau sang nơi khác, cung 
phải do nó nữa ; hoặc ở trên núi xuống biền, hoặc 
bởi lần theo bải biền mà chẳng quá hải đưực, nên 
theo bờ sông trở lộn về nguồn cội. Dọc đường, gặp 
chồ thì rừng rú rậm rạp, cày mọc trìu vày theo triền 
núi; chỗ lại dất trọi, quạnh hiu, khò quánh; chỗ 
khác bưng láng, nê khi, nho-n binh địạ mà ra ; nói 
tầc một lời, lả thiên công muốn dường thế. 

Lúc sữ kỷ cho ta thấy xa hơn hết mà sát nghiệm 
về dỏng giống người an-nam, là chừng hai ngàn 
rưổi nẳm tr.ước dời đạo Thiên-Chúa ; thuở ấy, tại 
vạn sơn phiá nam Trung-Quốc, là nơi miền 
nay thuộc Bắc-Kỷ thượng, Vân-Nam hạ, phía 
nam Quảng-Tàv vả phía tảy-nam QuảngdBỏng, ta 
thấy có nhiều chi phái ở đó, người ta thường 
kêu ìà Giao-Chỉ , song trong mấy sách chữ nho 
... gọi người đất Giao-Chỉ (xin coi sau. đày). 

(1) Xin.chớ lộn ctìà-uà, chánh nghĩa là malayu, vỏ-i thiên- 
. ' trước ngưò-i ta quen kêu sái là chà-vậ. _ 



Đảng cto ta ngưng, lại đây một ; dây mả xẻt :;4 
cách kêu nầv, vỉ xem ra nhiều ngưòâ phương Tầy 
làm sách giải nghĩa sái. Mấy người ấy nói gỉao-củ . • ; ' 
nghĩa !ả ngón chơn dan ; chữ giao nghĩa lả hiệp, 
buộc lại (cũhg chỉ là đối nhau) ; còn chữ chỉ, la, - 
y ón tay , ngon chơn. Tên giao-chỉ trọn, nghĩa la ■ - 

hai ngón chưn cải đấu đầu vóà nhau, chống nhau. 

Mấy vị làm sách ấy lại càng cbẳc ỷ hơn nữa, vi đỗi . ' 
khi người ta gặp một ít kẻ có ngón chưn dị hình • 
thề ấy. 

ti 

Nguyên xưa có mảng rrìọi nào có dấu riêng nầy, 
song dến sau nh (V sự hoa hiệp với dân khác, bơi tạp 
luvộn, tại khí hậu đất nước lảm cho biệt tích, mà 
naj, làu lâu, dấu ấy lỏ ra cho người ta biết đó lả hỉnh 
giống tièn nhơn cứ rẳn rỏi hiện về luôn làm vậv ? 

Có lẽ như thế, song không ai dần giải. Dầu cach 
nào, liếng giao-chỉ chẳng ăn thuộc chút chi với nghĩa 
ngưò-i ta nói dỏ. Cách ít năm rồi, ồng Trưưng- 
Minh-Kỷ, là người dáng ái tích, cỏ viết thư cho ta 
về đều ấy mả rằng : 

Theo sữ kỷ cùng sach Tiền Hán địa lý chi , tiếng giao 
chĩ là tên một địa phận xứ Giao-Cháu. như Lạc-Hải, ổữu- 
Chơn V. V., không nẻn lấy nghĩa từ chử mấy tiếng nầy, bời vi 
khi ngư ữi tảu ló p trưức qua soán xứ ấy, thòi kên tẻn náy theo 
giọng chúng nỏ nghe, song khi dùng chừ, thì đọc chử lây thinh 
ảm mà thôi. Như Lạc-Hải cắt nghĩa từ tiếng lả Sảu-Bihì, 
mà Lạc-Hảỉ ngày nay thật tỉnh Lạng-Sơn , xứ núi non 
hon hết. 

Trong các sách thề cùng sách an-nam, tiếng Giao-Chĩ là 
tên riêng xứ, chó- không phải tên dàn. Ngưừi hay chử kêu là 
xứ Giao- Chỉ, hoặc đất Giao-Chỉ. Chử gỉao—buộc nhau, kết 
n 0 aỉ an b em ' còn chử chỉ là nền, chưn tường. ít nửa có 
phai dó là nghĩa hai chử dả dùng mà viết tên Giao-Chỉ vào 
sử chăng ? Nhiều ngưừi lộn nghỉa hai chử ấy. Có Jmột mình 
chư tàu viết ra mỏ i giải đặng nó mà thôi. 



Đến sau, ta với ông Trưcrng-Minh-Kỷ, cỏ tra kiếm 
gặp trong các sách đàu đâu chữ giao củng vạy ; nỏ 
nghĩa là đấu nhau. Nhưng vậy, chữ chỉ người ta lại 
giải ba cách khác : theo Chánh tự thông , ha}' là 
Trung-Quốc ám tìeu tự điền, thi nỏ : ngón chơn, 
chơn,bựớc, đi; theo Đạì-Nam quỗc sử, nó lả nen, 
nèn nhà, chưn tường, chưn nùi ; còn Hảỉquốc đò 
chí viết nó khác cách, song cũng giải như Đại-Nam 
quốc sử vậy. Dầu ai có ỷ tốt cách nào cũng chẳng 
diền trúng nghĩa hai chữ ấy, khi nó kết với chữ 
giao, nói « ngón chơn dan nhau » như trong sách 
langsa, củng không đậng, vì đấu nhau nghịch với 
dán nhạu. 

Có một cách giải nầỵ cỏ ỷ vị mả thôi, là cách 
của ông Trương-Minh-Kỵ : mấy chữ nảo dùng dề 
mà mượn thinh àm, không nên lấy nghĩa thạt tự. 

Sau lại, ta thấy trong sách 'Tiền Hán địa ỉý 
chỉ cỏ càu nầy : 

Nam phương man , tục viết Giao-Chỉ, thuộc Giao-Cháu, 
phải dịch ra lả: Mọi ở miền phía Nam, dân trong nước 
kéu Lá Giao-Chỉ thuộc về xứ Giao-Chùu (châu là một cỏi, 
như mộptlnh, một phủ, vàn, vân.). 

Ta tưởng mấy người tày lúc trưó-c làm sách nói 
về chuyện nầy, thích nghĩa hai chừ ấy sái, lại 
gặp dịp thấy một ít ngưòã cỏ ngón chcm chẻ rè, nên 
sinh (lều lầm lạc như vậy. 


Vê sự tích chẳc chắn, thời các sử thần trung- 
quốc^cứng sử thần an-nam nữa, chẳng thấy một ai 
nói chq % hẳn hỏi lúc tiền nhựt nước mình thề nào. 
•Cồ tịch Ị/hom hết chép ra mà dính các việc xưa lả 
Thơ Ịtihh, của đức Khồọg-Tử lia*, do theo mấv 



— 8 — 

cựu chí thuở ấy cỏn đề ]ại ; cuốn kifih đỗ khai 
truyện nhẳm đời vua Nghiêu, nghĩa là 2.357 năm 
trước Giảng-Sanh. Song năm ấy thuộc đời thượng 
cồ, 'không chẳc trúng ; nhưng vậy, cũng chẳng ngăn 
cấm đặng các sử thần trúng-quốc trong sự thuật 
truyện đời bàn cồ, củng dằn tích mấy đứng vương 
dế thuở ba, hoặc bốn ngàn năm trước Giảng-Sanh 
vả lớp kinh cửu hơn nữa, 

Có một người trong mấy thượng cồ sử thần 
nưức Nam, mà cũng có khi là một vị cố cựu hơn 
hết, tồn lấ Ngô-Thi-SỈ, nói khi vua Huỳnh-Đế (1) 
lập ra Trung-Quốc, lấy xử Giao-Chĩ làm giái hạng 
tầy nam ; xử nầy ỏ- cách dất « bá gia tánh 29 (nước 
Tàu) (í) dièu viền lắm. Cách chừng ba đời sau, vua 

(1) Huỳnh— hoàng, nghỉa là vàng, màu vàng. Tiếng 
hoàng viết hai cách, một. cách nghỉa vàng, cách thứ hai, là 
vua, lớn, tốt, chói. Tiếng Đế cung chỉ lả vua, viết nó ra 
imrò-i hai chử khác nhau. Vậy hiệu Huỳnh-Đé nghla là vua 
vàng, bải vi, theo sử thì nói vua nầy lấy Địa đức mà tri 
dàn, (địa=đất, có màu vàng). 

Vua Huỳnh-Bế, xưng là Hửu-Hùng-Thị, lập 1‘ê luật Trung- 
Quốc ra trước hết. Quan đại thân người, tên là Thải-Niên, làm 
lục thập niên vận giáp tý. Một vì quan khảc, tên Dung-Thành, lo 
việc thiên ván, cùng bày ra một địa cầu chung. Một quan khác 
nưa, tên Linh-Luân, che ngủ âm, bày nhiêu nhac cùng tạo thành 
lề phép cho có mẹo mực. Còn dức hoàng hậu, Lụy-Tồ, lại nuôi 
tầm. Các việc thông minh cùng những tài khéo đều tìm đặng gần 
du trong đồri ngưòi trị, lả : binh khí, cung ná, chài lưốì, xe 
giá, cản lưò-ng, chuông trống, vàn, vàn.ỉ) 

(“2) Theo sách truyện hiệu Kang-Mo thi nói trong đM dức 
Huỳnh- Đế, giái hạng phía nam Trung-Quốc là giang Quậng 
(xin coi sảch hiệu Les Lỉưres sacrés de VOrient, cảa ông 
G. Paulliier làm, trương 42-43). 



Nghiêu (2357-2255) sai quan đại thăn người tên 
là Hi-Ghu qua xứ Nam-Gỉao, nghĩa lả Giao phía 
N-am sòng Quảng (1), mà coi thiên văn. Người cũng 
dạy thè 'tử quan ấy qua trấn xứ Nam-Giao cùng lấy 
xứ GiafrChỉ làm giái hạng nam nước Tàũ. 

Mấy khúc khởi đầu truyện người đất Giao-Chl, 
củng như mấy việc ban SO' trong truyện các nước 
dời thượng cồ, thảy dều bị vảy phủ chuyện tam 
sao thất bồn luôn, bơi lánh tự nhiên nhơn dần 
chưa ctặng thông minh bày đặt mà ra, song lò 
thứ kim thời thọ lịnh bao biếm mả hủy tuyệt nỏ 
di. Cũng một khi phá bỏ hinh bóng văn thi giả, là 
việc lảm mấy kẻ thiệt thà, ít thông chuyện thế, 
đặng bảy ra trước mặt, cho ta thấy các sự thật 
độc địa và thô kệch lúc căn nguơn chủng ta thề 
nào. Song đều thật như vậy chẳng nên ém lấp sự 
cần trí vẻ tuyệt diệu nhơn loài, lại đề chúng ta 
trong vực rủn chí, khi tìm học vật chất thề nào! 
Chẳng phẳi vậy đàu, sự thòng thái cho chúng ta 
phép xét nét thề ấy, thì làm cho tính Hnh chúng ta 
ra mạnh mẻ, nhắc lèn bực cao hơn, củng hằng 
thăng cao hơn luôn luòn. 

(1). Sử tàu cùng sử an -nam còn dùng nhiều tèn khác mà 
kèu xứ -Hầy, song cả thảy cũng gần một nghĩa vói nhau, .ỏng 
Legrand de la Liraỵe k£ các tén ấy như vầy : 


Tiếng an-nam. 

Tiếng tàu. 

Nam-Viẻt 


Viẻt-Nam 


Việt-Thưửng 

Ntiât-Nam. 

Yue-Chang , 

Giao-Nam. 


Nam-Chièu 



(là xứ dòi nay ngưòi aíi-nam .kêu ià V-ân-Nam) . 



— 10 — 

Ta hảy trư lại truyện nầy, ta không theo raấy 
sữ thần an-nam trong các chuyện xấm xuất, vi phần 
nhiều trong những người ấy chịu, mả không suy 
xét. Cho đến gần ba dời trước Giáng-Sinh, thòi 
chuyện bày dặt với chuyện thiệt kết lại với nhau 
liền lắm, cho đến đồi rất khỏ truy nguyên đều 
thật thề nào. 

NHÀ HỐNG-BÀNG 0) 

Theo sự người an-nam di ngôn, nhà vương trị 
dàn xứ Giao-Ch? trước hết, là nhả Hồng-Bàng, truyền 
ngòi hai mươi đời vua. 

Người ta nói rằng, vua Đế-Minh, chẳc vua Thần- 
Nông (lả một vì trong các tiền vương bên Trung- 
Quốc), lấy đất phương Nam nước Tàu, lập ra một 
cỏi riêng cho con minh tên Vưọ-ng, cải danh là 
Lộc-Tục. Sử tàu với sử an-nam nói khác nhau khúc 
nay về tuế thứ (2). 

Tàn quốc lấy hiệu Xích-Quỉ cùng Việt-Nam nữa. 

Hoàng hiệu Lộc-Tục là Kinh-Dương-Vương. Vua 
nầỵ phối hiệp với công chúa vua Đồng-Binh" xưng 
là Thần-Long, sau sinh được một nam tử đặt tên la 
Lạc-Long (nghĩa là chồn rồng) tưởng đến sau 
kế vị. 


(!) Một it ngưò-i làm sách viết Hồng-Bàng-Thị, song chử 
//ụ, ai, nấy biết chẫng phải là tên người, vậy phải viết Hồng- 
Bàng thị. Vả chăng, trong Đại-Nam quốc âm tự ưị, ông 
Paulus Của kẻu là Họ Hồng-Bàng phải lẽ lắm, lại ta đính chắc 
nhà ấỵ gọi là Hồng-Bàng mả thỏi. 

(2) Xin coi sách Hỉstoire ancienne et moderne deVAnnam, 
của ông . launay (trương thứ 8). 



% ẹ ó chuyện tam sao thất bỗn nên kỷ : Theo 
^ thài nói Lạc-Long kiết hôn với công chúa 
^kại, tẽn Âu-Cơ, ở vói nhau sinh dặng 
một trăm trứng, nỏ* một trăm con trai, lại nói VỚI 
công chúa rằng : « Ta là dòng ròng, hậu là dòng 
tiên, thảy hỏa lương khắc, chí nan hỏa hiẹp » 
Vậy cả hai thuận ỷ phàn rẻ nhau ra, nàm chục 
con theo cha xuống biền, năm mươi* con nọ di vo*i 
mẹ về núi j Hùng, là trưởng tử, lén làm vua. 

Khi ta de dẹp chuyện thất bồn ấv lại, ta tưởng 
đến sau, khi Lạc-Long quàn thăng hà, mấy thai » 

ứ người phản ly từ biệc nhau. Lớp theo hoảng hậu 
trở về hoặc ỏ* lại vổ’i dán trong núi, lớp khac đi 
xuống bải biền cùng dựng nghiệp nơi miền nay cỏ 
khi là tỉnh Quảng-Bông lúc nầỵ. Vi vạy, mấy người 
thư nhứt làm dàn an-nam, còn lớp con thứ hai lai 
sanh người tàu. Từ đây, ta lo việc dàn ử núi mà 
thòi. 

Vậy, Hùng, là dại lang vua Lạc-Long, nối nghiệp 
trị sưn dân náy. Khi lên ngòi bèn cải quốc lại Văn- 
Lang, củng xưng Hừng-Vương, là hoàng hiệu theo 
sír gọi mằy vua hậu kế. Các thái tử nguơn thủ nhà 
Hồng-Bàng đều lấy tước quang-lang (1), cỏn các 
công chúa dặt lả mỉ-nàng (1)’ dỏ lả chức ngày 
nay mấy dội trưởng dàn mưò-ng ở miền Bâc-Ky, 
củng phu nhàn người, còn giữ lấy. 

Giẳi hạng nước Vản-Lang lúc đó kề ra như 
sau nầy: 


(1). Quang 1 = sáng, lang là tiếng xưng hô ngưừi dản 
ông ; mỉ = xinh tốt, nàng , hay là nương , là tiếng gọi người 
dừn bà. 




Bỗng cân ‘‘Nam-Hai. 

Tây cận Ba-Thục quốc (là tĩnh Cao-Bằng đang thòi). 

Nam cận Hồ -Tôn -xứ (hay là Chiẻm-Thành). 

Bắc cận Bồng- Binh hồ (hay là đất birng tại tình Quảng-Tây 
bày giò). 

Nó lại chia ra làm 15 bộ : 

10 Vẳn-Lang (íà chỗ đô thành). 

2o Giao-Chỉ (nay lả tinh Hà-Nội, Hưng- An vả Nam-BỊnh). 
3° Gháu-Diên (Sơn-Tây). 

4° Vỏ-Ninh (Bẳc-Ninh). 

0 ° Phưức-Lộc (Sưn-Tây). 

6° Việt-Thưừng (Quẫng-Bình, Quảng-Trị). 
lo Ninh-Hải (Quảng-Yén). 

Ho Dưong-Tuỵền (Hải-Dương). 

, 9° Lục-Hải (Lạng-So-n). 

10° Vỏ-Bịnh (Thái-Nguyên vói Cao-Bằng) . 

11 o Hoai-Hoang (Nghệ- An và H.A-TỊnh). 

Cửu-Chon (Thanh-Hóa). 

13" Bình-Gian (truy chưa ra). 

14 0 Tân-Hưng (Hưng-Tuyèn). 

I.v Cửu-Bửc (truy' chưa ra). 

Chuyện phong thần thuở nguơn sinh ấy cho la 
biết đàn đất Giao-Chỉ nhẹ tính thể nào, ỉập am tự, 
sát vật mả tế quí thần, dường như thay vi cảc phép 
kín nhiệm dứng tạo hóa vậy. Người xử Giao-Cbỉ 
hay chàm vẻ mình và chuvèn ròng nghề săn bẳn 
cùng đánh cá mà ăn. Đó là chơn dung gần 'giồng 
người mường xứ Bẳc-Kỳ ngày nay, và dán kha ở 
dày núi mọc theo Lào quốc. 

Sử an-nam cùng sử tàu ít kề các chuyện cơ biến 
trong lúc họ Hồng-Bàng trường trị .Việc đáng ghi 
dạ hơn hết trong truyện dề lại, là sự sai sứ qua 
Tàu lối 1109 năm trước Giáng-Sinh. 



13 — 


Sai sứ như vạy cỏ phải chuyện trần ]ộ miạh lả 
chư hầu quốc, hay là qua do thám nước Tàu như 
sử an-nam nói chăng ? Ta theo một ý vói ông dạc 
dức Launay mà lưởng, Trung-Quốc tiếp sứ án-nạni 
khi ấy, tỵ như phạn chư hầu đến chầu thièn tử 
mả thôi, vi sứ qua nhảm lúc nhóm hội các tiều quốc 
tùng Tàu ; vả lại, các Hùng-Vương dều gốc ngườ.i 
Irung-quốc, nèn xem ra tự nhièn phải nhinh biết 
quởn thượng vị các hoàng dế tồ quán mình. 

ông Launaỵ lại thuật thèm rằng : (C Các lẻ dó 
(hậi. chưa đặng mạnh cho mấy, song ông Ngò-SỈ- 
Liên, là văn thàn thích nghĩa truyện sử, có kề đều 
nầỵ mà gia vào: Vua Yỏ (T), đứng lộp nhà Hy, 
trị Trimg-Quốc từ năm 2205 cho tới năm i7tib 
trước Giártg-Sanh, chia nước Tàu ra làm chín 
châu, còn xứ Giao-Chỉ lả một phần trong Dương- 
Chàu. Ẵv vậy, ví dau xem ra đất Giao-Chỉ lúc dó 
chẳng phải một miền trong Trung-Qưốc, thi ít nửa 
cũng kề nó như chư hầu vậy, hoặc chư hầu phải 
tiến cống D. 

Trước khi nói tiếp, đáng cho ta ngưng lại một 
d,ày tại hai bực nầy, là quờn thượng vị với sụ 
chư hầu ; hai vì ấy nhắc lại cho mấy người thòng' 
sử tây nhớ những dều buộc kểt nghiêm nhặt, làm 
cho các chư hầu bên Tày phưcmg trở nèn dỏng 
cường thề nào. Mấy tiều quốc phục Tàu, xem ra 
tho mạng làm theo ngôi thứ mình khác cách với nhau 
một ít mả thôi ; bởi dó, ông Devéria cỏ giải dều 
nầy trong sảch người: Histoire des Relations de 
ỉa Chine aưec ư Annam (nghĩa là Truyện Trung- 
Quõc thong thuộc với Đại-Nam) : 

(1) Cũng đọc là vổ. 



— Í4 — 


Tỗi địch chừ Phan là chư Kầo, song nghĩa đen nỏ là * hấng 
rào, cái sàng, lưóị giăng », dưửng thề các xứ ở cận Tàu cũng 
là hàng rào nước ấỵ vây. Tồi xem ra thế cuộc Bại-Nana Him 
thòi ăn ở vói Trung-Quốc, hiĩìu trọn trong tiếng Phan, hay ]ả 
« hãng rào » nầy; vi nó ĩr dó, hở- khi có giặc viền phưo-ng tới 
mà ngồn ngửa bớt, lại truyện giãi thèm như vầy : nơi đó là 
chốn Trung-Quốc dánh du<>i loạn tặc, dặng sau chư hầu bắt 
nạp lại ‘cho mình, hoặc dề dó mà dùng v'ê chuyện khác theo V 
mình muốn. 

Một việc nỡa cũng ăn thuộc với sứ sự ta mới nới 
đày, i’ại nỏ dáng cho ta ghé mẳt xem đến, )ả khi các 
sứ phản hồi bồn hương, thìôngChâu-Công-Bán Ọ), 
hóùng thúc vua Thành-Vương, cỏ ban cho sử năm 
đại xa cỏ tánh khí cử chỉ hướng Nam luòn, đặng 
sứ tim đường mà về nước minh. Chẳc, mấy xe 
có khí nam châm đề chỉ hướng Nam đỏ, là mấy 
cái địa bàn. 

Vậy, ai nấy thấy người tàu đã biết cùng dùng tánh 
kim nam chàm lảu đời lắm. Còn nói rằng kim ấy 
chỉ hướng Nam, thời là một cách đặt ra mà kêu 
theo ý minh, chẵng khác chi cách người phương 
Tày gọi nó chỉ hưỏng Bắc. Cày kim chỉ một ngã 
theo hai dầu nó, kẻo thẳng dăng từ chỗ nèu kim 
qua hai phía cũng vậy; lại tùy theo cách thông 
dụng ban sơ, người ta phải lấy hoặc đầu nầy, hoặc 
dầu kia lùm mủi cliỉ hướng chẳng sai. 


(1) Chánh danh người . là Cơ-8iin, còn Chàu-Công là tước 
mả thôi, chử Cháu mượn trong quốc hiệu Kỷ'Chảú (chư hầu 
Trung-Quốc), là tồ quán nhà Châu; chử Còng, là chức quan 
lớn nhứt, hay lả tôn nhơn. 

ỏng Chàu-Cỏng-Bán, thường kêu tắc Chàu-Còng, là hoàng 
huynh vua Võ- Vương là dứng lập nhà Chảu (1.122-246- trườc 
Giáng-Sanh) ; ngưòi thông thái văn chương có danh. 



- fô - 


Ta nói tiếp sử lược nẩy luôn, song ta xin cho ai 
nây rỏ, có một ít người văn chưcrng bồn quốc.bủt 
*> ■ * nước Nam. Mấy ngưừi ấy chướng 

to (lời thượng cố nhà Hồng-Bảng, củng vốn dòng 
khách, như chuyện bày dạt mà thòi (í). Nhưng vậv, 
có một đều ai nấy xem dường hiệp V, là nước Văn- 
Lang không phải trọn dất Giao-Chỉ ; lúc ày, đất 
nầy cũng cỏ nhiều chi chánh khác ở, nhưng không 
nhập với Văn-Lang, cũng chầng hiệp nhau lãm 
một nước nào riêng 'nữa. Dầu người văn-lang VỚŨ 
mấy chi chánh ấy cũng một dòng, song dàn thồ 
nầy,^có lứp tự trị, lớp lại dầu phục mấy xứ khác 
ở gần. ♦ 

Ta gặp trong sử đề lại hai chuyện làm chứng 
châc chần việc nầy ; chuyện thứ nhứt như phong 
thân, song khi sữa lại cho mất hình bóng tiếu 
làm nó, cộ lế kề SO’ đặng như váy : 

Trong đừi một vua Hùng-Vương lóp hậu thử, 
thuở ấy có giặc dàn ử miền cao, kểu là San-Tinh, 
(lánh với dân ở bải biền, gọi là Thủỵ-Tinh (2). 
Nguyên có* nghịch nhau như vậy tưởng tại sự 
tuyền trạch phò mả rtìà ra. Tướng quàn ỏ* bải biền 
chen đua với đầu mục dan ở núi, mà cầu hòn 
công chúa vua nước Văn-Lang. Tướng Sưn-Tinh 


(1 ) Xin coi sdch Le Pays d'Annam cun ông Luro (trương 65). 

(2) Hản thật nghĩa Sơn-Tinh = Than núi, còn Thảy- ' 

TỈỊih — Th'ăn nước. Chuyện lạc bỗn ấy thuật rằng, hai chùng 
-tinh nầy dấu chiến vói nhau, cà hai đều có yèu quái cùng tiều 
qui theo phò lực. Bỡi không cỏ tiêng kêu khác, nên ta giír tin 
Sơn-Tinh vói Thủy-Tinh mà thỏi, song ta dịch nó lại cho 
chinh nghĩa hơn, là chi chánh ở núi vợi chi chánh ở bài 
biền. . . i . 



dạng phong phò mả. Thủy-Tinh ho vi lởi mình 
bất khửng, nên đem binh dến đánh san dân, sọng 
lảm hết sức không lại. 

Đặng giáp chiến thề ấy, dường bằng trước mẳt 
vua nước Vàn-Lang, thời phải đính rằng vua Iìầy 
ít qùyền thế, hoặc không cỏ sức chi mà phúng 
gián các chi phái nầy, vì xem ra chúng nỏ chẳng 
tuân ai hết. 

Chuyện thứ hai nhằm lúc cuối (lời nhả Hồng” 
Bàng. Thuở ấy, lại cỏ lể trước đã lảu, cỏ một 
xứ kia tại đât Giao-chỉ tên Thục, cũng kêu là Ba- 
Thục (tỉnh Cao-Bằng ngày nay), là chư hầu Văn- 
Lang, củng giáp ranh với nưỏ*c nầy tại cạnh tâv- 
bẳc. (Chuyện nầy chỉ cho chủng ta biết một lần 
nữa, Văn-Lang quốc không choán trọn Giao-Chỉ). 
Vi vạy, tần lần các vua xứ Ba-Thục không còn tùng 
ai hết, cũng có sự thù nghịch dấy ra làm cho 
hai nước chẳng thuận hòa vóã nhau nữa. Cớ hềm 
cừu cũng bởi chuyện kiết hôn mà ra, như ngưo-i 
Thủy-Tỉnh trước vậy. Lả vua xứ Ba-Thục cưới 
không (iặng công chúa Hủng-Vương. Bơi đó sinh 
thương hòa khỉ cùng tranh chiến với Văn-Lang. 

Vua Ba-Thục thất trận, song không biệt liềm, bẻn 
truyền lại cho con chảu mình báo thù chuyện ấy. 
Các vua nối trị chẳng bỏ qua đều ao ươc tiến 
vương, lại thêm khát khao cai trị nữa, nên chỏs 
dịp tốt mả hành sự. Qua đòi Hủng-Vừơng hậu 
thử, có dịp ấy đến, vi vua nầy ăn ở độc ác, mê 
sa tửu sẳc, vô quyền thế khuyên dụ dản phò minh 
cho tại cùng, nên phải quốc suy. 

Yẻn-Dương, cũng gọi là An”Dương, khi ấy làm 
vua xử Ba-Thục, dần binh xống qua danh Văn-Lang. 
Hui bên địch chiến với nhau ỉàu lắm, khi thẳng 



khi thua, song mản giặc An-Dương-Vưưng phải 
khởi hoàng. Tranh dấu như vậy một ít năm; sau 
hết vua Aỉi-Dữơng hảm đặng kinh thành xử Văn- 
Lang, còn Hủng-Vương nhảy xuống giếng mà tự 
tận, từ dó tuyệt đời họ Hồng-Bảng (năm thử 257 
trước Giáng-Sanh). 

sự CAI TRỊ VUA Nước THỤC 

Yua An-Dương thẳng trận đoạn, bèn gồm Vốn- 
La-ng với Ba-Thục làm ra một nước riêng, củng 
cải quốc hiệu lại là Ậu-Lạc. Theo lời òng Legrand 
de la Liraye nội rằng, hiệu Âu-Lạc nầv rút trong 
hai tèn chi phái Âu-Việt với Lạc-Yiệt mà ỉàm 
ra. 

Chuyện vua An-Dirơng khởi công trước hết nơi 
tân quốc mình, là lập ra một kinh đô, đặt lên Loa- 
Thành (thậnh xày cỏ hình khu ốc) hay là Tư-Long- 
Thành, còn người tàu lại kèu Côn-Lôn-Thảnh Ọ), 
bởi vi vách lủy nó cao lầm. 

'Khi An-Dương tu bo và gồm xứ Giao-Chĩ về một 
mối, thời lúc ấy bèn Tàu đức hoàng để Tần-Thỉ ( v 2> 
cũng làm cho Trung-Quốc ra nhứt thống. Đức hoàng 


(1) Tên một đảnh núi cao ìẳm bèn Trung-Quốc. 

(2) Tần-Thỉ-Hoàng-Bế lập nhà T'ần, song không dặng bao 
lâu phải mãn (từ 249-202 năm trưóc Giáng-Sanh). 

v'ê hiệu Hoàng-Bế, ta xin ai nấy ý chỉ, dân Hoàng-Đế thirimg 
thưừng là tưó-c dại vưo-ng, song đảy là tẻn vua Vưong-Chánh 
cải lại, sau khi thống trị đặng cả Trung-Quốc, thì xưng lã Thỉ- 
Hoàng-Bế. Bến sau các vua tảu lấy tẻn Hoàng-Bế ấy đồi ra 
; làra chức mà đặt cho minh. 



18 - 


đế oai vang nầy hủy tuyệt ngôi chư hầu, diệt 
Bòng-Chàu, xây vạn lý trường thành, cùng lưu 
danh phiền trách về chuyện phần thư khanh nho 
(năm thử 21 á trước Giáng-Sanh) (1). 

Cũng là vua Tần-Thỉ ấy, khi người trị dặng tám 
nước bẽn Trung-Quốc, người lại tinh chiếm các xứ 
phú hậu ờ hướng Nam. nữa. sử tảu nói ngưừi sai 
một dạo 800.000 binh (?) qua xảm lấnxứAu-Lạc,lại 
binh dỏ mộ ròng quàn quang côn củng bất tài trong 
nước, Bạo nầy thẳng số và xem ra cường dảm lẳm, 
song như một đảm cả thề con người chào rào, -nghinh 
ngang, khốn nghiêm tề, nên dề mà thất trận. Nhưng 
vậy, dức hoàng để Tần-Thỉ.một ít làu lại muốn 
đánh nữa. Chuyến nầy, một dạo khủc dòng hơn 
500.000 binh (?), qua chinh phạt vua An-Dương. 
Hai tướng Nhâm-Ngao với Triệu-Đà thống quản binh 
tàu. Tranh chiến với nhau mấy năm, hao binh nhiều 
mà chưa dứt. Bến sau Tần-Thỉ-Hoàng yến giá, 
Nhảm-Ngao cung tiên 4u. Còn một mình Triộu-Bà 


(1) Truyện *nói các người văn chưong dừi ấy dùng sách xira 
mà giảng nhiều dều trái luật. Họ hay lấy sách mà trách mốc 
vua. Cỏ lẽ ông Lỷ-Tư, là dại thần nhứt phàm, xui giục chúa 
mình lù T'ân-Thì phá bỏ sự tích xưa. Hoàng dế truyền dốt các 
kinh cùng sử mấy đòi trước. Trừ ra sách Thần đạo thiết 
giáo, là Kinh Dịch mà thôi, bcri vì nó nói về mạng lý. Thánh 
chỉ cung dung thứ mấy sách dạy bói khác nữa, và các sách 
nói việc canh nông cùng sách thuốc. 

ỏng dạc đức De Prémare tim dăng CO' quan làm cho sự 
thiêu dốt sách võ' đáng chỉnh ghê nầỵ ra bứt dộc địa hon: rrChẵng 
phải tại cừu thù, song boi muốn dự phòng, nên ngưò-i ta soán 
đoạt các cuốn kinh của mấy kl văn chưo-ng ấy, vi cáo rạng 
họ giảng giục dàn dấy loạn. Ong Lý-Tư nói muốn cho yèn nhà 
lọi mró-c, thì các sách dó phải ỏ- tại tàng tho hoàng dế mà thòi.» 



ơ lại đánh mà thôi, sau hết, tướng ấy chiếm đặng 
mấy tĩnh ở phía Bắc, song về lập binh cơ đồ trận, 
vê liệu lý khéo léo củng giặc, nên giao hòa với An- 
Dương-Vương, lại thưọ-ng công chúa vua ấy cho con 
minh là Trọng-Thủy. 

Đầu vậy, Triệu-Bả cũng chưa dứt lòng tham. Nhơn 
lúc bèn Tàu nhà Tần suy, trong nước loạn lạc, 
nguyên nhung Triệu-Đả dùng dịp ấy mà xưng tự 
quàn, doạn dấy binh đánh nhạc phụ con mình, 
khộng tỏ cớ chi, cũng chẳng vi lời thề hòa ước 
và tình ngải sui gia vói nhau. 

Vua nước Ầu-Lạc khi ấy dã niên cao kí trưỏmg, 
bị thất vài trận, củng thế, ngã lỏng rủn chí, bèn 
giết công nương minh lả vợ Trọng-Thủv, rồi nhảy 
xuống biền mà tự vận (năm 206 trước Giáng-Sanh). 
Còn chảng phò mã chiếch bạn, rầu rỉ khòn nguồi, 
hồi tị việc nước, đoạn chẳng bao lảu củng hại minh 
mà chết. 

NHÀ TRIỆU 


Rày thần khí bon quốc đã mản rồi, củng như sự 
chư hầu lờp trước vậy, là đều bó buộc các chúa 
với nhau, đề cho mày vi ấy tự trị, song có khi 
cho dại vương một quyền hẹp hòi lẳm. 

Ta muỏn kề ra một ít sự tích nhà vương cần mẳn 
thề nào cho dân chúng trong việc chấp chánh, cùng 
trong sự giáo huàn ; song rủi, cồ sử tàu, củng như 
truyện tày xưa vậy, nói tinh chuyện đàm chém, 
giết sát, hủy hại, một hai khi thuật việc tòn thật, 
k thấy IỊÓÌ cách vua chúa giáo dàn, không gặp dều 



— 20 - 



chế độ trong gia quốc, lại cảng chẳng thấy bao. giờ ' - 0 '. 
thuật cách ăn ở, bề tấn thối các nhơn hội làm sao. : : ' 
Bỏ lả chuyện một gia quyến kia, chẳng phậí truyện 
lê ngu ơn mà ..sử lưu lại đàu. 

TRIỆƯ-yỏ-BỂ (207-136). — Triệu-Bả khắc thiệp 
bèn nhộp Ảu-Lạc lại với mấy lỉnh đã lấy trước, ma 
làm ra nưức Việt-Nam ; người xưng là Triệu-Vỏ-Uế, 
trị nước tử năm 207 cho tới năm 136 trước Giáng- 
Sanh. Tàn quốc chẳng phải xứ Giao-Chi mà thôi, 
lại gồm doi ílất Lièn-Chàn cùng cù-lao Hải-Nam nữa. 


m 



KHOẢN THỬ 11 


!3ST xasro-s:^ 


NTĩà Triệu, (tiếp theo). — Trung-Qaốc chiếm 
trị. — Nhà Đinh. — Nhà Lê (tiền). — Nhá Lý. — 
Nhá Tràn. — Họ Hò tiếm vi. — Trung-Quốc 
chiếm trị. — Nhà Lê. — Họ Mạc tiệm vị. — 
Nhà Lẻ khôi phục. 


NHÀ TRIỆU (tiẽp theo) 

TKỈỆU-VỎ-BÉ (207-136)?—- Bày ta đà tới lúc 
Trung-Kỳ gần kề vào sử. Nên ta trần tỏ một dôi lời. 

Phần đất chạy dài, phía Đông theo biền, phía 
Tây theo rặng núi, là một dây bề'hoành không 
đặng rộng, có nhiều dảy núi nhảnh cùng núi dọc 
từ chánh dải sơn mà xuổng biền. Bịa cuộc riêng 
ấy làm oho xứ n'ây phân ra nhiều sơn nhàn tử 
cùng 'đoẳn giang hà, chỗ cỏ cây cối điềm dà, chỗ 
lại cang địa theo triền núi, tủy đất tốt xấu. Một 
it ^hốn, đất khỏ trồng lắm, còn kháp nơi phải dày 
công mỏi đặng, lại mấy đường nước dề thông 
thương, thời là khúc lối gần bải biền mà thôi. 

Thuỏ' truyện nói đến đây, trong sử an-nam kêu 
tniền Rầy 'là : Lâm-Ấp, và Chiêm-Ba nữa. Xứ dó cỏ 



— a — 


dân kìa ở, mả đã lũệttích rồi, lại xem. ra khác xa 
thứ dàn trong truyện đã kề cách một it đửi sau, 
và chúng tạ gọi lả Chàm, bởi tẻn đặt lúc hậu 
nhựt cho miến ấy là : Chiêm-Ba (1). 


(1) Mấy cựu chí chắc chắn không có đặng tải dần hÌDh tích 
các co nhân xứ Tam-Kỳ ; song ngưòã ta tưởng tim ra đặng sư 
di lai dòng giống lứp tiền dại ấy ncri mấy chi chánh ở tại dai 
Sơủ-Trung-Kỳ : là Mọi, Kha, vản vân. Có 'phải đó là mấy ngựìri 
bồn thò xưa dư lại, hay là những kẻ loán đất còn chì tồn, mà tói 
phiên chúng nó bị dân đất Giao-Chỉ cùng Cao-Man đảnh duồi 
dôn qua dó chăng '? Ta không rỏ sự ấy, song có lẻ chịu dều 
giác thề thử nhứt. Vì thây một ít nơi, mây chi diêp nầy chưa 
ra khỏi vỏng thạch dại (lá đời con người hảy còn dùng đả mà 
làm khi giái khí cạ, chưa biết đúc, rèn ngủ kim), lại nhiều 
dấu tích nghề trác thạch gặp tại Cao-Man quốc cùng tại Nam- 
Kỳ, làm cho ta tưởng, it nưa là có một hai mán mọi nào trong 
mấy di chi nầy boị người bồn thồ ngươn thĩ mà iaj sinh ; còn 
mấy bia truyền cao-man (như cựu chi đền dế Thiên, đế Thích) 
và những càu chữ sanscrit ngưòi chàm tạc vảo mấy hoàn đá 
núi tại tĩnh Khánh-Hòa, màngưòi ta có lấy rập, thì làm cho ta 
tin rằng, lúc sau có dòng dỏi khác dến ở đó, song thuần phong 
hơn mấy kẻ chánh bồn dịa. Vì vậy, bỡi không có thế nhắc 'co 
tich hơn, nẻn ta xin phản giải ít lời về mấy tông chi nầy 
mà thối. 

Trước thuở mấy chi phái đất Giao-Chỉ dến lập gia cư, thì 
xử Bôog-Dưo-ng dã bị tộc loại khác choán, lỏp dưới phiảNam 
lẻn, lóp trên hữó-ng Bẳc xuống. 

Phiá Nam, ke là Dgưò-i cao-man với người chàm. Người 
thứ nhứt nguyên bỡi những dân nước Hindonstan, còn 
ngưò-i thứ hai gốc tại mấy dản ở chòm cù-lao malayu mả lai 
sanh. Cả hai dều dè lại dấu tích thậm sâu vê sự phụng tư mình: 

Ià ỉì° ír 0 ' 710 ’ eó chứn s bực ể>áo hóa cao xa rỏ rang. 

Phiá Bắc,jigưíri thai và dân dất Giáo-Chỉ ; cả hai dồng bơi 
loại mòng-co và có khi nguyên cựu tại một chi chánh ma tro 
sanh. Về sự tấn phát mấy chi phái xử Giao-Chỉ, ta dìn giải 
nó trong chánh văn. Còn người thai thì xem ra lúc sau tach 
ra làm ba chi diệp : là người mường, người lẻo vó-i ngưiri xiêm. 



— 23 — 


Xổi về vua Triệu-Vỏ-Đế, khi chưa làm chúa tề 
đặng xứ ấy một minh, người đả tính chiếm đất 
Lầm-Âp mà mỏ‘ nước ra cho rộng hơn. Người 
khiền binh qua đánh thắng nước nầỵ và lấy cho 
tới Cửa-Hán (năm thứ 206 trước Giáng-Sanh). 
Trong truyện khòng nói chính vì đứng thắng trận 
có thàn chánh phần đất mỏà thuộc quốc nầy chăng, 
hay là người dạy du nạp theo lệ thường mà thôi. 
Song có một đều nên ỷ chỉ, là sau khi chiếm cử 
xong, thi hơn mấy đời sử không còn nhắc đến 
truyện đất Làm-Ằp nữa ; sự như vậy làm cho ta 
tưởng miền ấy ít người ừ, hoặc có dòng dõi nào 
cư trú đỏ, song ít địch khái, lại hay biết xa lánh 
chuyện tranh giành luôn. 

Khi vua Triệu-VỎ-Bế chinh chiến xong về, người 
bèn lạp kinh dô tại Phiên-Ngu trong tỉnh Quảng- 
Bông. Tại chồ chánh phần trị dó người tièp sứ tàu 
của đức Cao-Đế (1) sai đem sẳc hiệu An -Nam quốc 
vương qua phong cho người. 

Bày là lần thứ nhứt, truyện dùng hiệu An-Nam 
(nghỉa là cỏi Nam thái bình) của nước Tàu đặt ra 
thuở ấy mà kẻu xứ Giao-Chỉ, lại từ đó yề sau nó 
lảm tên nước. 

Cách phong vương cho một chúa nào tự trị, như 
ta. mới nói đảy, xem ra sái lẽ hẳng. Song, như nhớ 
đến những lúc phàn phiền năng sanh trong Truhg- 
Quồc đời ấy, và trí quen ưa mộ chư hầu chẳng hay 
dứt, thời dề cho ai nấy hiễu, khi có một vi thái 
thú nào thấy mình dược thố quyền mạnh mẽ niột 
chút, bèn- tự chuyên cùng xưng vương đặng. Người 
ta củng biết, hề ở ngôi vua, hữu ích mả nhìn biết 

(i) Lả yua >nhả Hán trị quốc tnró-c hết. 



mình lả chư hầu lịnh thiên tư, sự ấy không -bỏ 'buộc 
chút chi trong vụ cần phong, ìả sự ủng hộ -một a 
khi có mấy vì quan khác tranh giành. 

Vua Triệu- Vỏ-Bế vừa trị đặng hai mươi năm, 
kề năm 183 trước Giáng-Sanh, bả Lử-Hậu bên 
Trung-Quốc, khi ấy cũng đã lên ngôi được hai năm 
rồi, ra lịnh cấm các chợ nơi giáp giái, khởiĩg cho 
bán đồ bằng sắt, cùng một ít vật khác cho người 
xứ Nam-Việt. Vua Triệu tưỏmg, hoặc, gia đò nghi 
ngờ, rằng sự nghịch như vậy bởi một hai vì quan 
đại thần nào tại triều đức hoàng hậu mà ra, lại nhứt 
là nghi cho vua đàt Trường-Sa, là chư hầu Trung- 
Quốc. Bặng báo thủ sự sỉ nhục như vậy, Triệu-Vỏ- 
Bè đam binh đánh vua ấy vả lấy mầy xứ thuộc về 
ngưòù. Bực nử vương Lử-Hậu có sai một đạo binh, 
qua. giao phong với vua Triệu (năm 180 trước Giáng- 
Sanh), song binh đỏ chịu không nồi khí trời nóng 
nực mùa hè, nên phải binh an-nam phá vỏ* tan dề 
lẳm. 

Vua Văn-Bố lên kè ngôi cho đửc nử hoàng Lử- 
Hậu, người làm hòa với Triệu-VỎ-Bè, là một đàng 
vương tướng tài tri củng khẵi huờn luôn ; đến sau, 
vua nầỵ trị nước làu lắm, nhơn dàn an cư lạc 
nghiệp, cho tới năm 136 trước Giáng-Sanh, sử nói 
người hương thọ 121 tuồi mới thăng hà. Người trị 
quốc đặng 71 năm. 


VĂN- VƯƠNG (136—124). — Hồ, là con Trọng- 
Thủy, cháu đích tôn vua Triệu-VỎ-Bế, lèn. nổi ngôi, 
xưng là Văn-Vương. Vua nầy chẳng đặng tư chất, 
tài lành như vương tồ phụ mình. Vả chăng, đó là 
thử luật ngoại trừ, ghe phen 'làm cho kẻ bậu <ỉuệ 



cảc dửng anh danh phải vượng vấn, luạt ấỵ cỳh4fig 
thửa lệ chung chỉ sự tuỵẹn dưởng .giốpg ì tốt, cụp 
các đấng thông thái luạn về nhơn dân sạnh tàn, sQỊỊg 
nó không làm chọ giảm lực ĩệ ấỹ đặng. 

Bởi chưng, lớp hậu kế nầy . chẳng hay gap các théế 
sự tương tự như tồ phụ mình đậ bị vảy phủ ; nhựpg; 
vạy, củng phải xưng rầng, hậụ đại dỏ thượng 
thường bất tài, không làm cho sinh thi thế giống 
đặng một cách, như các tiên ki diệu nhơn gbe;phep 
đẵ toan tính. Lại, nếu phải nói thế s.ự sanh nhơn, 
thòà củng phải nhìn biết nhơn sanh thế sự ; như 
cáo rẳng mọi cuộc kề trong sử đều tùy nhau mà 
xuất ìaị cách nghiêm nhặt là chánh lý, .vậy cũng 
phải thêm rằng, lâu làu có mộl chuyộn khác thường, 
chẳng ăn thuộc hoặc ít hoặc nhiều với các chuyện 
dã cỏ trước, xảy đến, xen vào, mà làm cho trịch 
đường cuộc thế. 

Sự dời biến ấy bởi cớ thiên nhỉèn, hay là nơi ý con . 
người, muốn, song Thiẻn-Đế đã đề cho .chúng ta 
tự tính. Thưò-ng chẳng cần phải là việc dửng cao 
trí lảm, hay là sự chuyễn động tan tành. hình thề, ; 
song nó dó là việc kẻ thi kêu tinh cờ, may rủi, 
ngưò-ỉ lại gọi thiên lý sử nhiên, cả thảy không nhằm 
(lảu là đàu. 

Vạn vật hỏa sanh dều cỏ cốt nguyên biến, bỡi đó 
mới gầy ra một hiệp canh biến thứ nhửl cỏ phân 
dọ, song nó không sữa lại lớp lang kế nối tự nhién 
của nỏ đặng (tinh vạt); lại một cấp dòi biến thử hai, 
có sức^ trở lại lảm ngụyên tuyền các cuộc sanh hóa 
. (sự chủ trương nhơn vật), nghĩa là càn .cớ các hiệp 
;biến cải chẳng phải chính vi mấy việc trước. mả; ra. 

Đó là sự các cuộc xảy đến lửơ sau xáp lại, 'hoặc 
đan nhậu, ’dầu cho pỏ thuộc về hiệp nào cung vậy ĩ 

3 



sự nỏ pha lặn, sau lại hòa chất, thỉ có phần không 
tránh đặng, phần khác hoặc hiệp hoặc không, lảm 
cho sanh ra việc chúng ta kêu chẳng chính danh, 
là sự tinh cờ. Dẳng đẳng đã đp lượng rồi, hay 
là bỡi con người sữ nên, một thề với những cơ biến 
nỏ mới dời đỗi, lại nó cũng tại một nguyên cờ 
mà ra như mấy cuộc đã canh cải đó vậy, dầu cho 
cớ nầy thuộc về thử lớp nào mặc lòng. Trí -chúng 
ta đây, lại cỏ một mình trí chúng ta dày là bần 
•thiều mả thôi, phải cho nó một tải phép phản loại, 
quảng kiến thiệp tường và luận lý nữa, song có một 
sự suy tưởng đến phẻp ấy mả thôi, thi đủ cbo chúng 
ta ra hôn muội đưới bầu thinh thinh vô củng nỏ 


MINH-VƯƠNG, AI-VƯƠNG, THUẬT-YƯƠNG (424- 
111)- — Dày ta đả lìa xa bôn truyện. Ta phải trậ 
lại. Tuy vua Triệu-VỎ-Đế gốc tàu mặc lòng, song 
người đã lảm cho nước An-Nam ra một cỏi riêng 
và tự trị ; còn vua Vàn-Vương với ba vua kế vị, lả 
Minh-Vương (124-112), Ai-Vương (112-111), Thuật- 
Vương (111) bởi chẳng gin giữ củng tu bồ nưỏ-c nhả 
cho ra bền vững hơn, lại ăn ở ơ hờ, sơ lược, 
không lo hiều biết việc sau, nên hóa như sẳm sữa 
cho nước An-Nam nhập về Trung-Quốc. 


TRUNG-QUÔC CHIÊM TRỊ 

Trong nằm 112, cỏ sự loạn lạc lại triều dấy ra 
chống cùng quyền phép người tàu, nên vua vả bả 
thái hậu (gốc người trung-quốc), củng cả sứ bộ 



Hản-Thkfông, cl vs chắng tvtt; h ? ần g đế 

ịtựm noi %;<?£„ ■** 

bối rối trong nirớe ấv, íaỉ nơil^? nil ' có s v 

5* ỉXTnS' s?2 
* 5 £S-Sf ÌÍS": «* z b. 

lâm’ lặi liền chia nó ra từ lỉnh ’vi° .1 S" 5 
thặng hà vừa đặng hai 5 Jl y L VUa , Triệu -® ê ’ 
"gtóệpdS Sộ ngưíi khfZí t?^ m ’ th&i 

zz % i ^ì? h ỉ?" “V 1® 

nguơn soái tau kia °ỏ- 2; phá' mộ ‘ quán 

‘tó vi s bâu ’ w "« (0^*5" 

â$?ẽrswsĩẳt « *-í 

? ™ cólngỊ h Z‘ a 

SỐ mạng khiến sao ch^u tộy^Bã "tv í u , ^ 
phưo-ng phục úehỉAn nhUl^L mâ y dỏi khôn 

Ạnh luôn ‘£f 

oh£? é ? C ’ ™ ‘ g nSệ ngh ỉn u ;,ỉ Ẽ 
ệf m ghé theo dóng giống 1 à n^Ln^Ẵ. 1 ? 

~ *0 jỊ» ng cồi dược 

đầu " 



iiSSiiSI 

cá đụng độ hộ kh u ’^ a , pu n g TĨÓ chẵng 

chi ^ ^ ^ không 

tlan Ị dfr mi 

(Ịúím tãưj?hài ( iủng phép tha Ị, ay w khuôn 
Um cho dàn ngu cung buông tuong uy 

ph «m'h ơ tó người X* Giao-Chĩ dã không đwc tráng 

.ÉHSn —ÌrPĩỂ 

không có đại binh ktn om, r- ủ “ho chúng 

¥rĩi *ắ'S i *Ắ s Ẩ s 

ỌỊ "»“« <5 5*£íiíí man 

iiiSSilsíỆi 

Wễ^ễsễẳ 

S'r? ă^£« «»»• ■» """ 



Ị^ cb thê ’ ựìà làm^nó trở ra thuộc địạ vả giọng xứ 
minh nhờ bỡi biết một it piiẹp' qui c^fe đlt ]ạ 

phai, giảm quyền, bớt phép các người 
^ tr f^ r xử * Yi cớ ấy, như ta dă nói/trươc, nẹn 
bị chia ra ]ảm cbin cỏ viên quan 
hoặc q uan tảu tcấn nhậm, song, đãng dang 
phải tùng quan thái thủ của đức hoàng dế Trung 
Quốc phong lập Nầy là tên các quận ấy kẻ khai 
theo ông đạc đức A. Launav : 

V 

1° Nam-Hải (Quâng-Chàu phủ) ; 

ÌM*. ** Mmĩìỉh . 

? H ấ L í m . (0uê ' í ' ủm - Phỏ - tại tỉnh Ọuạng-Tay) r 
í® trong tĩnh Quảng- Bỏữg) ; 

? ÍH ao ’£ h ( Th ậỊ*Binh-Phủ, tại tĩnh Quang- Tay); 

Cửu-Chơn (Nam-Ninh-Phủ, trong tĩnh Quang.-Tảy) ; 

~° iNhựt-Nam (Bắc -Iỳ dang, thòi) ; 

80 Chảu-Miai (cù-lao Hai-Nam) ; ’ 

9 ° Thiềm-Nhỉ (cù-Iao gần Hải-Nam) ; 


„.. K i h i^ xong ’ dân ' tàu 'đem nhau qua Ỏ-, 
p™ 1 , hi ?p 7 « người an-nam. Phần nhiều tron* 
nhưng tội nhơn bị án ỉưu, đều dày qua mấy xứ da 

sáp nhập ; chứng nó cưới đàn bà bon thồ, con binh 1 

G i ns *ị m như *y »«*•. Việc giá thú . nghinh 
hồn đã chê ra có cách thức, dăng buộe nguỊri 
nam vào gia thất cho chác chắn ho-n, vì trong 
lúc đó xem sự giao cảm thong thả năng có tóm, 
song nó chàng pho sự dề phán trị . như dền. UUJ 
trách moi chủ nhá — lả kẻ đặng rộng quvền tròng 
gia nhơn minh — đã cho quan trên vậy, 

K 5 lỉ fỵ sự ra sức lảm_cho dán díin diệp vá 
chích ạglỊệ ấy ờ cho có chỗ chác ọhần. Ptóp trồng 
trĩa .dậy ra, .còn ngỉrộ-i tàụ tảụ. đán Ịàiạ gựosỊỊg. 



Ịịơị ,vậy, nhò* sự tuyến dần cảch khôn ngoan, đòi- 
khi lấv đều hung dử mả ẻp uồn nữa, nên dàn 
an-nam mởâ dem trí mộ lần lần việc canh nông cùng 
thương mẫi. Chưa đặng một đời, thấy có nhiều chốn 
íàm tòng khi xưa hay làm cho người ta làm bịnh rel, 
hoặc nơi binh địa khước khỉ sinh hàn nhiệt nặng, 
dã trở nèn đồng ruộng tốt, có sức cho nhơn dản 
dặng tài sản, là sự giai ra biết bao nhiêu mùi 
ninh thiếp. 

Nhưng vậy, phải nhìn biết sự chuộng an hòa 
chẳng vững.chẳc chút chi nơi lòng dàn hay canh 
cải cùng lao xao đó, đến đồi một người nữ kia có thế 
mà chiêu binh mải mả, tức thời cả nước đều ứng- 
theo (nàm 40 sau Giáng-Sanh). Bờn bà nầy tên là 
Trưng-Trẳc, vốn dòng phiệt duyệt, muốn trả thù 
cho chồng là Thi-Sách dã bị xử trảm ; vả lại, sự 
báo cừu như vậy trúng nhảm quan thái thú tàu 
phải người an-nam hềm ghét, vì hay lạm tang mà 
ra. Bởi đó, nàng ấy đặng dân trọ* giúp hết lòng. 
Nén tới phiên quan thái thú phải bị bắt và tram 
thủ ; cỏn quàn sỉ tàu đều bị đánh đuôi ra khỏi 
nước. Thừa thẳng hưng tàm nàng Trưng-Trẳc bẻn 
xưng vương, lấy hoàng hiệu là Trưng-Vương. Rủi 
thay, đức hoàng nữ nầy trị nước không dưọc bao 
làu. Vì, vừa dặng hai năm (nàm 42 sau G. - s.) bên' 
tàu — ban sơ không sửc chống lại với loạn — bèn 
sai một đạo binh rất mạnh qua đánh An-Nam, có 
òng Mả-Viện thống xuất, là một vì danh tướng hơn 
hết thuở ấỵ bèn Trung-Quốc. Hai dàng dịch trận . 
gần trót nàm, sau hết binh tàu tháng. Hoàng hậu 
Trưng- Vương với muội tử người là Trứng-Nhị dều 
nịch tử trong khi đánh trả lại với binh trung-qúốc. 



Sau khi khỏi hoàn xong, quan thượng tưỏ-ng tàu 
dạy dựng lên một (lồng trụ nơi cương lỳ Đại-Hán 
quốc, và tạc vảo trụ ấy càu chữ nầy : 

Đồng trụ chiết, 

Giao, chỉ diệt. 

dịch theo nghĩa vai lả (t Cột (lồng phá, Giao-Chỉ 
mất ». Càu chữ đó có hai ý vị, là sự tiên đoán 
thường củng lời hăm he rất độc ác nữa. Chí rốt 
một đều, có khi nó là một cách trong trăm cảch 
đề mà bia danh dửng thẳng trộn ngàn thuở (1). 

Ồng Mẳ-Viện tiếp trị theo cách các quan thái thú 
trước, người dựng sự nghiệp cho quàn linh ở 
trong xứ, giúp chúng nó đặng đôi bạn, lại dùng 
binh sỉ mả ìàm nhiều việc yếu cần cho xứ Giao-Chĩ ■ 
ra địa lựi. Sự người tàu cai trị như vậy chắc có lẻ 
đặng bền vững. Ít nữa người ta dễ tin đều ấy. Song 
sự binh an như vạy thưò-ng thường tạm mà thòi, 
vi như binh tàu nhập với dàn xứ Giao-Chỉ đặng 
làm cho chúng nó ham hố các còng việc sở tại, biết 
■căn một ít vật dụng, thi tới phiên binh ấy mau bắt 
chước người an-nam trong sự phiền trách, xem xét 
việc quan trên hay hả khắc nhơn dân quá mực. 

Cách dân tân dáo mau đồng tinh với người bồn thồ 
như thế, lả vi ỉẻ nầy, đẳng đẳng phải khảm phụng 
các luật lệ như nhau. Nhà nước chẳng phân biệt 
người cai trị với kẻ đầu phục trong chuyện như vậy. 
The thức ấy cỏng trực vả chinh quốc pháp, lả khi — 

(1) Theo lỏi ỏng De Mailla (Histoire de Chine) nói rằng : 
Ông Mả-Viện dạy trồng trụ dòng ba chỗ khác nhau ; gần thắnh 
Quảng-Nam phủ tại Trung- Kỳ; gần núi Fen meo chia tĩnh 
Qúảng-BỎỊỊg Tối Bắc-Kỳ; và gần Tư-Lăng-Chảu, là thành tại 
tĩọỉrQnaỔg-Bông, song lúc dỏ thuôc Bắc Kỳ. 



-32 — 


dày trủng việc nầy — hai thở đần dồng loạ? tiỉéo nhau 
một cảch trong sự học hành dều phong' hóa và 
phưọ-ng tự, sau lại khòng trồi nhau bao nhiêu 
khi canh bien. Đều như vầy lảm cho hết thây 
sinh linh trong xử, bất luận Sắc nào, hỏa ra đồng 
tàm hiệp lực về việc ích lợi chung, lại, khi quan 
trên an ở lộng quyền-, cả đảm bèn trỏ* lại chống 
cự củng quạn ấy. 

Đỏ là chuyện du sinh ra nhiều khi trong các 
tỉnh bèn Trung-Quốc, dầu nỏ gốc lảu hay là bị sáp 
nhạp củng vạy ; đó lả chuyện đến sau củng xảy 
đến chẳng biết mấy phen tại các quận an-nam mả 
ta dang kề dỏn truyện dày. Trong dỏ nỏ cỏ một cơ 
quan nặng : là sự làm cho gầy ra tánh riêng mồi 
nưcrc. Dầu người an-nam tầm lòng minh cho lưom 
sự giáo huấn tàu, thì củng ỏ' theo an-nam, cỏn kẻ 
tàn dáo, bỏâ ít nhơn số lại kết cấu với dản bồn địa, 
tới phiên chúng nó củng trở nẻn an-nam nữa. sử 
kỷ và dân vạt chí sờ sờ đó làm chứng việc nầy. 


Sau lớp quan trấn thủ, cỏ ngưòã hiền lành, cỏ 
kê xấu tánh, song phần nhiều khỉ bạc nhơn dân, 
thời tới năm 187, nhà Hán phong cho một người 
khách kia, tên Nhiếp, lên lám thái thú, vốn thân 
thuộc người đền ở trong xứ dã dạng sáu đời. sử 
ký gọi người là Sỉ-Vương, nghĩa là vua hay chử. 
Người dem sự phong hóa, các càu luân ngử về 
cách vạt vả chánh giáo của dức Khồng-Tử vào xử 
Giáó-Chỉ ; cung là người mở mang việc văn chương 
củng thói tục tàu ra hơn hềt ; lại, trong lúc 
người cầm quòrn vỏ trị, dân an-nam đồ đặng hực 
caọ khi khai khoa thủ sỉ. 



Chẳng nhỉrng là ngưòù làm quan có đửc, mả 
lại lả một vi bát sỉ anh danh, người thi ân bao 
nhiêu cho dàn, củng phò tá Trưng-Quốc mày nhiêu, 
lại khi khí thè, trong năm 226 , lưu hậu dấu tích 
người trung trực, ái nhản, nên dồn sự cám mến lắm. 

Ông Sĩ-Vưưng từ lộc rồi, khi ấy ba em người 
dang trẫn nhẠm ba quàn lớn trong xử Việt-Nam, 
dều tin tưởng sự nối quyền thái thú sẻ về tay một • 
người nào trong ba. Song dức hoảng đế bên Tàu, 
bởi sợ dề việc cai trị mấy quàn xứ Việt-Thường ; 
cho một họ hàng dặng lòng dàn thề ấy, e sau sính 
dều, nèn sai một tướng, tên là Lử-M, qua quản 
lẩy An-Nam. 

Mấy em vua hay chử bèn bất binh, 'phàn phò chống 
tru. Thú sử tàn quan là lay quỉ quyệt, mựu mô, 
hiềm tàm, cho khuyên dụ vời ba òng nâỵ đến cùng 
mình. Cả ba ra đầu thú và... bị trảm quyết. Lần 
lần các thản thuộc ông Sỉ-Vương « củng bị rụn 
dâu, vì dặng vinh vang làm bá con với một ngưò’i 
trước dã lầm cho nước An-Nam ra giống Trung- 
Quốc hưn cúc kẻ khác. » (A. Launay). . 

Gần rốt dời thứ ba, nước An-Nam phải bối 
rối lại nữa. Lúc nhà Ngô với nhà Tấn tranh quờn 
thượng vị, có thế mà làm cho nhiều sự loạn lạc 
dấy lèn ; nhưng vậy, bởi phần nhiều trong dán 
chẳng bị lao khồ cho thái quá, lại lủc ấy dã chiu 
theo lề phép và sự bảo hộ tàu rồi, nên không chung 
sức giúp việc ứng nghĩa. 

Mạ. sau nhả Tấn thẳng dược, nhà Ngỏ. Nhưng 
trong khi đó các quận Việt-Nam cỏ ông Ôào-Hoàng 
cai ỊỊuận, là một vi tẠn tám .phò tá hoàng đế nhầ 



Ngô, nền mới được chức cao trọng thề ấy, lại, trong 
mười năm, quan đại thần trung tín nầy lảm cho nhả 
Tấn không đặng quyền chi trên xứ An-Nam. Vậy 
muốn vồ về chiêu an, phải một người lớp sau rốt 
thay mặt nhà Ngò (đã phục nhà Tấn nhằm năm 
281) sức trác khuyên gián hẳn hòi mới đặng. Dầu 
vậy, nho-n dân dã trìu mến gia quyến ông Hoàng, 
nẽn khó cho các quan khác trị lẳm ; bởi đó,, đức 
hoàng dế nhà Tấn mới chiu theo sự lý trị nước, 
ai nấy dễ hìều, là quên dều bất bình mà đễ cho ông 
Dảo-Hoảng củng họ hàng người quản lấy nước An- 
Nam. Thân thuộc òng nầy làm đầu việc quốc chảnh 
dạng bốn dời, trong xứ thái binh, nhờ sự phàn trị 
tùy theo các đềú cần và ỷ ao ước nhơn dàn thuở ấy. 


Giữa đời thử IV, chuyện tao nhiễu củng loạn 
lạc khởi sự lại nữa. Gác hoàng dế tàu mắc lo lẳng 
nhiều việc đặng sữa yên mày xứ chính của minh, 
nên ít xem dến nước An-Nam. Song qua năm 353, 
đức hoàng dế lại dịnh phúng giản. Người sai một 
quan trong thích lý người, tên là Nguyễn-Phu, 
dặng rộng quyền qua sữa trị vả dẹp loạn cho yèn. 
Nhưng vậy, lần hầy sự bối Tối chẳng phải cớ tại 
quan tàu hà. chánh mà thôi, song bỡi dàn xử Ghiêm- 
Ba xòng qua cướp phá nữa. 

Kễ tử khi vua Triệu-Bế chiếm Làm-Ấp cho tới 
lúc đó, xứ nầy vắng làm cho người ta nói tới chuyện 
nó. Dầu vậy,, nỏ không tư hành đặng, vỉ nó thuộc 
về phần dất của nhà nước Việt-Nam quản thủ. Theo 
lệ, nỏ dinh với Nhựt-Nam (xử Bác-Kỳ dang thời), 
sử tàu dặt tên nó lả Lin-Y, còn người an-naưn iại 
kêu Làm-Âp, song, trong thuở ấy người ta hay gọi 



- 35 - 


làChièm-Ba. Kinh dò nó tên Chiêm-Thành, còn theo 
sự di ngôn thi nó ở tại tĩnh Quảng-Binh ngảỵ nay. 

Vỉ làm sao dã đặng mấy đời yèn ồn, bồng chủc ■ 
thấy có nhiều đạo hưng đồ bãi nước ấy dây lên, 
mà nhiễu hại mấy tĩnh ở theo dọc biền, và dề lại 
khẩp nơi, theo đường nó di, nhiều dấu tích bại 
hoại go*m ghè thề ấv ? 

ỏng Luro thuật chuyện nầy có lý lắm, nèn ta kễ . 
lại vả thèm cho đủ hơn : 

Qưa đòn thứ IV, xảy thấy thình linh trưó - c mặt một dân kia ỏ- 
xứ Lãm-Ap, bồn hình liều mạng lạ dỏ-i, chiến tâm, hải tặc, 
hay xâm lấn cưửp phá mấy châu ỏ- theo mé vịnh Bắc-Ký, lại 
thường khi nó cung lèn cho tó-i Quảng-Châu phủ nữa. Tánh ý 
giặc dấy ra như vậy tại mấy xử liên cưong, sau khi dặng ! 
binh an mấy dừi, chẳng chỉ là một tân dán kia chồi dạy I 
sao ? Theo ý ta, không lẽ nghi ngõ’ dăng, là quàn dạo kiếp 
malavu đã soán Làm-Ap mà thế cho dân thồ hiên tử xứ ây, 
và lấn d'ôn dân nầy vô rặng núi Trung-Kỳ. 

Ngưỏ-i malayu tới ở Tam-Kỳ lúc nào, lại vi làm ; 
sao đến lạp gia cư đó? 

Ilai càu hỏi nầy chác chảng hề minh giải dạng 
bao giờ. 

Bịnh cbo hản thật lúc nào mấy kẻ loán đất trưỏ-c 
hết đến gầy dựng cơ nghi<)p, lả một dều rất khó. 
Kễ nó sau dời Triệư-Vd-Đò dặng, như nói nó trước 
vua ấy cũng dược vạy. Bỡi chưng xem ra vua Triệu 
khòng chiếm xa hơn Cữa-Hàn. Lại, vi như sự xànr 
lăng không xuống dưới phía Nam hợn, vậy người 
la có lẽ mà chịu rằng miền việt địa dó không ai ở 
chăng? Sự như thế cho phép quàn mala»yu dề dến 
lập qui mò tại đó mà không làm thiệt hại ai hết. 
Hoặc là, cũng mấy người malayu nầy dựng gia sản 
chác chắn nơi ấy dã làu, lí.ti có khi giao hảo với 
-người cao-man nữa? 



Trong việc: như vậy, ai nấy đè hiều vì lảm sạo 
vua nước An-Nam ngưng sự chiếm cứ lại . đỏ- Cộ 
lẻ* người gặp phía trước một dàn kia nhứt quyết 
chống trâ, còn hẠu điện bị xứ mái lấy, nghĩa 
là còn dang thủ oán. Hề cảng lước tới xa nước 
mình, thì sự vận lưưng phạn và khí giới trèn bộ 
càng gay trở, còn dủng đảng thủy, âu phải bjnh 
nghĩch, ìà kẻ vượt biền mạnh dạn, làm cho dứt 
đường diệu vận chư vẠt ấy. 

Còn về ỷ nào làm cho dàn malavu đáo ngư dỏ, 
người la cỏ lẻ tưởng đặng, là bỡi xứ Lâm-Ap co 
nhiều mỏ ngĩi kim.. Mấy kẻ loán dất đã vượt biền 
cảm đãm, lại ăn cướp thiện nghệ, phải sớm biết 
cách nào thanh lọù đặng làm trong xứ ấv. Cung -CÓ 
khi làm thì loạn lạc chi đó, nên làm cho mấy tay 
quá hài nầy phải dật vào bải xứ Làm-Ap. Dầu cách 
nào, dàn tản dáo tới ử yên củng chăng, thì người 
bồn thồ cũng phải rút đi lên núi, không kình địch 
chút chi, lại cỏ khi cũng cỏ một ít kẻ ở lai với 
dân tàn đảo mả thôi. 

Chuyện nầy xem ra dường thế, nhứt là khi chàm 
xem như mấy ngưòá malayu đến soán trước hết 
mà đặng đòng, số, chẳc chúng nó cất nhau lên tại 
phía Nam xử Chiêm-Ba, lối giáp giúi nước Cao- 
Man (t) (miền đỏ đời nay cỏ tĩnh Binh- Bịnh 


(1) Một ít vị làm sách kêu nưóc Cao-Man lù Cbơn-Lập,. đó 
lù sự lầm lạc. Theo sử an-nam thì nói Chơn-Lập là xứ từ 
Nghệ- An cho tới Quảng- Nam. Ngưòi chơn-lập bị dàn an-nam 
lấn dồn qua khỏi mấy dây núi Trung-Kỳ mà thôi, cho tỏi mé 
hữu dại giang Khong. Trong lúc này, ngiròi ta cũng còn gặp 
tại Lào, nơi bờ sông hữu ấy, ỏ- giữa Xiêng-Không và Xièng- 
Houug, hay là Xit-ng-Lâp, một chi phái kia không phải loại-cao- 



chóảrí). Chủng nỏ tỏ ra đều n hư Vậy lả tạĩ kìễu cết 
nhả cữa và sự tin tưởng trong cách thờ phượng ĩroi 
theo dàn dàng thồ. Vậy sự chúng nỏ dirih bén lâu đời 
với người cao-man đã ưng lý, lại chủng nó có mgày 
giờ mà hiệp thân hòa huyết với dân ấy. 'Bởi dó, 
có lẽ, nào chẳng tưởng chúng nó không lảm một 
thế với ít kẻ làn cận ở phía Bác. Sau hết, chẳc 
những người an-nam dấy loạn bại trậri còn chỉ tồn,- 
mẩy kẻ hung hoang dảng tử viễn tị pháp hinh, hết 
thãy cả đoàn khốn kiếp mả nhà nước quen xua 
đuồi ra mấy chỗ giáp giái nào xa hơn hết, thi họ 
lại kết hiệp với ngưỏ-i malaỵu. 

Ãy vậy, khi chúng ta tới khúc truyện nầy, có 
lẽ đàn chàm dỏ không còn phải là một đám thuộc 
về tinh loại nữa. Nó dã trở nên một nước riêng, 
•có người malayu, cao-man, an-nam lộn lạo, và có 
khi người bồn dịa xứ Làm-Ấp nữa. Song le sự pha 
dỏng giống nầy không phải trong một ngày mà 
đặng ; có khi nhiều dời đã qua, lại theo ỷ ta tưởng, 
là kẽ từ thuở có một lừp người malaỵu dến ở lối 
giáp cỏi nưỏ-c Cao-Man, vả sự nầỵ không ăn nhạp 
với mấy tốp nhỏ riêng dã trầy qua, nhiều lúc khác 
nhau, mà ghẻ ở dặng một ít chồ tại bải. Mấy người 
tân đáo nhứt quyết đình trú như vậy, thi lại hiệp 
VÓT dản bồn thồ mà làm ra một nước riêng; chúng 
ta khống nghi ngờ đặng dều nầỵ. Song phải nỗi 
một rần mà thôi sao? Không, vì cũng có lẻ dinh 

man, lại có khi là mấy ngưíri bền thồ dắt Chơn-Lặp láp tiền 
nhựt còn dư lại đỏ. Thuỏ- trưác, cảc xứ lèó nầy là chư hầu 
Cao-Man quốc, song có bao nhiêu dó mà thỏi. Tên Cambơdge 
là của - người portugais đặt ra; dàn dàng' thồ kêu nước mình 
lả 'Sroc-^KỈirher, còn ttgơòi aữ-nam lại-gọi là Gan-Mên . 



chẳclủc sau có nhiều. tốp- mói, 'bơi mấy đại chầu 
malayu mà đến hiệp củng những kẻ đong hương 
với chúng nỏ nữa. 

Sự ấu quốc -Hầy sanh tấn lần lần thì cỏ ngần cỏ độ, 
do theo hướng nào yếu ho-n hết, nghĩa là : hưó ng 
Bắc. Nhơn vi phía. Nam cỏ xử hoặc không ai ỏ' (đất 
thấp ướt tại vịnh thuộc về cữa sông Khong), hoặc có 
người cao-man soán, song khi ấy đã dỏng cường vả 
thạnh thế nưa, nên có lẻ tận tâm binh vực quê quán 
mình, không đề cho kẻ tha phương nào đến dó (í). 


(1) Ngưò-i làm sách Empire d'Annam> ư. v._, song dã ần 
danh (ỏng .). Silvestre có làm lỏi chú giải), tưởng rằng, miền 
trung cháu thuộc dại giang Khong, hay là Nam-Kỳ (tiền nhựt 
là Cao-Man hạ), có ngưòi malayu, hoặc là ngưòi chằm ỏ- dỏ 
trưóc dân đàng thồ làu lắm ; vả chăng, sách Chronỉque des 
anciens rois du Cambodge, nghía là sách Ngọc điệp kề các 
tiên vương nước Cao-Man (của ông M. Aymonnier diền rã 
cùng tbích nghĩa), thi lại nói rằng, khi trưó-c ỏng Ascha.y, là 
vua chòm, trị xứ Cao-Man dang thòi phải ngưòi dàng thồ đoạt 
ngòi, ỉối năm 289 trưổx (Ỉ.-S ; quản thần vua ấy rút di xuống 
phía Nam, noi miền trung châu, đích thật là tại vịnh thuộc vàm 
sỏng Khong. Đến sau, ngưíri đàng thồ duồi theo dàn bại trận 
cho tỏ-i lối mấy cữa sông ló-n ấy. Có một vua cao-man đỏng dô 
tại Saigon, thuở ấy đặt tên Prey-Nokor (nghĩa là vưomg lam), 
ỏng F. Granier khỏng l ập theo sách ngọc điệp, ngưỏ-i noi 
V dân đàng thò loản xứ chàm thuở- dừi thứ mưồ-i hai (1153-1156), 
còn người làm sách giấu tên k’ê trước nầy lại chỉ niên hiệu theo 
sử tàu là nám 1197. 

TỚI phiẻnta, thừi ta tưởng sách Chronigue des anciens rọis 
du Cambodge cùng dồng hữu lý như sử tàu vậy. cỏ khi chư 
vị lảm sách hài danh tnrớc dày lộn mấy cựu chi phải vớ-i dám 
hải tặc malayu. Các chi phải nầy, nay chúng ta còn gặp dấu tích 
lưu tại xứ Lào và trong cảdảynủi Trung-Kỳ, lúc trưỏ-cbị vô số 



Sự tẩn lẻn hưứng Bắc thi cứ tiếp dần cho tới ngáy 
nào người chàm đụng một thứ dàn kia có sức mà 
ngăn cản lại, là : ngưò-i an-nam. 

Trong hai nước, bèn nảo-tiên chiến, phía nào 
quấy trước ? Sữ không phân giải cho chúng ta hiễư 
dẹu đó. Chúng ta biết sự nầy mà thôi, lả cho dặng 


kẻ loán đất Bông-Dưong, là : ngưòú mông-cĩ), người tây-tàng, 
ngưòi aryas, người dravidiens vó-i ngưỏi malayu luân phiên • 
nhau raà hòa hiệp, lấn dồn, phá tan hay là hủy tuyệt nữa. 
Bỗi đó, lối năm 289 trưóc dời chảnh kỉ chúng ta dây, ngưòi 
dàng thồ mới đánh duồi đặng dàn chánh bồn địa ; còn qua lúc 
sau, đòi thứ mười hai, lại kình chống cùng ngưdri malayu. Một . 
cách cũng như mấy ngưòá maiayu nầy, là cỏ khi dã soán các 
cửa sông Khong và ỏ- tràn ra tử đó mà qua phía ôông-Bắc. Dầu 
vậy, ta cũng cứ tưởng rằng mấy người từng trãi việc đi biền 
bơn làm ruộng, thạo cách dạo kiếp hon là chích nghệ, chẳng 
O' miên trung châu sỏng !ón nầy đặng, vì lúc dó còn dang tân 
bồi, cũng đầy tinh bưng láng, rừng rú, lẻn hơi dộc sinh hàn 
nhiệt vá các thử bịnh khác, lại chỗ dó không gặp sự gi mà làm 
cho vừa tánh siêng sắng chủng nó. Thật lả tại mấy miền nào, 
như ta có cho aị nấy rỏ thấy trước, mà dề ở hơn, dề tim lọi 
hơn, thi nó quyến dụ mấy kẻ loán đất tới, lại cảc miền dó ở 
tại Trung-Kỳ mà thôi. Ăt có lẽ dến sau ngưòâ malayu ĩr rai qua 
phía sông Không, cũng như chúng nó dã ở lảng qua hưóng Bắc- 
Kỳ vả Trung-Quốc vậy ; sự đó có khi như thế và làm cho ta 
chắc ý hơn nữa. 

Còn vẻ may thử tieng nói kề trong Ngọc dièp cao-man lại xem 
dương nguyên cựu nó bởi tiếng chàm mả ra, song lúc nầỵ nó 
chưa tỏ le chi cho chẳc, bởi vì phải ch! dần người chàm kim 
— là ló-p cựu dân chàm bị người an -nam lấn dồn còn dư 
lại, sự nầy không chối tử đặng — song cùng là lớp dán bại trận 
phảj ngưòi đàng thồ đánh đuồi cách một ngàn năm trưỏT mà 
cốạ chỉ tồn, d'éu như vậy khố ưng lý lắm. 



cầiah -phạt mgn&i Tệfoảfn về tí$ỵ 'VÌệc;bu^:4c4St 
phạm, thi ỏBg Nguyen-Phu, khảm sai dại Ạần .cưa 
đức hoàng dế Trung'Quốc, khi vừa cầm qụò-n chấp 
chảnh, ngưởi bèn dần một đạo binh qua đất -Lctrn- 
Ap cùng triệt hạ -năm mươi cải đồn xứ ấy. .Binh 
gia đánh phá lung lẳm, cho đến đồi quân ăn cướp 
ngưng sự nhiều hại trót bốn mươi năm. 

Qua năm 399, vua xứ Chiêm-Ba đam binh di 
loán đất nữa. Vua ấy cướp phá theo dọc biền 
cho tới Quảng-Chàu phủ, song không ỏ' đươc chồ 
nào hết. Quan thủ sữ hay các quận xứ Việt-Nam 
dánh đuồi đặng giặc khăp nơi. Ong nầỵ lả ngưòũ 
an-nam, tánh danh Bồ-Viện, nguyên sinh cũng tại 
một. làng vói dức nữ vương anh hùng Trưhg-Trẳc. 

Kế mười bốn năm sau, là năm 413, ta lại gặp 
cung vua ăn cướp dó đang quấy phá tỉnh Quảng- 
Bông. Ong Iĩuệ-Bộ, con quan thú sử Đồ-Viện, trong 
lúc ấy dã nối nghiệp cho cha. Người có phưỏ-c hơn 
thân phụ minh nữa, là bắt dăng và lấy thủ cấp vua 
xứ Ghiêm-Ba. 

Cách hai năm, có một vỉ lân vương malayu trở 
lại phá phách nữa. Bải biền xứ Bắc-Kỷ phải tan 
tác. Sau hết, ông Huệ-Độ mởi hiều phải dùng thẳng 
phép mà trị kẻ nghịch hung bạo như vậỹ móú đặng. 
Năm 420, người qua dất Chièm-Ba, chém giết trót 
nữa phần nhàn dàn xứ ấy, vả buộc ép lớp còn 
dư lại phải trả tiền bạc rất nặng mà chuộc mạng 
sống. 'Mả khi dân chàm vừa khỏe lại, thỉ vua nỏ, 
là Phạm-Dương-Mại, trở qua loán đất Cữu-Chơn 
nữa (năm 431), song bị bại trận phải trơ lại. 

Năm 436, quan. nguyên soái tảư sang qua đất giặc, 
đánh lấy nhỉều đồn lũy, phả hủy đạo binh chàm, 
rồi chở tài vật raà đam về nưỏ-c mình. 




Dân xử Chiềm-Ba ở yên đặng vài nám, mà khi 
thấy mình huờn lực lại vừa khá một chút, thi nỏ 
trở qua cưửp phá nữa. Nó đi ngã biền xầm lấn 
lần len, còn trên bộ các quan tĩnh nước An-Níim 
đảnh lại, nó thua nhiều trẠn tan tác. At thật, -., 
các người an-nam phải chịu lao đao vê mấy lúc 
phá hại khôn dứt nầy, song nhờ sự chống trã 
với quân nghịch chung hằng tái sanh mãi, nén 
làm cho dân an-nam có tánh nương cậy nhau lại 
một chút, vì đồng quốc, mả đã mất làu ngày, dăng 
chiến tàm như trước, mở lòng hiều biết tải sức 
riêng minh thề nào, dọn ỷ ước ao cho sẵn như . 
vậy, đoạn chiếm thâu sự tự chủ minh xưa. 

bời chiến quốc gân chồi dậy. Cũng phải nói chuyện 
phàn phiền bất tặn dường thế bởi chư vương tranh 
vị mà ra, lảm cho nước Tàu hóa như một xử xao 
động, tan tành, không sức trừng trị chư hầu đặng 
kính phục mình nữa. Ban sơ nhà Ngụy phế Hán, 
lại tửi phiên Ngụy bị Tấn, hiệp lực với Ngô, mà 
đoạt ngôi đi ; sau hễt nhà Tấn cũng phảỉ“ chịu 
nhượng vị cho họ Tống nữa. 

Trong khi trào Tổng chiếm vi thiên tử, lại nhờ 
mấy lúc bối rối khôn cùng lảm cho Trung-Quốc 
tản bại, thì có một cơn loạn lạc nồi lèn lần thứ 
nhírt nơi dàn xứ Giao-Chỉ. Một người an-nam kia 
đại đảm lẳm, tảnh danh lả Lỷ-Thường-Nhơn, 
chuyện quyền thú sử và gìn giữ chức ấy cho 
minh. Cách một ít năm người mãn phạn, thỉ Lý- 
Thục-Hiến, là bà con, lẻn kế nghiệp. Bấy làu nhà 
TốỊỊg dề lam sao tự ỷ, song nay phải nhà Tề đoạt 
ngoĩ 'bảu rồi; ban sơ đức hoàng đế tân ưào cũng 
giữ y vậy, sau lại thâu quyền Lỷ-Thúc-Hiến mà 
cho ỊỊỊỊỘt quan thú sữ tàu qua thế vị (nẳm 485). 


4 



42 — 


Nâm 541, cỏ một lúc dấy loạn khác chỗi dậy mạnh 
hơn lần trưởc, lại được việc chầy ngày hơn nữa; 
Cỏ một ngưửi, tên lả Lỷ-Phĩ (1), vốn quê quán tại 
xứ Thái-Bình (thuộc Trung-Quốc) đến ở trong nưỏ*c 
lúc cuối đời nhả Hán ; ông nầy dược danh tiếng về 
chữ nghĩa văn chương cùng vỏ nghệ, người nhờ 
hảng nho sĩ (trong dám (ló có ông Tịnh-Thiều) 
vả các quan văn trợ sức, cả thề, nên đánh duồi 
đặng mấy quan tàu. Người xưng vương, lấy hoàng 
hiệu là Lỷ-Nam-Bế (năm 544). Rủi thay, trong lúc 
tao loạn như vậy, dân chàm cứ rình rập luồn, 
nên nỏ dùng dịp nầy mấtởi xâm lấn nước An- 
Nam. 

Vua Lý vừa đánh đuồi được nó, kế có một 
hoàng đế nhà Lương, khi sữa dcp an bài bèn 
Trung-Quốc, rồi cung muốn làm cho xứ An-Nam 
hàng phục nữa. Vua Lý-Nam-Đế bl binh tàu đánh 
thua mât gần trọn phần đất mình, sau lại thọ 
bịnh mà chết (năm 548). 

Lúc đó binh gia an-nam muốn nao lòng núng 
tri, kê cỏ con một người trong mấy chánh dãng 
dậỵ giặc, tên là Triệu-Phục, ra mắt, làm đầu đảnh 
thắng birih tàu. ông nầy trở nên anh húng nhứt 
xứ, tóm thâu giềng mối trong nước, lại lay hiệu 
là Triệu-Việt, Song thương ôi ! người hưởng danh 
trạn không đặng bao lâu mả hết. 

Trong lúc vua Lỷ cự chiến vỏà binh trung-quốc, 
thòâ cỏ ông Lỷ-Thiên-Bửu, là hoàng huynh vua 
Lỷ-Nam-Bế, nhỏ- một ngưỏ-i tròng thân tộc minh, 
tên là Lỷ-Phạt-Tử, giúp sức ướm dằnh phá thư 


(1) Õng p. TrưoTtg-Vĩnh-Ký gọi là bý-Iỉôn. 



quận Cữu-Ghơn, song bị thất trẠn, binh gia tan tác, 
ncn chạy vô tị nạn trong dày núi xứ Ai -Lao. Sau 
hiệp quan gia lại dạng, người xây lèn một thành 
tại Đao giang và lấy hiệu là Đăo-Lạng vương. 
Ngưòâ tạ thê nhằm năm 555. 

ông Lỷ-Phụt-Tử nối nghiộp, sau tranh làm vua 
cả nước An-Nam. Bởi đó sanh ra sự dấu chiến 
với nhau không dứt. Vua Triệu-Yiệt thấy dàn lao 
đao lận dận, thỉ dộng tình thưo-ng xót, nèn lấy lòng 
quảng dại mà giao hòa và nhưọmg phân nưa nưox 
cho người tranh ngòi với mình. 

Vua Lý trị phía Nam, nghĩa là phần đất lừ 
Hoàng-Chãư, hay là xứ Nghẹ — nay thuộc ve llà- 
Tịnb, Nghệ- An 'vói Thauh-Uóa — mà chạy vò cho 
lới Iluế- Ngưò-i lấy lòn tìào-Lang làm quốc hiệu . 
Muốn cho sự hòa hảo ra bền bỉ ho-n, vua Triệu 
mỏi gả còng chúa minh cho Nhả-Lang, là thai Lư 
vua LÝ. Song bỏi sự tham lam vua Lý-Phạl-Từ mạnh 
hom lòng tốt, nôn ngưòi đánh lại nữa. Vua Iriệu 
không muốn cho dàn chịu hoạn nạn làu ngày như 
chuyến liưỏ-c, ngưòi bèn lự vận di. 

Con vua Lý, chớ chi trong lũc dặng quừn chúa 
lề mật minh, mà lụư.Yi- sữa sang giềng mối trong 
nưỏ'c lại cho cỏ ich lợi hom, ai hay nguVi chảng 
to đều chi sốt. Sau khi làm cho trong nước chịu 
nhiêu nồi tàn toan vi nội loạn, thi xem ra ngươi 
chang' còn bên cbí huyết chiến vê sự lự chu minh 
nữa. Người ỏ- ngôi (lặng 31 nam, kê đức hoàng 
dế bên Tàu (khi ấy nhà Tùy lức vị) sai ông Lưu- 
Phương qua (lánh ẻp làm cho nước Ạn-Nam phục 
minh. Hĩnh trung-quốc (lã: dỏng số, lại chiến tàm, 
kốó qua giáp giái (lúc dỏ nhảm năm 60Í) ; d ')0 nây 
• danh thẳng bĩnh àn-nam tràn dầu, doạn dav tói 



đóng trirỏ-c dền vua' Lý. Khỉ đổ vua đã giả cẳ, nên 
chịu dầu, sau về Tàu mả chết bẻn ấy. Bâậlchung 
d tí u che baì cung mạn mạ, vi chẳng biết chống 
I.rả lại với sự -cai trị ngoại quốc mả hộ vực nưó-ẹ 
minh. 

Thật thi nu'ó‘c An-Nam khôi phục như vậv dặng 
chừng sáu mươi năm, song chẳng phải bỡì sức 
ricng minh hơn là nhờ dịp Trung-Quốc vô lực, 
mac phai lận dận vi loạn lạc mà ra. 

Về jiệc mở mang nhơn hội, thấy cỏ một cuộc 
c ;ị đáng tỏ bày ra đày. Tử đời thứ IV cho tói 
fiỏ 'ị th * VỊ, dòng dỏi người đất Giao-Chỉ chẫm rải 
dò-i chồ ở lần lần. Phần nhiều trong dàn bỏ chốn 
son làm cảnh thượng dư, má xuống lập lần hồi 
quố ngụ chẳc chẳn nơi miền trung chàu và ở dài 
theo bãi biền. Ngưỏ-i an-nam sữa sang một cuộc đất 
mó-i như. vậy, kề tử ranh phần Quảng-Châu (thuộc 
Lĩnh Quãng-Bòng) vô cho tói kinh thành Huế; song 
giiip giai phía tây vuoi tảy-nam cũng mấy dây nủi 
<ló ; dầy tinh rừng bụi nê khí, là no'i dinh trú các 
cliị phái cứng cỏi, bất tuân mỉ tục, củng những 
cln diẹp thieu lực, không tranh đặng phần tho cư 
và chư vạt dụng, cua đứng lạo hỏa da dành đề cho 
các kẻ nào minh man hon. 

Ban sơ quan dô thống Lưu-Phưong dạy binh sỉ 
làu soán trong xử, đoạn phùn ra cho ở hai mưo-i 
môi cái dồn, sau lại chẳng khỏi bao lâu, người cung 
phảỉ đánh với binh chàm nữa. Nam 605, nghĩa là 
vào xứ Nam -Việt đặng ba năm, ông Lưú-Phương 
thây vua nước Chiêm-Ba đến ỉoán Bẳc-Kỳ-. Đỏ la 
phần số xử di ạ lọũ nầy phải chịu như vậy. Nơi ấy 
giặc giả luôn luôn, khòng dứt đặng. Hoặc dân tinh 



nồi dậv chống cùng Trung-Quốc, hoạc cỏ nội loạn, 
'hay là* quàn chàm tới cướp phá. Như ba thê sự 
tai biến nầv không xãỵ đến dồn dạp một lưcrc, ấy là 
đều khồ não không xiết, thì nó xàv vần nhau mà 
nhiều hại nhom dần. 

Ong Lưu-Phương dánh duồi quàn khêu chiến và 
theo riết cho tói dất nó. Người soán lấy kinh thành, 
rồi góp thàu của cãi rất nhiều mà dam ve. Nhưng 
vậy, cách người hồi qui chang có chut chl gọi la 
khấc thiệp, vì binh gỉa làm bịnh chết dọc đàng nhiều 
lâm, lại chính vì người là tướng quàn, cung phải 
bỏ minh trước khi về tỏầ Trung-Quốc. 

Năm 018, nhà Đường nối trị cho nhà Tủy. Ouan 
thú .sữ hay cỏi Việt-Nam: khi ấy tên là Hòa-Lịch, 
khòng chịu khâm phục tàn vương, lại thay vi Qựu 
trào mà kinh dịch lại, như ông Đào-Hoảng hồi trước 
vậy. Đỏ là những gương trung tín về lời doan thệ 
ma sữ lấy làm có phước chép ra chinh giữa sự tu 
Ố mấy đám con người, giữa dều tọa tang biết bao 
nhiêu đứng quờn quới, không chút chi náo động 
tàm tình về chuyện ưu phiền kẻ khác, lại cũng 
chẳng vỉ đến việc thiệt hại chập chồng dán chủng, 
miền là chiếm đặng quyền thế thì thôi. 

Lại đày, nhà Tùy an ỏ- với Hòa-Lịch cũng như 
nhả Tần với Đào-Hoảng lúc trước. Họ Tùy cung 
dề cho ông Hòa-Lịch thân dò đại vị, bỡi cỏ lẻ tưởng 
rằng, sự phò lả trào khác cách trực tinh dưòmg thế, 
chảng phãi là mao bịnh làm cho vĩnh bất tự dụng; 
vã lại khi người ta gặp dọc dàng một dứa dầy tớ 
nào trung tín, có tài như vậy, ai ai cung làm cách 
kia thể nọ cho dạng nó theo giúp dở. mình. ^ 

^ LÚC' ấy, hhàm năm .61 8, nước Aa-Nam chịu di ti 
jí khác lalhl xưa lắm, chắc là tại dàn dời chò ở mả 



rn, như la đà trần tỏ trựớc^lni cũng cớ lẻ bổi 
k! ui quốc càng ngày càng rộng, lon, vàlấnỉám qua 
hiróng Nam. Dức, hoàng dế dau nhà Đưộ-ng, ni.cn. 
1 H>it c~bức, lập chánh sự ra cho nước An-Nam. 
Từ lớp thượng cồ chí dĩ lúc ấy, xứ An-Nam, khi 
thi trở nàn một mrớc riêng cú vua trị, khi lại chìa 
lum chín qu;'n vịột-thirỏmg có quun nguyên soái tảư 
thống, quan binh đùn. Nhà nước tàn tạo mầy dặt 
ten lù An-Nam-Đô-IỈỘ-Pliủ (1), kề lử chót hưóng 
bac xứ Íỉác-Kỷ chạy vò cho tói tĩnh Qnảng-Nam, 
lai phan ra làm mười ba cháu, phai cống phứ thèo 
lệ. Việc du nạp như vậy dến sau hỏa nèn cằn cứ 
những dêu loạn lạc mó'i. 

Nàm 687, có sự tạp lập dấy lèn, quan dô hộ 
Lưu-Dièn-Hựu bị chém chết, song đốn sau tó-i pKièn 
mấỵ tay làm giặc cũng phải chịu bát và*xữ trảm. 

Năm 722, có một người an-nam kìa, tên Mai- 
Thúc-L jan, lam dầu dây loạn cả thề hom nữa. Ngưòâ 
soán Xứ-Nghệ, giao lân với dàn chàm và dàn cao- 
man, roi dày tới dánb binh trung-quốc Nhưng 
v ịy- dầư q uâ " gia dặng dòng số, thời khi giáp trận 
dầu, người cũng bị mấy tương tàu phá vở tan, nen 
nu-ỡc An-Nam phải chịu phục. 

Năm 758, dức hoàng đế nhà Dường cải danh hiệu 
nước An-Nam ra Trấn-Nam; song cách mười năm 
no lấy tèn lại như trước . 

767» m phiẻn người malayti phá phủch. 
Dàn nạy bơi chòm dại châu mà qua cưó-p phá hải 
biên xứ Bắc-Kỷ lung lảm. Biết phải rằng no lấy ý 
nèngden nhiễu hại thề ấy, hay là có dàn chàm,, bởi 

(1) Nghĩa là nước An-Num chịu Trung-Quốc b2o hộ cách 
nhặt nhiệm. 



— 47 - 


thấy dèo người an-nam muốn soán đất minh, nèn 
xúi giục như vày chăng ? Sữ kỷ không giải đều dó. 
Chúng ta hieu việc nầy mà thối, là quan kinh lược 
tàu, tên Trưưng-Bá-Nghi, đánh đuồi được nghịch 
tặc, lại bỡi muốn phòng ngự xử Bẳc-Kỷ cho khỏi 
chịu xàm lăng lần khác, nên mó;ỉ xây La-Thành, 
đến sau trử nẻn đế kinh (là Hà-Nội kim thời)(i). 

Song La-Thành cung chẳng dón ngăn dặng dân 
chàm, cỏn bải biền, là chốn dây công lao khồ chiếm 
cír, gần bị quàn phỉ hải phá tản một lần nữa. Lối 
dầu đời thử IX, sự loản đất trở lại khuấy rối, 
cung có một nước Chiêm-Ba mới tái lập xàm lấn 
ranh phần vô trong Xứ-Nghệ. Dân an-nam bại tích 


(1) Nói ỳê Hà-Nội và chung quanh thành ấy, ta đặng thơ 
ỏng Trưo-ng-Minh-Ký gỏi nòi như sau nầy, lại nó phải dịp cho 
•la nhắc tích xử Giao-Chỉ một lần nữa: 

« Trong sách -Đại-Nam guốc sữ dỉen CQ, của ồng Nguyền- 
Du chép ra, thấy cỏ hai câu n'ây : 

Định-An, Hả-Nội đoi thay, 

Ay chàu Giao-Chỉ xưa Iiay cỏn trayên. 

« Vậy Giao-Chỉ lâ Hà-Nội lúc này. Khi trưỏc nó là một châu, 
hoặc một bộ, thuộc Văn-Lang quốc (nữó‘C An-Nam thuỏ- dòã 
nhà Hùng-Vưong). Nếu như ngưỏiitàucử hàitẻn Giao-Chí luôn 
như vậy, là bỡi ban sơ chiếm được cỏ một châu đó mả thỏi, 
lại, nho-n vi nỏ đặng tư nhuận và phưỏ-c diạ, nên có lẻ họ ao 
ưỏ-c hon mẩy chỗ khác. 

. <t Tôi xin trần tỏ một chuyện nữa: là không có nơi nào tại 
Hà-Nội mà thấy người cỏ ngón chơn cái chẻ rè, như gặp 
đôi khi ỞNam-Kỳ. Một ít ngưòi trong dân xự nầỵ bỡi cựu dán 
- đùng thồ mả di lai . B 

Bày giỏ-, tói phiên ta cũng kề bày cho ai nấy. ro, mấy chuyên 
ta hữu sự di lèn Cao-Man và Lào-Hạ, ta cũng chẳng thấy chồ 
nào có ngưò-i bị ngón chơm cải dạt rạ làm vây. 

■ S 



một luc, sau tiếp đằnh liền, nhò' cỏ cảc tưởng và 
quan đô thống tàu quản xuất. Hai bên giáò phong 
một ít làu, khi thẳng khi thua. Sau hết binh an-nam 
duồi đặng giặc và lấy bải biền lại cho tới Quảng- 
Nam bày giờ (năm 808). 

Giữa đời thử IX, có sự xàm lăng khác dử tợn 
hơn mấy khoản trước, nó dằy tràn trong cả vả 
xứ, làm cho nước An-Nam phải hạ trầm. Lần nầy nỏ 
ở miền cao mà xuống, bởi nước hiệp chúng Nam- 
Chiếu, cũng gọi là Lục-Chiếu, trong đám đó có 
mấy chi chánh tự trị ở tại Vân-Nam hạ, vuối cả 
miền Lảo-Thượng nhập lại nữa. Quân nam-chiêu 
xem dường có mọị Thô-Mán đốc giục, đem dâng ; 
vì dân mọi ấy bị đầu phục nước An-Nam, lại có 
nhiều sự phiền hả. các quan thưựng tàm Binh hồ 
lồ đánh lấy nhiều thành lủy, rồi loán tràn" trong xứ, 
đi tới đàu cướp phả tới đỏ. Nỏ bị bại trận đầu, 
song qua năm 862, nỏ trở lại hílm vây đặng thảnh 
dò hộ củng lấy một phần nước An-Nam. 

Đức hòàng đế nhà Đường đề vẠy một ít làu, 
đến sau người quyết định đánh duồi quàn xâm loạn. 
Người sai nvồt quan trong hàng danh tướng, tên lả 
Cao- Biền, ông nầỵ chiếm thâu kinh thành lại và trảm 
quyết dạng nguyên soái nam-chiểu. Trong nước, 
mơi binh yen như trưỏ-c, nhưng không được bao làu. 

Kế thắv binh nam-chiếu trô' qua khêu chiến nữa, 
song khi ấy dức hoảng đế mẳc phiền việc bèn 
Trung-Quốc, không giao tuy dặng vởi nó, nên tính 
eiao hòa và gả công chứa cho dầu mục quàn nam- 
chiếu. Ong nầy bèn sai ba tề tưỏ^ng mình tài tinh 
hơn hết đi tiếp rước. Song ông Cao-Biền biết mấy 
quan ấy lực lượng phương pháp lẳm người có gởì 



— 49 


thơ. tâu xin đửc hoàng đế tra (lộc dược, lại viết 
thèm như vầy <( nước Nam-Chiểu phải suy vi làu 
ngày không còn phá hại dặng nữa 2 . Lịnh truyền 
ìàm y theo lời khuyên, nên dạo binh bá chiếm mất 
tướng phải rứt về (năm 870) ( 1 ). 

Rốt đời thứ IX qưa đầu đời thứ X, thấy có nhiều 
lúc bối rối, hoạn nạn hết sửc. Muốn cho chơn vạc 
dạc an, phải có sự cai trị tinh thòng, còng chảnh 
và ỉọú dàn. Các quan tồng thống tàu dã không 
chấn chĩnh như vộy, lại cứ thay dồi luôn, nên 
biết cỏ mấy dều nầv, là thêm sưu dịch cho nặng 
hơn, gia tăng thế nạp, dùng dều đại ác mả chống 
lạì với dàn chúng. Có lẽ mấy quan đỏ tưởng làm 
như thế, thì quyền phép minh ra bền vững hơn 
và ém nhận đặng trí kình dịch người an-nam 
xuống, vi chưng càng ngày thấy cảng chồi dạy. 
Song le giờ sau hết gần đồ. 

Các người trưởng thượng trong dân an-nam chịu 
hết nỗi sự hà lạm nhà nước tàu, mỏi mê về dều thọ 
hại mấy luc tranh vưo-ng, làm cho Trung-Quốc phải 
máu rơi thịt nát, nèn tiếp nhau ứng dậy chống 
cùng quyền cai trị ngoại quốc. Năm 931 , loạn lạc 
trản ra kháp xứ, các quan trấn tàu bị duồi thiệt ra 
khỏi nước An-Nam, không còn cho trở lại nữa. 
Chúng ta cung phải biết rằng, lựa iủc như vạy thật 
trúng cách lắm. Trung-Quốc khi ấy dã mỏn súc 
rồì vi nội loạn mả ra, nên đương chịu thi tao động 
tai ương thậm chí. 

(1) Thẹo ông đạc dức Lcgrand de la Liraỵe lại khác, người 
nội sự ngự hỏn dà an thành, vi lẽ ấy xứ Vân-Nam phải nhập 
vầo Trung-rôuốc. 



Rủi thay, .mấy tiều chúa an-nam thiện quyền 
chẳng đặng ngoan ngùỵ hơn chư đại vương bên 
Trung-Quốc tranh ngôi thiền tử. Gác vỉ ấy háy ganh 
go, tương hại 'mà (loạt vị nhau, một đòi khi kiêm 
cách làm cho quyền thể có hình dáng chỉnh phép 
hơn, là xin hoàng dế Trung-Quốc phong vương cho 
minh, dều như vạy vua tàu chẳng hề từ nan bao giờ. 
Các sứ quàn nầỵ mẳc cả ỉo cho quvền phép mình , 
dạng bền vững, bơi nó hằng muốn say mất luôn, 
nôn khòng tu chỉnh thề lộ chút chi trong nước. 
Cũng có một khi kia mồi chúa xử chăng còn cung 
phụng luân àm nữa, vi vua vô quyền, lại thiện 
hành trong bồn tĩnh. Bỡi đó sinh ra một lúc nọ 
làm cho các phần đất nước Ần-Nam hết chung lo 
viộc quốc chanh, nên không có sức chi hết. 

Sự lấy làm lạ một chút, là nho-n sao nước Chiêm- 
Ba khòng ưỏ'm thử phá lại mấy kẻ lièn cư với mình. 
Phải (lịnh phỏng rằng, khi đỏ nó cũng làm thì thế 
đơn SO' lắm, bỡi lúc sau đày chủng ta còn: thấy nó 
di' loán đất nhiều lần. 

Dầu cách nào, ví như các quan trong nưức phàn 
cảch ngãnh nhau làu ngày, thi chắc làm sao Trung- 
quốc cũng chiếm trị lại nữa. 

Mà thạnh lợi chi cho nước An-Nam khi phải -Trung- 
Quọc thủ hộ như vậy ? 

Ta không thấy một ích nào sốt. Thuở dó,. dàn an- 
nam mưọ-n những sự nước Tàu cỏ thế mả cho: là 
cách cai trị, phép xữ doán, sự phượng thờ, nghiệp 
văn chương và lẻ thông thái, cả thảy đều- bởi 
Trung-Quốc mà ra. 

.Người an-nam nẳm giử, sao lại, song không ép 
mình rập V theo kiều nước ấy. Dầu mả cứ ngợi 
khén sự giáo huấn tàu luôn, bởi bồn tánh tự nhiên 



— 51 — - 


hiều biết nỏ lù đều thi àn, thì củng chẳng hay bẳt 
chước cho thường. Dâu cho lúc sau đi nửa, khi các 
vi vương đế mrớc An-Nam khôi phục lại dạng chắc 
v chán vả tự trị, củng cũ' gi ử phạn sự phụ dung 
minh với Trung-Quổc luôn, thật thi theo lệ vạy mà 
thỏi, song nó chứng tỏ lòng cung kỉnh mấy vua về 
vièc giáo hóa kỳ diệu ấy. 

Người ta bát lý rằng, cách mấy đời dã qua mà 
ngưừi an-nam không lãm cho sự giáo hóa tàu lấn tới 
chút chi hết. Các lài khéo và sự thòng thái nơi dàn an- 
nam hâng kém sút bội phần, hom là ỏ- bèn Trung- 
Quốc. Cỏ lẻ dưòmg thế, song- ví như ngưỏ-i an-nam 
ỏ' sau xa theo sự giáo hóa tấn tó'i mã thòi, thi nhưng 
vạy cưng chẳng lìa bỏ; lại còn như khòng tạo lạp, ít 
chế biến vạt chi, thời lồi bỏi tại chồ ỏ- mà thòi. 
Nước An-Nam là một xử riêng, hoặc thuộc về Trưng- 
Qiiôc, nèn chính vi nó không cải dạng thế sự nhơn 
dàn sanh tấn bơi tánh giảo buộc là bao nhièu. Nó 
vàng phục cách 0‘ hờ nhửng luẠt chảng hay dồi chí 
về sự sanh tấn dỏng giống con người. 

Các đám nhơn dàn, củng như mồi người riẻng 
nhau, mà có tấn tới, là khi nào chúng nó bị dều 
xui giục thiệt háng ơ một bên luồn: là sự cần 
kíp vá sự thủ tạc với kẻ trải việc hom. 

Không cần, thi chẳng rán sức ; khòng rún sức, 
châng có sự tấn ích. Song dày, củng như trong 
mọi chuyện vậy, là ngưòã ta không làm quá mực 
chính đặng; khi đều cần chang có, hay là ít lắm, 
thi nó giảm lực tri hóa di; như nó hung lẳm, hoạc 
lả khi nảò sự buộc phải cho có mả trên sức con người 
đời'ch|iỊL jdặng, thời nó phá trí, hại thân, không còn 
kề chi -nưa. . ‘ 



-52 - .. ,v;^ 

* • • ■ 

• ■ • ' • V’ ' ' 

Một luật tương tự khảc buộc về sự thủ tặc. Khỉ '■ {% 

cỏ một thứ nhơn loại nào' trong hai mả kẻnrsúc hơn ; V ; 

lúc tấn phát, thi hiềm nghèo cho nó phải tuyệt mẩt, 
bởi vi, như mó bắt chước giống tính hư nết xấu 
loại mỉ phong hơn, thường nỏ không biết học đòi 
tư chất loại ấy được. Lúc như vậy, dàn thông 
minh phải cho thạo cách vả bền chí mà quản trị, 
cùng chằm rải phân bồ mọi việc; song nhiều khi sự 
làm ăn cực khồ chẳng cho dùng cách ấy. 

Bều nầy đã tất giải, ta thấy lúc trước dòng dỏi 
người an-nam ở trong thì thế lảm cho sự tấn phát 
riêng nó phải ^ ra yêu ớt lắm. Phía Đông, giảp 
giái nó lả biền, phía Tây và phía Nam, co mâv 
chi chánh di địch, hay lả ít thuần phong hơn. Nên 
mọi sự học hành chi củng đều bởi một nơi ma dến : 
là hướng Bẳc. Ấy vậy, sự nó thống thuộc với Trung- ; 
Quốc đã không dưọ*c khai quảng, lại cũng chẳng 
bền đỗ cho trọn, vi lẻ ấy dàn an-nam phai chịu 
thua sút người tàu luôn ; vả chăng cũng bởi phong 
thồ nó nhiệt, tại sự nhơn dân ăn ở tiết kiệm cùng 
thô kệch quá, nèn ít có sự cần dùng hơn lả cách 
thế biết làm ra cho mình vui lòng. 

Không ích chi cho lẳm mả thêm vào mấy hảng 
nói trước đày về vụ tranh vương bất tận bên Trung- 
Quốc — hãy còn lâu ngày — lả một đeu lảm cho sự 
sanh tẳn dòng đỏi người an-nam đặng hữu ích, sau 
lại giúp nước An-Nam khỏi tùng phục Tàu, như ông 
Luro có thuyết lý dều ấy trong sách ngưò-i mả rằng, 1 
nỏ lảm cho bớt dính bén với Trung-Quốc, đặng xư 
An-Nam cai trị riêng, mà khóng dều chi ngăn trơ; • 





s- 5S — 


. NHÀ ĐINH 

BINH-TIÊN-HOÃNG (968- 980). — Trước dày 
ta cỏ nói nước An-Nam lâm thỉ nội loạn bất cùng, 
phải mười hai sứ quân hung bạo giành xé. Có một 
người trong đám ấy, tèn là Điah-Bộ-Lảnh, nghĩa tử 
một quan tỉnh kia, tiếm đặng quyền cả, rồi tính 
sửa đẹp trọng nước mà lảm cho nỏ ra nhứt thống. 
Người dáuh thẳng lần lần các tri chàu, đồng liêu, 
rồi xưng vương, lấv hiệu là Ôinh-Tiên-Hoàng, nhằm 
nẳm 968. Người roi theo dấu các tiên vương an- 
nam ma cầu phong vởi Tàu. 

Ta có chỉ tục lệ ấỵ ra trưcrc nầy thề nào, đến 
sau các vi vương dế nước An-Nam đều do theo nó, 
bơi nhìn biết tỏ tường Trung-Quổc có quyền giáo 
hỏa trên, vì làm cho minh đặng sự học hành nghĩa lý. 

Vua Tiên-Hoảng khi trước là tay vủ sỉ cường 
đảm bao nhiêu, nay trỏ* nên một dấng cai trị tử hậu 
bấv nhiêu; người đặng nhiều quan trung tin, tài 
trí vây phủ phò giúp ; lại, 'bổi muốn cho an tàm hậu 
nhựt, người mới sâp đặt hĩnh gia đông lắm, phân ra 
làm mười đạo, mỗi dạo đưọ-c một vẹo linh. (?) ( 1 ). 


(1) Ta kề số binh nầy theo ông p. Trưong-Vĩnh-Kỷ, ta xem 
ra nó cao quá, vì nhiều lẻ. Trong xứ nào mà người tráng lực 
phải đi lính, thì phần binh nhon xứ đó tính ra dặng từ một 
phần hai mưo i cho tỏ i một phần mưòũ trong số chung nam phụ 
lảo ấu. Nliư không dụng dàn bà với con trẻ vào cuộc binh 
hro*ng, phải trừ ra trọn một phần ba trong số quản sỉ đảnh 
giặc, đặng dề mà lo việc hỏa thực, cùng về mấy kẻ bị tật 
nguyên không bớt đặng hay cỏ trong mấy dám con ngưò-i dỏng. 

‘ Mà nưởc An-Nam lúc trước, lại từ đó tới chừ nựa, cũng chẳng 
' phải ỉậ ìnôt dàn chuyên ròng binh nghệ, theo một thầ như 



— 54 — 


Môi đạo chia ra làm mưòâ quán, mỗi (fủâjv mười 
/ứ, mỗi lử nụrỏrỉ xuất, mỗi xuất mười ĩtgả; vậy 
mỗi ngủ cớ lế phải kầ lả mưòấlên lỉnh, song le chư 
ngả là bọn năm người; cỏ phải đỏ lả đều lảm 
chứng sự ra thức hạng sải chang? (ì). 


ngưòi mảng-châu, ngưò-i arăbe, ngưòi turc V. V. ; vậy không 
chiêu mộ hết thảy dàn tráng dăng và buộc dàn bà, kẻ già cả vó-i 
con trẻ đi theo việc binh. Dầu vậy, giả nhir lúc ấy làm dặng 
như thê, lại lấy một phần mưòi trong, nhơn số, nghỉa là phan 
cao hon hết, thòi linh ra được một triệu con ngưòi ỏ- trong 
V rá ló' n tròm trèm Bắc-Kỳ và phản nữa Trung-Kỷ đòi nay. 
Chúng ta biêt thuở trưó'C hai xử này cày cấy ít, người 
ta ỏ- thưa thỏ-t lắm, không được nhiều như bảy giỏ-, song nhơn 
sô’ TìẲc-Kỳ và trọn Trung-Kỳ kim thò-i còn góp dlỊng có chừng 
mười trìẠu mà Ihôi thay. 

Sau hết, như xem qua vụ tích trử lương phạn dự phòng cho 
binh dân, ai nấy cũng biết d'ô lục cốc dề làm vật thực, thi dĩỉ 
trồng ra cho .cỏ và gin giữ nó. Như lúa thóc, trái tráng, rau 
cỏ, khoai củ đều làm của ăn các dân ỏ- một chồ luôn. Ke từ 
(lìri cố lỷ cố lai, không dinh chẳc dặng, hột gạo !à mộtvật thực 
thử nhứt trong nưóc An-Nam vỏ-i Trung-Quốc. Ấy vậy, ai ai 
cũng' biết- hai xứ nầy ra công trong trĩa hết sức, thì nhiều 
khi gặt không dủ lúa cho dân xảy dụng. Thi dụ, tại Bắc-Kỳ 
chang thấy, có tấc dất nào trồi lên mù ngu-ỏ-i ta không mau 
tay cày cấy, nhưng vậy mỗi năm xứ Nam- Kỳ phải cẩp đưỏ-ng 
thêm phần lúa cần kíp cho nó. Vậy một triệu lính của vua 
Đinh-.Tưn-Hoàng, kề một mình nó mà thói, xài mỗi năm hết 
305 triệu kilos gạo, số lúa huê lợi nay cả và nưóc An-Nam lúc 
đó cho có gặt dưọ-c di nữa, thòi tới mực ấy mà thôi, chó- 
khôpg hơn điỊng. Vậy, còn riản lấy chi mà ăn? 

(1) Ta có hỏi ông Truơng-Minh-Ký về dều nầy, ngư.ò-i nói có 
khi óng pẻtrus Kỷ dịch lộn, vi sự chia dao binh ra nhò lần lan, 
thường không phải lấy sô’ mười mà phán. 



Hết thảy lính tráng trong đạo binh đều đội nón 
có bòn góc, mà nay thiên hạ trong xử hãy còn biết. 
Vua Binh-Tiẻn-Iíoảng có phong dặt trư&c dầu mồi 
đạo binh một quan tưó-ng quân, đề lãnh việc người 
truyền dạy mà thòi. 

Quốc hỉệu cải lại lả Bại-Củ-Việt ( nghỉa lả giồng 
lớn vưọt khỏi) (1) còn đẻn đài vua ngự lập tại Hòa- 
Lư trong xứ Nghệ-An. 


Vả chăng, thấy trong hai sách tàu Cháu le địa quan vói 
Châu le tàu tư đ'ô có giải rằng: « ngả nhơn vi ngả (năm 
ngưòi làm một ngủ); ngả tốt vi lữ (năm tốt !àm một lữ); lữ 
ngủ bá nhơn (mỗi lữ là năm trăm ngvò'i). Còn quân (nglila 
vai là « dạo binh ») vói tỗt (dội binh) thi không định số là bao 
nhiẻu linh, nhung vậy về « đạo binh », thấy trong sách nói nó 
ke theo lệ là 12,500 ngưò'i. 

Ta xin nói thêm v’ê mấy số dịr dịnh nầỵ, khi trtrổ-c mỗi ngủ 
có một ngụcri cai làm đàu; mỗi đội, hay là hai ngủ, có một 
ngu-òi đội, mỗi tốt, hay là 10 dội, có một quan lảnh binh ; mỗi 
lừ, hay là 5 tốt, có một quan đốc binh; còn mỗi quân, hay là 
20 lữ, cỏ một quan tướng quán thong suất. Vậy mỗi quân lúc 


đó phải kề chắc là : 

Tưỏ-ng quản 1 

Đốc binh 20 

Lảnh binh 100 

Đội 1.000 

Cai 2.000 

Lính 10.000 


Hiệp cọng 13.121 

Ai nấy thấy số binh dó khổng trồi xa số 12.500 là bao nhiêu. 
Song tính thề ấy, vua Binh-Tién-Hoàng dặng chừng 125.000, 
mà có ho-n nữa thòi là 131.210 quân sỉ mà thôi, số nầỵ có lẻ 
chịu dạng hơn số một triệu của ồng Pétrus Ký khai. 

(1) Cách nói vượt khỏi chỉ về cho bẽn Trung-QBỐc kêu. 



Vua Binh-Tiên-Hoàng là một vi phân đoản nghiêm 
chỉnh, người truyền lịnh tầm bắt không hở mấy 
kẻ hung dồ, quang côn, cả doàn lính tráng bạo 
ngược, phá phách dàn chúng — làm cho khi trưỏ-c 
sanh sự tình tệ — mả lúc dó hãy còn nhiều hại 
trong xử. Người biết sự kièn sợ pháp hình buộc 
mấy quàn ấy cải quá hơn lả sự cung kỉnh luật 
nưửc, ngưòà dạy đề một vạc dầu sôi bằng đồng 
tại sân chầu, vả cọp nuôi trong chuồng. Lại đ'ê bản 
rao cho ai nấy thấy : « Mấy kẻ mắc tội phải bĩ nấu 
dầu, hoặc lả hùm hạm phàn thây » . 

Nhờ lẻ công trực nầy hiộp với cách thiện chánh 
lảm cho trong nước An-Nam dặng an hòa, thới thạnh 
lại. Đều như vậy cung không ngăn cấm dược cho 
khỏi sự rối rẳm trong nội, lả con trưởng nam vua giết 
em út minh, vi đặng phong làm hoàng thải tử. Lúc 
đỏ vua Đinh-Tiên-Hoàng tùng theo tục lệ tàu, cho 
đấng vua chúa được phép chọn lựa, trong hàng 
con cái, đứa nào đễ sau nối trị. 


PHẾ-BẾ ( 980 — 981 ). — Tội sát nhơn ỉàm,vộy 
không tấn ích chi cho ngưòù anh độc ảc đỏ. Vì qua 
năm 981 , chính mình ông ằy vả vua cha phẵi tay 
tên lính thị vệ kia thích sát. 

Ong hoàng Triều, là con thứ ba vua Đinh-Tiên- 
íỉoàng, khi ấy còn nhỏ tuồi lẳm, lên kế vị. Sử kỷ 
gọi người là Phế-Đế. Quan vỏ Lê-Hoàn, lảm thống 
tưởng quân, lại xưng minh là trủng tề, nghĩa là. 
phó vương, ông nầỵ thật một người ham hố danh 
lợi hơn lòng trung quàn, thạo cách làm cho binh 
dằn kính sự quyền phép nhà nưó‘C lẳm, song về 



phần nvinh nhiều hơn lả cho vua. Có một hai quan 
cừ khòi chống trá lại, song bị đánh dẹp hết. 

Cách ít làu quan đại thần tham tàm nầy không 
còn bằng lòng quyền phép vương đế nữa, lại cung 
muốn cho minh có sự vang hiễn củng ngôi cao. 
Vậy, khi vua Phế-Đế tức vị dược tám tháng, ông 
Lê-Hoốn giáng người *uống và bắt cầm trong một 
cung kia. ông ấy nhờ có quan tưó-ng tàu vả các 
oai binh dồng ưng, lại phải nói nhứt là dức hoàng 
thái hậu thuận ỷ, vì trước có tư tỉnh với người, hèn 
tỏn lẻn ngòi càn, người lấy hiệu là Lê-Bại-Hảnh. 


NHÀ LÊ {tiên) 

LE-ĐẬI-IIANII (981 — 1006). — Nhà vương tru*ó'C 
hêt lá nhà Binh, trị nước từ năm 968 cho tới năm 
981. Nay có dòng khác đăng quang, lả họ Lè, song 
cũng không được bao làu- (chừng ba mươi niim ma 
thôi). 

Lúc vua Lê-Bại-Hành lên ngòi, người phải đánh 
vóã ngoại quốc đặng hộ vực nước nhà. 

Họ Tống sữa dẹp dạng" an bài bên Trung-Quốc, 
cung muốn buộc nưó-c An-Nam chịu phục minh 
nữa. Ban sơ mấy đạo binh tàu sai qua dánh tháng 
an-nam trận đầu, song đến sau phải vua Lè-Bạĩ- 
Hành hũy tan lần lần hết, dầu dược việc như vạy ; 
vua cung giao hòa với đức hoàng đế nhà Tong-, lại 
thọ sẳc phong vương và bằng lòng tiến cống. 

Chuyện Trung-Quốc vừa dứt, kế tới phiên nước 
Chiẻm-Ba, vua xứ ấy tên lả Xá-Lọ-i-Đà-Bàng, bắt 
sửan-nam mả giam lại. Vua Lê-Bại-Hành đarrr-bính 



— Ỗ8 — 

đánh lấy Chiêm-Thảnh, ở tại đất nỏ mộl đôỊi tháng, 
rồi tóm thâu tài vật rất nhiều mả về. 

Vua nầy lả một vi vương đế cửu thục, chấn chĩnh 
sự tự trị nước An-Nam lần (lầu hết trước mặt Trung- 
Quốc, lại chửa lồi minh một ít về chuyện tiếm vị 
là như vậy. Người thăng hả trong năm 1006, ở 
ngôi đưọ*c 25 năm. 

LE-TRUNG-TONG (1006). — ông hoàng Long- 
Yiệt-nối trị cho vua cha, song bởi các anh em ngươi 
cứ nhương đoạt luôn, nên hơn mấy tháng móú 
tức vị đặng ; lại, qua ngày thứ ba san khi lèn ngôi, 
người bị mấy òng hoàng đó cho quản hoang giết 
đi. Trong truyện gọi người lả Lè-Trung-Tòng. 

LÊ-NGỌA-TRIỀƯ (1006— 1010). — Ong Long- 
Bỉnh, lả con thứ năm vua Lè-Đại-Hành, lèn tức vị 
thế cho hoảng huynh, nhơn đàn đặt tên người là Lê- 
Ngọa-Triều. Vua nầy có danh về tửu sẳc, hôn tâm 
mả thôi. Ngưò-i tạ thế nhằm năm 1010, lại sự ngưỏ i 
biệt trần đỏ là dấu hiệu thay đồi trào khác. 


NHÀ LÝ 

L-T1IAĨ-TÔ(1010 — 1028). — Vua Lè-Ngọa-Triều 
chết có de lại một dứa con trai còn nhỏ tuồi, với 
bả chính cung song không được xứng đáng, ngoan 
ngùy cho bâng nguơn phi đấng lập nhá Đinh? Ba 
ấy rạp một ỷ vổi ông thầy chùa kia có quyền thế 
mạnh, mà tôn quan tướng Lỷ-Công-llần lên làm vua. 



tức thời ông nầy sai sứ qua xin đức hoàng đế 
Trung-Quốc y phong cho người. Lịnh thiên tư hạ 
sắc tôĩi vương, cũng như thường khi, lại lấy làm 
toại chí mả tỏ ra quyền thượng thủ raình như vậy. 

Tàn vượng, lấy hiệu Lỷ-Thái-Tồ, là đứng lập Lý. 
Người biết việc thủ tạc vửi ngoại quốc cùng cách 
sữa trị nước nhà thật nghiệm tường, nên làm cho 
các xử làn cận hòa hảo, trong dản an cư lạc nghiệp. 
Trong đời ngưòi trị, các thuế lệ đều sữa lại hoặc 
lả bày ra thêm, có lập phần thủ đề thâu thuế 
thương chảnh, vả giấy thông hành, phái cấp. Lúc 
ấy La-Thảnh đã hoa ra chốn kinh sư thật, có cất 
nhiều cung điện, chùa miều, làm cho phong cảnh 
ra thanh lịch hơn; ban sơ kêu nó là Đại-La, mà 
khi vua nằm chiêm bao thi cải tên lại là Thăng- 
Long-Thảnh (nghĩa là quốc đỏ có rồng hiện ứng) ; 
trước đảỵ ta có cho ai nấy biết đến sau nó trỏ' 
nên kinh thành Hả-Nội thề nào. 


LÝ-THÁl-TỔNG (1028— 1054). — Vua Lỷ-Thái-TỒ • 
băng trong năm 1028. Thái tữ người là ông Phật- 
Mẫ — sau lấy hoàng hiệu là Lý-Thái-Tông — khi kê 
ngôi phải đánh với ba hoàng đệ làm loạn, nhờ có 
binh sĩ giúp sức. Một ngưồà trong ba vị vương nầy 
bị giết chết, còn hai ông hoàng kia sau ra mặt, thọ 
tội với tân quàn cách trực tình lẳm. 

Chuyện ba ngự đệ vừa xong, thấy tới phiên mấy 
quan tĩnh làm phản. Trọn mười lăm- năm vua phẫi 
thân chinh đi dánh luôn mà dẹp các quan tranh đoạt 
và ít ái quốc nầy. Lúc trong nưỏ-c bị chuyện phân 
vân lảm ; vậy, thời dàn chàm lại cướp phá bâi biền 



mrÓT An- Xam. Vua đem binh đánh thẳng nỏ trộn 
dầu, bầt sống đặng 5000 đứa vả 30 thớt tượng. 
Đoạn vua kéo 'tỏi hâm lấy kinh thành xứ Chiêm-Ba 
và đoạt thâu của cải nó. Vua Lỷ-Thái-Tông muốn 
thêm nho-n số 'nước người đặng thạnh hơn, nên dạy 
ban đất cho quàn giặc bị bẳt, cho phép lập làng lập 
ấp như trong xứ chúng nó, lại đặt theo tẻn mấy sốc 
khi trước quàn ấỵ đã ỏ’ tại đất Chiêm-Ba vậy. 

Qua năm 1048, vua khiền binh đền dánh xử Ai- 
bao. Chúng ta gặp, như dày, mấy cựu chi chánh 
dất Giao-Chỉ một lần nửa, lại nước Ai-Lao cũng còn 
nhiều khi chồng trả quyền cai trị người an-nam, 
vậy ta xin nói một đòi lời về chuyện ấy. 

Khi dỏ xứ Ai-Lao là phần đất núi trong quận 
Ải-Chàu, nay chia ra làm hai tỉnh Thanh-Hóa vửi 
Ninh-Binh. 

Một it vị làm sách tưởng rằng, xứ nầy là chốn 
dồ nhờ cua một ít tòng chi đất Giao-Chỉ, lúc trước 
rứt vô ở trong núi đặng tránh cho khỏi vòng quyền 
phép các quan thú sử tàu, nên gìn giữ (lặng co tục 
và quốc giáo minh xưa, lư lệnh trong cõi riêng, hay 
ganh ghẽ về sự hành chánh, chẳc có lẽ phải mất 
khi hiệp với )ứp miêu dệ tồ tiên mình, vi cung đồng 
một gốc mả ra, song đã thuần phong vả lai giống 
khác, nên không muốn dỉnh bén với nưó'C An-Nam 
chút chi hết.Chúng ta thấy lúc sau dây quan quản xử 
Ai-Lao nồ lực chống trả lại vói người an-nam gần 
mấy đời, đặng binh vực sự tự chủ mình thề nào. 

Vua Lý-Tbái-Tòng sai một đạo binh đến đánh, lảm 
cho dân ấy dầu và bắt dược nhiều người mả đem v'ê. 

Xem qua cuộc cai trị, ta thấy vua Lý-Thái-Tông 
cú giâm bứt thuế, vi khi mản giặc, nỏ lấy làm nặng 



01 — 


nề cho dàn lảm, người lập sự hưu trí ra cho các 
quan lão, hạ chi cấm buôn người bán mọi. Rủi 
thay, thánh chỉ ấy không dảc sách, bởi chưng trí 
ỷ nhơn dản thuở dó chưa hiều thấu đặng sự nầv, 
là nhơn hội có phép cột trói vị nào thuộc hội, thời 
là khi người ấy diên cuồng, hoặc mắc phải tội chi 
má thôi. Cũng trong đời ấy có ìập ra cung trạm 
và tìm đặng tài nghề dệt tơ. 

Các vi vương đế nhà Lý, mả nhứt là vua Lv- 
Thái-Tòng, thi khâm sùng dạo Phật lẳm, Thuở ấy 
cỏ cất ra nhiều am tự chùa chiền, hoặc chưng nhiều 
quí vật bởi lỏng rộng rải nhà vương dâng cùng. 

Có nên nói rẳng, nhơn dán trong đời nhà Lý nầy 
thánh kính dạo Phật cách tinh khiết chăng? Ta 
không' lấy làm chắc. Người an-nam lớp dó tưởng 
không buộc mình, lại cỏ lẽ it hơn đời nay, về sự 
giữ nhặt nhiệm tam qui ngủ giái. Cách tòn trọng 
Phặt giảo thuở ấy phải có mực, cũng dường thề 
kim thời vậy, là theo các le chế dề làm, có pha 
phách dềư dị doan, hay là lễ nhạc của dàn xứ 
Giao-Chỉ xưa còn truyền lại. 

Vua Lý-Thái-Tỏng tàn thièn trong nấm 1054, 
người lưu hậu dấu tích một đấng trị dàn có dức. 
một vi tướng quàn dỏng dược mưu mô, lại đặng sự 
trồi hết, là thánh tâm ngưòi rất nén đại lưọ-ng lám. 


LÝ-THÁNH-TỎNG (1054- 1072). — ồng Nhựt- 
Tòn, con vua Lý-Thái-Tông, lèn nối trị cho vương 
phụ, người lấy hoảng hiệu lả Lý-Thánh-Tỏng. Vua 
nầy bồn tánh hiền tử, khoan hậu, người hay xuống 
phước trợ giúp cho dàn sự bớt cơ hàn cực khồ, 
làm cách kia kế nọ mà lánh cho khỏi giặc gia, 



củng lả thế sự muốn hóa sinh bất binh trong nước, 
lại trọn ỉúc người ỏ* ngòi, ngưửi cỏ đam binh đi 
tranh chiến một lần mả thôi. Lả cho đặng chinh 
phạt dàn chàm về sự nó loản qua cướp phá mấy 
tĩnh địa đầu. Bánh với nó chỉn thảng trường mà 
chưa dứt, hao binh tốn của trong nước, người 
gần muốn bỏ mà rút binh về, may đâu người đồi 
ỷ, quay trở lại, đánh thinh linh quân chàm, sát 
hủy cho đến đồi nó phải nhường cho người ba 
tĩnh, là: Quang-Nam, Minh-Linh với Bố- Chánh. 

Có lẽ vua Lỷ-Thánh-Tông không biết, hoặc là 
chẳng muốn qui chế đất người chiếm dó cho ra 
giống xử mình, bởi vỉ, lúc sáu đày, ta thấy nưó'C 
Chiêm-Ba thất trận, nhưọ-ng di nhường lại nhiều 
phen cung mấy tĩnh nầY cho các vua nước An-Nam. 

Vua Lỷ-Thánh-Tông thăng hà nhầm năm 1072. 
Nhơn dân ai nấy đều nhớ danh vọng người, chẳng 
những vi lòng từ hậu mà ra, mà lại bởi sự người 
xây tháp Báo-Thièn, là cuộc sáng tạo xinh lịch hơn 
hết trong nước. 

Tháp ấy xảy trong vòng tường chùa Sủng-Khánh, 
nơi ấp Báo-Thiên, làng Tiên-Thị, huyện Thọ-Xương 
(tại Hả-Nội). Nỏ cỏ 12 tửng đặng chừng hai mưo-i 
trượng (í) bề cao; cỏ treo lén một cái đại đồng 
chung nặng 12.000 càn (2). 


(1) Một trưọ-ng là mưcri thưửc mộc an-nam, mồi thưóc đo 
ra được chừng năm tấc tây (xin coi sách của ta làm, hiệu 
Institutions Annamites, cuốn thứ II, trưong 240 và mấv 
trưong kế, trong đó có giải rõ hon). Vậy thá]» đó tính ước 
chừng dặng 100 thưỏc tày bề cao(?) 

(2) Như do theo cân đòi nay nặng 624 grummes 800, thòi 
chuông nầy nỗi 7.Í97 kilos 600. 



- 63 — 

LÝ-NHƠN-TONG <1072 — 1128). — Tiên vương 

yến giá đề ngai rồng lại cho một ấu tữ người, khi ấy 
nẻn bảy tuồi, ỉả ông Càn-Đức, ồng nầy xưng hiệu 
là Lý-Nhơn-Tòng. Lúc ấy dức hoảng thái hâu cỏ 
ra lịnh giết bảy mươi sáu bà thứ phi của vua Ly- 
Thánh-Tòng, lảm cho người gần phải mất ngỏi báìỉ. 
Song khi dỏ binh dàn dấ có lòng cung kỉnh tưó’c 
quàn vương, nên chẳng thấy một ai dam lòng bao 
phục tội sát nhơn như vậy. 

Nhừ vua Lý-Nhơn-Tỏng không lo sợ chút chi về 
trong nước, nhờ sự oai thề nhà mình đắc chúng, 
thời người cũng chẳng tự nhiên tự tại đặng vơi 
Trung-Quổc đàu. Lúc đó các hoảng đề chưa dứt bỏ 
lòng muốn sáp nhập nước An-Nam. Có một đạo 
binh tàu kéo qua đảnh, bị quan tướng an-nam là 
Lỷ-Thưòmg-Kiệt hủy tan. Bức hoàng đê thấy vậy 
bèn giao lân với dân chàm vả dân cao-man, roi de 
binh qua đánh nữa. Ban đầu, người an-nam kinh 
tàm, sau lại hoan tình ao chiến, vi nhờ ông Lv- 
Thường-Kiệt, mưu mô, thiết kế, cho người nói tiên 
tri 1 ‘ầng chiến thẳng. 

Tướng quán dùng dịp lúc tàm tri binh sĩ đang 
hứng vui mà dầy [ới đánh, bihh tàu thua phải lui 
về. Mà bởi Trung-Quốc ở riêng một minh, nên qui 
hội quân nhơn trú tại tỉnh Quảng-Nguyên, lại hăm he 
lảm cho cơn giặc ấy ra thế thế bất tận ; còn vua 
nước An-Nam nhơn có quần thần khuyên bảo khôn 
khéo, nên gơi trả lại các binh tàu bẳt được. Đức 
hoàng đế bề ngoải thì giả đò tưởng rằng nước An- 
Nam chịu đầu, song trong lòng lấy làm cỏ phước 
mà họi .phục, rút binh ra khỏi tỉnh Qưãng-Nguyèn 
và làm tờ hòa hảo, 


4 



— 64 


Nỏm 1110, vuạ Lý-Nhơn>Tòng sai sử qua Tàu 
trước hết cỏ ỷ kiếm cho đặng sách vơ., Ban. sơ 
sừ bị nhiều chuyện ngăn trở bới luật nưỡc cấm 
sự buôn bản'' .vật ấy, sau hết dửc hoàng, đế cho 
phẻp mua, trừ rạ các thứ sách nói về thiên văn, 
phù thủy, pháp mòn, mạng lý, vỏ nghệ, vả cách 
thế phòng ngữ biên thùy mả thòi. 

Vua Lỷ-Nhơn-Tóng băng năm 1127, người không 
con kế hậu. Trong nước nhom dàn an hòa thỡi 
thạnh, còn ngoại quốc thiên hạ thây đều kinh oai 
nhượng kiến. 

LÝ-THẦN-TÔNG (1128—1138). — Ngai vàng về 
tay ông Dương-Hoán, là hoàng tòn vua Lý-Nho-n- 
Tòng, người xưng là Lỷ-Thần-Tông. Vua nay trị 
nước không dược mấy năm, vi ngưòi có bịnh, song 
nhơn dàn dặng binh an vô sự. Vã chăng, các thề 
lệ người ra trong nước, đều chứng tỏ rằng ngưò’i 
là một vì quân phụ còng tò nhơn ái. Binh gia 
dòng số lảm cho nông nghệ mất nhiều tay cấy hải, 
nay chia ra làm hai ban, thay phièn nhau mả thú, 
mỗi ki là sáu tháng. .Người. xuống chiếu tha các tội 
nhơn mấy trào trước, dạy trả lại cho chủ những 
của nhà nưỏ*c tịch phong. Về đều nghị lượng khác, 
vua Lý-Thần-Tòng có ru lịnh cấm các quan, khòng 
cho gã bán con minh trước khi ngưng chọn cung 
phi, mỉ nữ. 


LỲ-ANH-TONG (1138-1175). - Ong nầy, lả con 
vua Lý-Thần-Tòng, đặng tung hò vạn tuế thuở’ mó’i 
nẽn ba tuồi. Bà thúi hàu cam quờn chấp chánh. 



— 65 — 


-Nảm 1142, có một ỏng thầy chùa, tẻn là Thân-Lợi, 
nói minh con vua Lv-Nhơn-Tông, qui dàn lập dảng 
ròi xưng vương, ồng nầy đánh thắng binh vua Ly 
Anh-Tông trộn dầu, đoạn hưng tàm muốn kéo đến 
Vày đô quốc, song bị quan tướng Bồ-Anh-VỎ đánh 
thua, rượt đuôi theo, bắt dưực. Điệu ông ấy về 
kinh xư tư với hai mươi người dồng 1 lỏa. 

Cách mười một năm sau (1153), có người chàm 
kia muôn tự chuyên, tính soán ngỏi òng Chè- 
Bi, là vua xứ Chièm-Ba. Người ấy đền xin vua 
Lỷ-Anh-Tông giúp binh, thi vua cho. Song anh la 
bị thất trận, mà vua Chênh cúng không dám trả 
thủ ve sự khi thị sải lẻ như vậy, lại sai sử đem của 
cháu báu mà dâng cho vua nưó'C An-Nam. 

Thuở ấy bèn Tàu các chư vương những mấng tranh 
ngòi thiên lữ. Nhả lông, nhả Kim đánh nhau mà 
giành Trung-Quốc. Hai đảng có sai sứ bộ minh qua 
thông với vua Lỷ-Anh-Tông (năm 1169), thi vua thết 
dải trọng hậu lẳm, song khòng chịu hứa cho đều 
gì. Vi người đọ-i tàn giặc mới dinh tính. 

Năm 1174, đức hoàng đế nhà Tống xin vua nước 
An-Nam bán cho mình một ít thớt tượng đặng làm 
lễ tế nam giao. Song vua Lỷ-Anh-Tông không chịu 
lấy tiền bạc chi hết, lại dang cho vua nhà Tống 
mười lăm thớt voi có bắc bảnh cùng nội cuộc quí 
giá, vả sai sứ riêng dác cho lới Bắc-Kinh. (Thưỏ-ng 
lề cỏ di tiến cống phượng vật chi cho vua Tàu, thời 
sứ dem qua giao cho quan tỉnh Quảng-TAy rồi trở về 
mả thôi).. 

Đó lả những chuyện đại khái hon hết trong lúc 
vua hầy võ trị. cả dời người hay chiu theo một 
íl 9 uan triều cùng mấy hậu phi người yèu mến. 



— 66 — 


Chính vì người ỉt lo tới việc quốc chảnh, song qua 
năm 1172, có một lúc kia xem dường như người 
bớt tè mê, người di tuần nhiều phen khẳp xứ. Trong 
mấy lần ngự .vãng như vậy, ngưừi có dạy vẻ ra 
một bản dồ trong nước, đó là lần thử nhứt sử mứi 
tõ trần. 

Con trưởng nam vua Lỷ-Anh-Tòng,là Long-Xưởng, 
bị cất chức hoàng thái tử bởi tội loán vào trong 
hậu cung vua, cung vi lc ấy, nèn bỏ ra không cho 
kể vị, vua lại lập con thử sáu người là Long-Cán 
lẻn ngòi thái tử đề sau nối trị. 

Vua thăng hà năm 1175. 

LÝ-CAO-TỔNG (1175 — 121 1). — Khi vua cha khí 
thế thời ông hoảng Long-Cán mới dặng ba tuồi mà 
thòi, lên kế ngôi xưng là Lỷ-Cao-Tòng. Bà thái hậu 
gồm lo việc nưỏ-c, lại khi rnản tang vua Lỷ-Anh- 
Tòng rồi (năm 1178), thi bà ấy kiếm tìm phưưng 
thế hủy di chỉ tièn vưcrng dạng mà lạp lại thải tử 
Long-Xưỏ-ng. Song các quan triều không chịu, vi 
chưng lúc ấy sự kinh tôn, trìu mến nhà Lý cung còn 
thật lòng lắm. 

Thuở dó, như sánh với các xứ làn cận, thời cho 
nước An-Nam ỏ* dặng bực cao về sự dỏng cường, 
thạnh thế. Năm 1186, đức hoảng đế nhả Tống 
cho sứ bộ qua thông với triều an-nam. Đến năm 
TI 90, vua nước Cao-Man cung sai sứ minh đến chầu 
vua nước An-Nam nữa. Năm 1197, cớ các quan khảm 
sai chàm tới xin triều đỉnh an-nam phong vưcỵng 
cho vua mình mới tôn. 

Nhung vạy sự binh yên cũng chằng thiệt trọn hảo. 
ỏng Bố-Trì, là cháu vua xử Chièm-Ba, cỏ qưa nước 



An- Nam mà xin cầu cứu mình đặng đánh với ỏng 
chú, song gân phải bắt, vì bị nghi rằng dền do 
thám. Biết có phải thật như vậy chăng? Sữ không 
biện biệt đều ấy . Nhưng má òng Bố-Trỉ đẵ dòm hảnh 
thấy ỷ nhà nước an-nam muốn làm thiệt hại minh, 
tức th[ nhóm Ihàu một ít người đại đãm, trí mạng, 
dánh giết quàn lính sai đi bắt, đoạn dến hủy tan 
trong xứ Nghệ-An, rồi rút nhau về mất, không còn 
vãng lai nữa. 

Hết chuyện ông Bố-Trì, kế thấy binh trung-quốe 
xòng qua cướp phá, lại càng rủi ro hơn nữa, lù 
vua Lỷ-Cao-Tông không lo láng việc nước cho tẠn, 
tình, người ham vui tưu sắc, ở giữa đám quần 
thần ông nào ông nấy đều phóng tứ, lạm tang, 
chẳng có một ai tinh trung báo quốc. Cớ sự nhà 
Lý suy lần lần cách chán chường là như vậy. 

Năm 1206, ông Phạm-Dư hay tĩnh Nghệ-An, bị 
cáo 1 'ảng muốn tự chuyên. Vua sai quan tưó-ng 
Phạm-Bĩnh-Di, là người thủ nghịch, đem binh đến 
đanh òng ấy. Song òng Phạm-Du trốn di về kinh 
chữa tội minh với vua, vả cáo tướng Phạm-Bĩnh- 
Di, vi trong lúc ấy có dạy phá tan nhà cữa và tịch 
kỉ của cải mình. 

Khi ông Phạm-Bĩnh-Di trở về, thi người bị bát 
với thàn tử ngựời. Quan quàn chồi dậy, dòi tướng 
minh lại. Vua liền ra tay, giết chết và cha và con. 
Song binh ỉoạn càng dấy lèn luôn, các cửa dền 
bị tông phá hư nát, lại vua Lỷ-Cao-Tỏng thoát 
khỏi hại nhờ chạy trốn đặng. 

Binh gia lảm loạn đó tồn quí tử vua tị loạn lên kế 
vị. Nhưng vẠy có gia quyển ồng Trần-Lý kia ỏ- lại xứ 
Hải-A, oai thế lớn, lại đem thái tử Sam về mù nuỏi. 



— 68 — 

Cách một ít tháng sau, hoàng tử nầy, khi ấy đặng 
mười sáu tuồi, cưới VỌ' trong Ỉ1Ọ đó; lại nhờ cha 
vọ giúp liền bạc và chiêu qui quàn linh, nên đem 
vua Lý-Cao-Tồng về trào lại. Bưụr. vài năm, vua 
mới chết (năm 1211), lưu danh hậu thế lả một vi 
vương phụ ác dức, tiều đảm và dầm sa tửu sắc. 

Bang khi vua bỏ trào trốn di làm vậy, phải 
có một quan nào tham tàm, gan một chút, chẳc cỏ 
lẻ thiện quờn đặng, song lúc ấy bởi danh tiếng nhả 
Lý còn đang lừng lầy, nèn không ai dám hó hẻ. 
Dầu vậv trào Lý cũng đa bị một mủi thương đầu. 
Cách đào tị đỏ lảm cho bởi oai linh, cũng như 
khi phục hoàn mà có người bào chủ di trước, 
thi nỏ làm cho quyền phép và lòng nhơn dàn tin 
cẠy không còn vững chẳc nữa. Sự tuyệt mất nhà 
Lý gần dến. 

LÝ-HƯỆ-TÔNG (1211—1225). — ổng hoàng Sam, 
con dầu lỏng vua mới qua dời, lên nối trị, lấy hiệu 
là Lý-Huệ-Tòng. Họ Trần, thàn thuộc bà hoảng hậu, 
trừớc vua cỏ nhờ mấy người ấy giúp lèn ngai, nay 
về trào dàng vua trọng thưởng, ban chức quérn vinh 
vang lảm. Đó lả hồng phước cho trong nước, vi họ 
Trần thật lực lượng nghiêm chỉnh, còn vua Lý-ỉĩuệ- 
Tông thời ươn ^ài, qui ti mọi việc, hỏa ra cuồng tâm 
lãng tánh. Nhờ cỏ họ Trần phụ chánh, lo lắng xem 
sóc, nèn sự cai quản trong xử mới dặng thứ lớp lại 
một chút. 

Vua trị nước dược mưòi bốn nằm, song cử yếu 
trí luôn, sau giả bệ từ ngai, nhường ngòi lại cho con 
gái người, là bả Lý-Chièu-Thánh, mà di vô chùa. 
Bày là một dều Irậi luật buộc về sự kế vị theo thứ 



— 09 — 


lúp. Song, có lo ùng Trần-Thu-Bộ, chính nguxVi giám 
quốc, thấy cách phong lập nay, lấy làm thuận theo 
.lòng tham minh, lại ví như ngựời không xúi vua 
trong chuyện như vậv, thi ít nữa người củng khoái 
chí hết sức. 


LÝ-CIỈlỄU-liOÀNG (1225)' — Khi bà còng chúa 
nay vừa tức vị và lAy hiệu ìà Lý-Chiêu-Hoàng, thỏ’)’ 
người chọn òng Trììn-Cảnh (cháu òng Trần-Tluì- 
Bộ) làm chồng, rồi nhường ngòi lại cho ngưừi. 
At có khi bà Lỷ-Chiêu-Hoàng thiền vị như vậy, là 
bõù vi người tưởng làm cho chồng yêu minh hơn. 
Song người gặp noi họ Trần tinh đều hội ngải 
và ó nhục nìà thôi . 

Âu vương nây ỏ- vói bá Lỷ-Chiêu-Hoàng được 
một ít nấm mà không con, nẻn giáng chửc hoàng 
hậu di, sau lại ga cho ỏng Lè-Phụ-Tran, là một vị 
trong chư tướng, mà thưỏ-ng công nghiệp õng ấy. 

Bà vua nầv là hết đửi nhà Lv. Các vi vương dế 
tiền liệt ăn ở. rất ân hẠu, cang đãm và lực lượng- 
chính lý lắm, song như một cây kia dã giả, nên 
nó phải cồi phải rũ một khi một it. Lại nhiều nhà 
khác nối theo, cung lâm một cách như vậy. 

Khi công việc xữ thanh, thi tới phièn mấy nhà 
a'ỵ tuyệt mất, dễ chồ lại cho dỏng tàn tấn khí huyết 
khác, còn mới, niạnh.mẽ hơn, tải trị hơn vả có sức 
hơn mà lo mọi việc cho lè thứ đồng thỉ được ích. 



— 70 — 


NHÀ TRÃN 

<* 

*v 

TRẦ.N-THAl-TỒNG (1225 — 1258). — Bấng làm 
.đầu tàn trảo nầy xưng là Trầh-Thái-Tòng, nhưng 
vậy cũng không cầm quờn quản trị. Chính người 
tề chế trong nước An-Nam lúc đỏ là ông Trần-Thủ- 
Bộ, quốc thúc, ông nầy rất chí khỉ, tài tinh lẳm, 
song chẳc có lẽ ỉt lo sự phải chăng, ngưòâ đặng 
quyền thượng thủ trong việc quốc chánh, lại biết 
cách gìn giữ chức ấy luòn. 

Mười ba năm dầu thi đễ lo phương kia thế nọ 
đặng nhả Trần ở ngôi cho vững vàng, ỏng Tr'ần- 
Thủ-Độ ăn ở độc ác, làm cho cựu vưưng Lỷ-Huệ- 
Tông biết mình thửa số vò dụng, nên chẳng khỏi 
mấy ngày ngưòò tức minh tự ái. Đoạn ỏng Trần- 
Thủ-Độ lấy bà hoàng hâu vua Lỷ-Huệ-Tông là người 
mình sát hại, thật mất đều phong hóa rất nên quái 
dị; nó cũng là mụt cách khác đe mả hủy tuyệt 
dòng dỏi vua trước. Quan phụ chánh Trần-Thủ-Bộ 
lại càng làm quả sự thề minh nữa. Muốn cho sự nối 
ngôi ra chắc chắn hơn, ông ấy ép ấu quàn, dầu 
người từ nan và trốn bỏ đi cung không được, phải 
kết hiệp với chị cả bà hoàng hậu Lý-Chiêu-Hoảng, 
là vợ* anh ruột vua (tên Liều) đã cỏ thai ba tháng ỉ 

Năm 1241, vua Trần-Thái-Tòng phải dảnh với 
binh nhà Tống vi sự loán đất Lương-Châu (nay là 
một phần trong tỉnh Quãng-Tảy). 

Vừa đuồì đặng khách nhơn xàm lăng, vua phải 
trỏ- lại phạt dân chàm bỡi nỏ cứ quấy phá luôn. 
Người bắt được hoàng hậu nó, tên là Bồ-Da-La 



— 71 


với một phần trong dàn chàm má dem về. Vua Trần- 
Thái-Tông cho chúng nỏ đất hoang, làm nhir vậy má 
ép cày cấy mấỵ đồng nội xứ Bắc-Kỷ. 

Sau hết, có một quân nghịch đáng lo sợ chưởng 
diện khêu chiến. Nó iả binh mông-cồ của dức hoàng 
đế Nguyèn-Thế-Tồ (cháu ông Gengis , là một đấng ■ 
anh húng oai sầm), vua nầỵ hạ đặng nhà Tống bên 
Trung-Quốc, cho quàn lính đuồi riết theo binh tàn 
nhả Tống (1). Binh tâu vả quàn mỏng'Cồ cả hai chạy 
qua đất vua Trần-Tháì-Tòng, không kièng nề bò' 
cỏi, lại đạo binh an-nam sai di ngăn giặc bị bại 
tích lúc đầu. Bên sau, nhờ có binh tiếp thẳng đặng 
quân mòng-cồ vài trận, song khổng ra gi cho lẳm, 
nhirng vậy binh nguvèn rứt về. Còn vua nước An- 
Nam, người lại tinh khôn, chịu dầu hoàng đê tàn 
trào. Vua Trần-Thái-Tòng nghinh tiếp sứ bộ nhà 
Nguyên, chịu thượng cổng ba năm một lần. 

Có giặc thi dánh, chứ vua cũng chĩ ỉo việc an 
lành trong xứ. Người chia .nước ra làm mười hai 
bộ, sửa thuế (liền thồ ra chơ có thức hặiig, truyền 
dắp bờ dê theo hai bên mẻ sòng mà ngăn nước 
lụt hằng niên phá hại; tu chỉnh phằm trật cùng 
tái tạo cuộc khoa thi nhu sĩ, vi chưng lúc dó cách 
tiện đẵ mất rồi . 


(1) Vua Nguyèn-Thế-TỒ, tên Hốt-Tất-Liệt (ngiròi phưcrng Tây 
kêu là Koubiỉai ), sanh trong năm 1214, tháng hà nhằm 1204 ; 
ngưòl lập 'nhà kini-mòng-cồ, ngiròl an-nam kòu iâ Nguyên , 
còn ngưò - i tàu lại gọi lã Yiien (thuộc về họ Co'-Oc-ỏn tại xứ 
.Mồng-CỒ). Vua này vào Trung-Quốc năm 1250, song cho tới 
năm 1278 mói diệt dặng hoàng dế nhà Tống qúi thừ, đánh ép 
tỏi hải biên, mà hoàng dế ấy không chiu đầu, một nhảy xuống 
biền tự vân mả thôi. 



— 72 — 


Năm 1258, vua Tran-Thái-Tòng giả bệ từ ngai, 
nòi chính lỗ hơn là người cho òng hoảng Khoán, 
thân tử (?), chung lo việc nhà nước, mà khi đó quan 
lão Trần-Thủ-Độ cũng còn chấp chánh luòn, song 
sử không nói cho chúng ta rỏ trong đời ấy phần 
việc quan nầv làm sao, còn phạn sự vua thề nào. 


TRẦN-THẢNH-TỒNG (1258 — 1279). -ổng hoàng 
tử Khoản dăng lèn ngai,’ người lấy hiệu là Trân- 
Thánh-Tòng. Bồn tánh hiền từ, mực thước, mấy 
năm đầu người trị nước cỏ đức thái thượng hoàng 
với ông chú là Trần-Thủ-Độ 0) chỉ bảo. Nhờ cách 
cai trị khôn ngoan, thòng thấu, người mới mua đặng 
lòng mấy quan chói nghịch với nhà Trần còn dư lại. 

Vua Trần-Thúnh-Tòng nầỵ dạy ỏng Lê-Vări-IIữu, 
là người thòng thúi chữ nghĩa, tu sử ki từ đời vua 
Triệu-VỎ-Ôế cho tói đời nữ vương Lý-Chiều-Hoảng. 
Người dứng bào chủ văn chương cách thông đạt, 
mà khi lo chuyện như vẠy, cung chẫng quèn xem 
sóc, binh vực nưởc nhà. Người lẳng lặng tái lập 
binh gia, chia nỏ ra từ quán 2400 linh, mỗi quân 
là 30 dò có 80 người, có lẽ cho dược dề khiền 
hơn-. Làm như vậy là khòn ngoan, bởi vi lúc đỏ 
triều Bẳc-Kinh cử canh giữ vã chờ dịp đặng mà 
tấn binh mông-cồ qua nước An-Nam. 


TRẦN -NHƠN -TÔNG (1279 — 1293). - Đời vua 

cha thời đặng thải bình ninh thiếp, còn qua dời 
con lại bị giặc giả nhưo-ng nhiều luôn. Song dầu cha 


(1) ỏng Tran-Thủ-BỘ tử lộc năm l“26i. 



— 73 — 


dầu con cung đều có phép hương đặng sự cíìủng 
dân cám om mến đức, bỡi người chẳng nao lòng dứt 
bỏ việc bồn phận minh bao giờ. 

Ong hoảng tử Khâm, miễu hiệu ỉả Trần-Nhơn-Tông, 
chịu cho giặc dến đánh, vi đã mấy năm nỏ hàng 
ngăm đe nước An-Nam luôn. 

Đức hoàng đế Nguyên-Thế-TỒ, bên Tàu, ra lịnh 
đòi vua phải tới triều Bắc-Kinh. Vua sai sứ qua 
chầu mà thỏi, nên hoảng đế nhà Nguyên giận lắm, 
hạ sắt phong vương cho chính vi sứ của vua đặng 
thê cho người, rồi cấp một ngàn binh bộ dưa 
ve nước An-Nam. 

Vua Trần-Nhơn-Tòng không sá chi đến thượng 
dụ, lại )o sảm sửa giao chiến. Người chỏ- đợi như 
vậy chẳng bao làu. Sữ nói qua năm 1282, có một 
đạo binh mông-cồ được 500,000 người kéo qua, 
hỏi mưọ-n đường đi dánh phạt dần chàm. Vua Trần- 
Nhơn-Tòng hiễu rỏ ỷ đạo binh ấy thễ nảo^nẻn không 
chịu cho. Quán mông-cồ bèn cồi lốt, ra mặt, loán tràn 
trong xứ. Binh ngưyẻn vảo đụng nước An-Nam như 
vậy, thi chỉ là nó thẳng. Binh an-nam phải lui về 
đóng sau sông Nhĩ-Hà; ở đó mả rước trận, song 
bị thất thủ. 

Ai nấy khởi sự ngã lòng, ông Trần-ích-Tác, là 
quốc thúc, không còn theo phe nữa, đam dạ tròng 
ước cho mình lên ngai. Vua cùng đức thái thưọ-ng 
hoảng phải đề huề qua xứ Thanh-Hoá, 

Có một người trong chư tướng nghịch, tèn là 
Toa-Đỏ, đi đánh đặng xứ Chiẻm-Ba, trở về; khi 
ấy, nhằm lúc binh dân an-nam tựu hội hắng hà 
chung quanh vua Trần-Nhơn-Tòng, vua bèn cho 
nhiều đoàn binh đỏng chận đánh mấy đạo binh 

6 . 





y - 74 — 

mông-cồ : ờ riêng nhau. Lớp thỉ phả tan đặng, lớp 
khác bị đuồi dồn lần ra khỏi nước An-Nam. 

Qua năm 1286,' dức hoàng đế Trung-Quốc lại 
sai thủy bộ ' qua dánh phạt dàn an-nam mà 
phục cừu chuyện binh khí minh đã bị thua sút, 
Sự loán đất lần thứ hai nầy càng ít được việc hơn 
chuyến trước. Nào bộ nào thủy đều thất cả, phần 
thi- bị bắt, phần lại bị giết chết liều yễu. Ba đại 
tưởng nguyên phải tay vua sanh hoặch. Nhưng vậy 
vua cũng chẳng nghe ai, một chiu theo lòng khoan 
nhơn từ hạu minh mả thòi, vỉ người lấy làm có 
phưcrc thấy tuyệt dứt tai ách, nẻn mở đại xá cho 
những kẻ khi trưỏ-c thông dồng với giặc, trừ ra 
ông Trần-ích-Tẳc bội phản, thi bỏ ngoài sồ tòn thất 
mà thòi. 

Dầu đặng khải huỏ-n như thế, vua cung tưởng 
hữu ích mà cho triều Bầc-Kinh vay trước. Lả người 
gỏi trả các tướng quàn bị bát lại cho hoảng đế nhà 
Nguvên; song trong mấy quan thống binh đỏ, cỏ 
một mình ông Omanhi phải dản an-nam thủ ghét 
cách riêng, nên dem xuống chiếc hải thuyền kia mả 
chở về Tàu, thì nó í chim ĩ> với tướng ấy. 

Hai cơn giặc chỉnh ghê nầy có lẻ làm cho nước 
An-Nam ra yếu sức. Gác dân làn càn dùng dịp thế 
sự như vậy mà chồi dậy, như xứ Ài-Lao thì thưò-ng 
nó hay biễu suất. Vua Trần-Nhơn-Tông mới nhứt 
quyết trừng trị nó một chuyền cho tân lực. Người kẻo 
binh qua dánh tầy quân nghịch, chúng nỏ thua mau 
lắm. Ai-Lao bị diệt, không ai dám rục rịch nữa. 

Dầu trong mấy trận giặc dó mà đặng khỏi hoàn 
, vang hiền cách nào, thời nước An-Nam cung phải 
mòn mỏi. Bơi binh vực sự tự trị minh, nèn phải 



— 75 — 


bại hoại giang sơn cơ nghiệp . Không còn cày cấy 
ruộng nương nữa, hết lúa gạo ăn, nên thi C.Ơ cần mới 
xen vào nhiều hại. Vua dạy mở -kho tàng ra phát 
cho nhơn dàn đặng bớt lao đao; sau khi hết chịu 
trăm ngàn đều khốn khồ, tai ươn, thời mới thấy 
sự thàng binh sung túc hồi tái. 

Nhưng vạy dírc hoàng đế Nguyên-Thái-TỒ, bồn 
tính nóng nảy, cũng chưa bỏ qua sự người mong ước. 
Năm 1292, người ra lịnh -một lần nữa, đòi chính 
vi Yùa nưức An-Nam phải qua chầujnình, vua từ 
chối không đi cũng như lúc trước vạy. Đức hoàng 
đế liên xung tàm, dạy bắt sứ an-nam mà cầm lại, 
doạn sắm sữa binh gia qua đánh một chuyến nữa. 
Khi ấy người dặng tám mươi tuồi. May phước cho 
nước An-Nam, lại có khi càng phước đức hơn nữa 
cho hoàng đế nhà Nguyên, vi sự người qui thiên, 
làm cho dứt việc Siip đặt binh khi. Đứng nối trị cho 
vua Nguyên-Thái-Tồ, có khi sáng ý, thòng thấu cơ 
sự hơn, nên đề cho sứ an-nam phực hồi cố lý. 

Năm 1293, vua Trền-Nhơn-Tông do theo cách tiên 
vương, lạ người nhưỏ-ng ngoi lại cho thái tữ Thuvẻn 
(ông nầy đăng hiệu lả Trần-Anh-Tông). Dầu vua Trần- 
Nhơn-Tòngtừ ngai như vạy, người cũng còn trị nước 
cho tới chết. 


TRẦN-ANH-TỒNG (1293 - 1314). - Tân vương 
tức vị khi ấy mới đặng 18 tuồi. Bồn tánh không 
được nghiêm tê, lại ăn ở lơ láo, làm nhiều chuyện 
khờ khạo, nên vua cha tính trao ngôi cho một hoàng 
tử khác- Song khi thấy vua khóc lóc, ăn nàn, thi dức 
: thái thượng hoàng mủi lòng thương xót, bỏ qua 
không hói tó i chuyện truíít ngôi báu nữá, mà thiệt 



- 76 — 

từ đỏ về ,sau vua cha không phiền hà về sự xá tội 
cho người. 

Kề từ đời vua Trần-Anh-Tòng (không chịu đề cho 
kẻ khác châm vẻ. minh người), thi cách thỏi họa long 
hỉnh nơi bẳp chân các đứng vương dế mới tuyệt mất. 

Năm 1296, xứ Ai-Lao dấy giặc lại nữa, đảnh nó 
thua hoải song không sữa tính nết nó được. Khi ấy 
vua đã già cả, người phải thàn chinh đì diệt hung 
tặc. Người bẳt sống đặng nhiều quân giặc và lấy 
cửa cải mả về. 

Qua 1805, nhơn dịp cỏ dám ngự hôn bả cóng 
chúa Huỵền-Trần an-nam với òng Chế-Mân, lả vua 
chàm, thời xứ Chiêm-Ba có nhường cho nước An- 
Nam, làm như của lề cưới, tỉnh 0 (Hỏa-Châu) và tĩnh 
Ri (Thuỳn-Chàu). Nhưng vậy, dàn sự hai địa phận 
nììỵ trước khi chịu phép có phân phô, van trách 
lung ìẳm. Bỡi dó, khi vua Chế-Mản qua đời được 
một năm, nước An-Nam phải soán xứ Chiêm-Ba một 
Tân nữa, đặng cho nỏ biết rằng mình có quyền thượng 
thủ vả phản đoán nỏ. 

Trử ra hai lần khiễn binh nay mà Ihôi, trong nước 
hằng dặng an cư lạc nghiệp luôn, nhờ có một vì 
quân trưởng ái mộ đạo đức vả hưng vui chữ nghĩa 
lảm, • 

Năm 1814, vua Trần-Anh-Tông nhường ngôi lạ 1 
cho hoảng tử Manh. Cách sáu năm sau người mứi 
thăng hà. 

TRẦN-MINH-TỒNG (1314 — 1830). — Đời vua 
nay trị dản đặng thỏi binh ninh thiếp. Mấy đều 
ngĩrời cần mần lo lắng, thời chỉ về việc nước mà 
thòi. Người tải lạp pham trật các quan, bớt số kẽ 



-77 


giúp việc, bỡi lúc dó dòng iảra ; cấm khòng cho bà 
con gần tranh tụng nhau (1315); sữa lại sự mộ 
binh, vi thuở nay lính điền thì điền, chớ không ai 
xem xét hình vóc chúng nổ thề nào ; người cũng 
dạy bỏ dứt sự buộc .chảm vẽ mình trong quân sĩ. 

Dầu vậy cũng có một bọ-n nhơ dã đúng tởi dời 
người .trị. Nhơn có sự tranh quyền trong nội, thán 
phự bả hoàng hẠu bị cáo gian rằng muốn trở lòng, 
nên vua đạy bỏ ông ấy cho chết đói và chết khát. 
Cách hai năm sau, sự thật tố trần minh bạch. Khi 
trước vua ăn ở hiềm sàu với nhạc phụ vô tội, nay 
dạy cách chức quan cáo gian mà thủi. Thật thì vua 
có truyền lịnh phản thây tẻn làm chứng dối — 
nỏ lả đồng bộc của nghiêm phụ dức hoảng hậu dã 
bị thác oan — song vua dùng thẳng phép như vậy với 
một đứa khốn kiếp mà thôi, vỉ chưng nó như một 
vật hèn kia ỏ- nơi tay chánh tội nhơn mà nhà vương 
lại dong mạng, bơi lòng yếu đuối mà ra. 

Năm 1330, vua phòng cho hoàng tử Vưựng lên 
tức vị, òng này lấy miều hiệu là Trần-Hiển-Tỏng, 
song vua cũng còn lo việc quốc chảnh trót đời 
tân vương nVìy. 


TRẦN-HIỂN-TÔNG (1330- 1342). — Trong lúc 
vua Trần-Hiến-Tòng đăng quang, chẳng thấy cỏ sự 
chi đại khái cho lắm. Người thăng hà thuở còn 
xuàn ấu, nền không dự vào phần việc quốc chảnh 
nào cho quan trọng, trừ ra có một lần sai binh 
đi đánh xử Ai-Lao (năm 1331) mả không xong, 
lại một lần nữa đến chinh phạt quân mọi Ngữu- 
' Hằu (năm 133.7) đặng khỏ*i hoàn mả thôi. 


1*4 


4 



Thì sự thượng vị nhà nưổ*c khi ấy ắn ơ cùng 
chư tiều quốc nầy cũng như cách Trung-Quốc thủ 
tạc với Bại-Nam vậy. Là thường thường tại đàn 
mấy xứ ấỵ đến loán đất an -nam. hoặc lả bởi 
không chịu cống sứ nữa, nên phải sai binh an- 
nam đi trị tội. Lại, người ta có ]ẽ mà hỏi riêng 
minh đặng, vì làm sao nhà nưó‘c khòng lập ra 
cho mấy chư hầu nhỏ, mả hay rục rịch dỏ, các 
nièm luật củng thề lệ chánh sự lương tự như 
luật lệ nước An-Nam, đặng làm cho chúng nó máu 
giống mình là sự rất cần kíp lẳm. Chắc có lệ lả 
bởi tinh ý mấy chi chánh đỏ cứng cỏi, không chịu 
dời đồi chút chi về tục lệ chủng nó, còn phong thồ 
lại it thuận cho người an-nam, dấl dai nhiều hê 
hủng, nên binh an-nam ở dã không dược làu, lại 
khó mà vạn lương phạn cho có chừng. Vậy sự 
dụng binh gia khí giái mà buộc ẻp chúng nó tuấn 
cứ pháp luật, thì không đặng. 

Vua Trần-Hiến-Tòng lâm bịnh, vội bỏ minh thuở 
mới nên 22 tuồi, ngưừi không con kế hậu. 


TRẦN-DỦ-TÔNG (1342 — 1369). — ỏng hoàng 
Cảo, là em vua mới qua đòi, lẻn nối ngôi, xưng 
là Trần-Dủ-Tòng, còn đức thái thượng hoảng, lả 
vua cha, cũng cử io lẳng việc quốc chảnh trọn 
mười làm năm nữa, như khi vua Trần-Hiẹn-Tòng 
còn sanh tiền vậy. 

Mấy năm đầu người ở ngòi, trong nưỏ-c mẳc 
nhiều tai ách ỉàm cho dân sự phải phiền muộn 
lắm, là : hạn háng, nước lụt, bịnh toi truyền nhiềm 
sát hủy lực súc cùng nhiều thử bịnh khác, cơ can, 



- 79 — 


loạn lạc, nói tắc một đều lả các sự hoạn nạn tuôn 
đến, giúp nhau mà nhiều hại nhơn dàn. 

Năm 1346, vua có sai binh đi đánh thắng xứ 
Ai-Lao. Năm 1353 vả năm 1366, khiền binh hai 
lân mà diệt nước Chiêm-Ba, song bị bại tích. Bởi 
vậỵ, quân ăn cưó-p nước nầv trở lại làm thiệt hại 
nhiều hơn là việc thươngmãi trong nước lúc đó đặng 
thạnh lợi, lại cỏ tàu thuyền ngoại quốc đến dông 
ỉám mả xem coi dịa cảnh hãi biên nước An-Nam. 

Nhẳm đỏi vua nầy trị, thời bèn Tàu nhả Nguyên 
phải con một người nông phu kia soán ngôi, vả 
trở nên đứng lập nhả Minh rất nên vang hiền 
(năm 1355). Vua nước An-Nam dụ dự hơn mấy 
nảm, sau thấy họ Minh làm chứa tề thật bên Trung- 
Uuôc, thì người mới nhứt dịnh sai sứ bộ qua làm 
lẽ khách hạ tân vương. 

Vua Trần-Dủ-Tông băng nhằm năm 1369, khòng 
con nối trị. 


T RÂN-N G HỆ-T.ÔN G (1370-1373). — Khi vua 
Trần-Dủ-Tông khí thế, thời ngai vàng phải về tay 
một người nào trong hàng anh ẹm vua mới gọi la 
chánh lý, song đức hoàng thái hàu, nguơn phi 
vua Tran-Minh-Tông, khi ấy phụ chảnh lại tôn òng 
Nhựt-Lễ, nhìn là cháu vua Trần-Minh-Tông. Người 
nốr trị chỉnh phép là ông hoàng Phủ, song tánh 
ý hằng hơ, không muốn biết tới sự chi sốt, cho đến 
dồi bà công chúaTriều-Minh vả các quan theo phò, 
phải khuyên giảng mói làm cho ngưo:i chuyên tàm 
phục nghiệp. 

Ồng hoàng Phủ dì vò núi mà ở, chẳng khỏi bao 
làu binh gia theo người gần hết. Phần nhiều trong 



các quan một bụng với người, ông Nhựt-Lề bị quan 
quân trở lòng, dứt bỏ như vậy, nên phải lai hàng. 
Người ta bẳt ông ấy cầm ngục, sau lại xữ trảm đi. 

Lúc đó bả mẹ ông Nhựt-Lề dã trốn qua ở bên 
xử Chièm-Ba rồi, sau xúi quân châm tới nước Àn- 
Nam mà cướp phá, và dốt kinh thảnh. 

Mấy vua nhả Trần oai nghiẻm cường đảm lủc 
trước đà quả vãng rồi, nay còn một chút cháu bất 
tài, ử chỗ tị nạn coi thấy đặng lầu xanh các tia 
minh dều bị đốt cháy tan hoang, còn của cải 
phải sang tay kẻ khác. 

Vua Trần-Nghệ-Tòng ở ngôi được ba năm, sau 
ìấy lảm mỏi mệt về quyền thân chảnh, không sức 
nẳm giữ, nên từ ngai, trao ngôi vương đế lại cho 
hoàng đệ Cảnh ; ồng nầy xưng là Trần-Đuệ-Tông. 
Cựu vương hồi tị việc nước, sau an^tám tạ thế 
khi dặng 74 tuồi. 


TRẦN-DUỆ-TỒNG (1373 — 1378). — Vua mứi 
nầỵ, con thử mười một vua Trần-Minh-Tông, thật 
là một người vũ sĩ cảm đảm, song trí hóar không 
dặng cao xa cho bằng sự người toan tính phải lẽ. 
Người tạo lập quàn gia lại, nhứt là vụ chờ chuyên 
lương phạn, khí giải theo đạo binh, vi kề từ thuở 
đề chức lớn mả phong cho mấy quan cận thần, thi 
nỏ trở ra bế tệ lẳm. Dầu vậy, ví như ít ban nỏ cho 
các quan người yêu dùng, thì người lại bán quyền 
tước đặng lấy tiền mà tích cho đầy kho, sự như 
vậy cũng chằng dưọ-c ích chi hơn. 

Khi sự phàn trị về tay mấy vua nhả Trần lớp 
hàu thứ, thời nó ra tồi bại quá, cho đến đồi vua 
Trần-Duệ-Tông không biết cảch chi mả sữa nó lại. 



- 81 — 


Nãm 1375, vua nước Chiêm-Ba, tên lả Chế- 
Bong-Nga, có loán tĩnh Hóa-Chàu (Huế kim thời). 
Vua dam một đạo binh đến đảnh. Vuà chàm that 
kinh, xỉn giao hòa và sai sử đem lễ vạt quỉ giá 
mả dân ể- Song hại thay, quan trấn cỏi dỊa đau, 
là òng ^Bồ-Tử-Binh, lại thàu của lề ấy cho minh, rồi 
chạy sớ về tẩu nghịch cho vua Chế-Bồng-Nga. Nên 
vua nước An-Nam căm giận, truyền binh lước tổ*i. 
Vua và quân lính đều thất kế, sa vảo chỗ tư dịa, 
phai quân nghịch phục binh giết chết hết nhiều! 
Vua bị tữ tran trong khi ấy. Còn đạo chiến thuyền 
theo giúp binh bộ thời may rút về khỏi. Đạo thủy 
đó có quan đại thần Lê-Quí-Ly thống suất; truyện 
gần nói đến việc ngưỏù. 


TRẦN- PHẾ- ĐẾ (1378 - 1390). - Bấng quàn 
vương mới tữ vu sa trưửng, đề nước lại trong thi 
tác^ loạn khôn xiết. Bởi đức thái thượng hoảng 
Trần-Nghệ-Tông vô hậu kế đại, nên ngưỏ-i mới chon 
ông hoảng Kiến, thái tử vua Trần-Duệ-Tông, mả 
lại xúng là cháu người, lên nối. ngôi. 

Au quán nầy đặng mười sảu tuoi, trong truyện 
gọi người là Trần-Phế-Bế. Tánh ỷ chơn chất, song tri 
yếu, khòng sức mà quản trị việc nước trong đời 
ây, người hằng chịu ỏng bác quản thủ luôn, lại 
đức quốc bá nầy cũng phải dề cho quan phụ chánh 
Lè-Quí-Lỵ bảo hộ minh nữa. 

iA^ U Ìr a J rần ' Phế ; Đế mởi . lén n ^> Trung-Qtìốc 
, , gay . tron ẵ chuyện thông sử theo lệ. 
Vi nhả Minh ở ngòi đặng vững chắc, thây nhả Tran 
càng ngày càng suy nhược, lại nươc An-Nam trơ 
nên một xứ dề soán lẳm. 



- 82 - . 

m * 

Dân chàm trở lại loán đất nữa. Trong những người 
an-iiam bị quârrấy bẳt được, thi có ông. hoàng úc, 
khi ấy làm phỏ mã vua Chê-Bồng-Nga, lại đặng phong 
vương mả quản xử Nghệ-An; nên có nhiều người 
an-nam khòng bằng lòng theo ông ấy. 

Vi vậy, vua nưức An-Nam phải tăng liệt hạng 
thuê viết đặng lo việc cần lúc dỏ, nèn sinh ra loạn 
ỉạc, song dẹp được yên liền (năm 1381). Một 
kinh bộ cỏ òng Bồ-Tử-Binh cai quản, vối một 
đoàn hải 'thuyền òng Lê-Quí-Ly thống xuất, xông 
qua xứ Cbiêm-Ba mả. sát phạt dồn chàm (năm 
1382). 

Song, qua năm sau quàn ấy trở Ịại cướp phá 
nữa, quan tướng Nguỵễn-Ba-Phương làm hết sức 
mới duồi đặng nó ra khỏi miền đất nó đã phả 
tan hoang. 

Cảng thêm khốn khố hơn nữa, là Trung-Quốc 
buộc Dến cống nặng lẳm, và ép dề dường cho 
sứ mình đi qua.xứ Chiêm-Ba. Vua Trần-Nghệ-Tông, 
dă cao niên kỷ, hiều biết rầng dó lả ke nươc 
Tàu lập, nên không dám từ chối. Nhưng vậy, 
Trung-Quốc tưởng phải chờ một ít lâu nữa, vi xem 
ra thuơ âỵ nước An-Nam cũng còn tướng dỏng 
binh cường. 

Trong lúc đỏ vua Trần-Nghệ-Tòng sinh dặng hai 
hoàng nam Ong Lê-Quí-Ly có bụng tham, XUI 
giục dức thái thượng hoàng giáng vua Trần-Phế-Bế 
xuong mà đặt hoảng tử Ngung, là quí tử ngưòi, 
lẻn thế. Vua Phê-ôế cỏ dạy các quan phụ bật 
khâm phục tàn vương, song cảch một ít làu ngươi 
bi that cô mà chêt. Còn Lê-Qui-Ly nhờ dùng sự dại 
ác như vẠy mà lèn bực cao trọng trật phầm. 



83 - 


TRẦN-T H UẬiN-T ÔNG (i 390-1399).- Vua mói tòn 
đày (lặng inựỏ-i ba tuồi, mà khi dược hai mưcri hai 
tuồi thi bị thích khách mà chết, người lảm vua cỏ vị 
đó mả thòi. Quyền phép chi cũng về tay Lê-Qui-Lv 
thâu chiếm mà làm chuyện tư lợi. Quan đại thần ây 
lại đưa con gái lớn cho người làm chính cung, 
đặng cho việc mình thuận tiện hơn. Lè-Qui-Ly lả 
một người dạn dỉ hơn khòn khéo, tham tàm thắng 
trồi tài tinh, thường khi bị bại trộn luôn, rồi trảm 
thủ mấy kẻ nào minh không .ưa mà báo phục. 

^Năm ■ 1390, Lè-Quí-Ly đánh thua quân chàm 
bỏ đạo binh mà trốn, còn ông Nguyễn-Đa-Phứơng, 
bơi không chịu nghe Lê-Quí-Ly sử quấy, lần hoi 
rút binh ra dạng khỏi chồ tử địa mả Lè-Quí-Ly dã 
đem vào đỏ, nẻn sau về lãnh án xử tử, là phần 
thưởng, của người. 

Ong Trần-Khác-Chơn dam binh dánh lại, phá 
đặng quàn chàm và giết vua nó là Chế-Bồng-Nga.; 
Bến sau, mấy hoàng tử vua nầv phải qua ngụ/ 
tại triều an-nam , vi bị ông La-Khải, là tướng 
yua Chế-Bồng-Nga, soán ngôi tiếm vị. 

Năm .1391, có một ông thầy chùa kia, tẻn là 
Phạm-Sư-On, trương ki chièu binh làm loạn. Ong 
ấy dáĩíh vộ đặng cho tói trong kinh thành, song 
chăng khoi bao làu phải thua, bi bẳt vả' chịu xử 
trảm. 

Trong lúc đó Lê-Quí-Ly được các quan theo phe, 
củng lả bà con thân thích đến vảy phủ minh cách 
èm ái lẳm, nên ban cho mây người ấy đặng chức 
cao quyền cả. 

Qua năm 1394, dírc thái thượng hoảng Trần- 
'Nghệ-Tông thàng hà, trưỏ’c khi qui thiên, người 


 




cỏ trối phú cho Le-Qtìí-Ly nhưng lời nầy thầÍt ỉạ : 
đòá lẳm:«Như con ta không sức mà lo -kham, 
thời ngươi hãy quản lấy việc nước » . 

Vua khí thế rồi, quan đại thần đa tham nầy 
trở nên chảnh người tề chế. Ong ấy có quyền 
vua, song còn tròng cậy một ngày kia đặng tước ’ . 
dế vương thật nữa. Trong lúc sĩ hậu như vậy, 
người dời đồi thì sự trong nước, bảy giấy ra 
mà dùng thay vì tiền — là thứ bèn Tàu có đă 
làu — và lẻn án tử mà.de mấy kẻ nào mạó giấy giả. 

Lê-Quí-Ly lại lập ra kinh thành mới tại tỉnh 
Thanh-Hóa, đặt tèn là Tây-Đô (quốc đồ ở hướng 
Tây) mà đấu với Bông-Bô củ, cũng kẻu là Đông-Kinh 
(quốc đô ở hướng Bông). Quan ấy dem vua Trần- 
Thuận-Tòng dờỉ qtia đế kinh mới, cũng dường 
bảng bẳt tay người mả kẻo đi vậy, sau ép- vuá nhường 
ngòi lại cho con người tên An — cháu ngoại .Lè- 
Qui-Lỵ — hoàng tử nầy xưng hiệu là Trần-Thiếu-Đế. 

TRẰN-THIẾU-ĐẾ (1399 — 1402).— Đó lả một vi 
ngươn thủ không làm cực lòng ai hết, bơi còn 
thơ ấu ỉẳm, mới ba tuồi mà thôi. Còn vua cha, 
thì Lê-Quí-Ly kiếm thế bỏ thữ cho người chết 
đói, rồi tra thuốc độc, sau hết cho kẻ thẳt cồ 
người. 

Nhưng vậy, có nhiều quan triều thấy ông Lê- 
Quí-Ly lộng quyền bạo ngưực, thỉ lấy làm lo sợ 
cho hậu nhựt minh. Nên đồng tinh nhứt quyết 
mà giết người di; song đến lức khẳc kỷ, mấy 
quan âm mưu, đều lưởng lự, nhấp nhử, làm cho 
trẠt dịp, nên sau Lè-Quí-Ly tư lịnh giết sắt cả 
phe ấy. Ba trăm bảy mươi người bị trảm thủ. 



Sau hết Lê-Quí-Ly thấy cờ đấ về tay, không 
ai dám sánh tày mình nữa, liền truất ngôi cháu, 
song còn dong mạng (!) rồi lẻn làm vua ngay, 
xưng là Hồ-Quí-Ly (i). V 

HỌ HÕ TIẺM VỊ 

I 

HỒ-QUÍ-LY (1402 — 1403).-— Bấy làu tên n'ây đã 
làm cho trịch mấy lỏù thệ hải minh sơn, phạm đi tái 
lại nhiều tội đại ác, nay lèn đặng ngôi cửu ngủ, 
song không muốn hay [là không dám tại vị làu 
ngày. Vi cách một ít tháng, saụ, Lê-Quí-Lỵ nhường 
ngôi lại cho con thứ, là Hồ-Hản-Thương, mà giữ 
cho mình chức thái thượng hoàng. 


HỒ-HẢN-THƯƠNG (1403-1407).— Lúc đó phải 
ỉàm cho ngôi báu ra kiết thiệt hơn, vi Lẻ-Quỉ-Ly 
hiều biết nó không vửng chắc. Mấy nhà nào cần 
cho mình dược bền đồ, thi phải chiến thẳng 
một phen, mởi vững ỷ đặng. Khiền mười lăm vạn 
binh qua đánh phá xứ Chiêm-Ba, đân chàm sợ 
xin giao hòa, nhường lại cho người an-nam đất 
Cồ-Lủy, sau chìa ra làm hai tĩnh Thanh-Hóa (Quẳng- 
Nam) với Tư-Nghỉà (Quẳng-Ngải). Cha con họ Hồ 
sai dân bẳc-kỳ vào ở hai tỉnh đỏ; song rủi đoản ghe 
chỏ* đản bà với con trẻ bị chìm chết, nên chuyện 
tai biến như vậy làm cho dàn sự giận hết sức, 

(1) Chánh họ Qui-Ly & họ H‘õ, không phải họ bê như thuở 
còn lảm quan lấy mà đặt cho mình. 



mà tưởng rằng đỏ lả cơứpithạnh nộ đứng đại . tạo 
ra oai mà hại họ Hồ tiếrh vị. 

Đã vậy, xứ Chiêm-Ba cứ thủ nghịch luôn, nên 
phải đảnh qiữa^ * 

. Song chuyến nầy quân chàm lại xin đức hoàng 
đế Trung-Quổc cứu giúp, vi Vạy vua Tàu mới sai 
một đạo binh thủy qua đản hộ dàn ấy. Đoạn thấy 
hai bên sức trát, đáp sứ một ít lảu mả thuyết lv 
cầu hòa, sau hết binh tảu tấn qua loán nước An-Nam. 
Sau khi thẳng bại nhiều phen, Trung-Quốc mói 
chiếm trị đụng. Cha con họ Hồ vói quan quân 
theo phe đều bị càn tầm khâp xứ, sau bẳt dược 
điệu về triều Bắc-Kiiih. 

Hồ-Quí-Ly khi đỏ già cả, tuoi dã bảy mươi, phải 
ra thân đi 'lỉnh theo binh tàu, con cháu được thoũg 
thả một chút; còn mấy tướng và quan an-nam, 
thời đức hoàng dế hứa cho có bề sanh lý, song 
can mật truyền lịnh giết đì hết: Vậy dày đà vẫng 
truyện thạnh suy bỉ thỏi tến tham tâm ác dửc 
thường nầy. 

TRUNG QUÔC CHIÊM TRỊ 

GIẰN-BỊNH-ĐẾ (1407 - 1410). - Khi vua Tàu 
tất diệt họ HỒ, thời tưởng cỏ lẽ ở yên -đặng mả 
hưởng đất minh mới chiếm. Nào hay chẳng phải 
như thế. Vi họ Trần cung còn con cháu, dầu cho 
lúc trước Hồ-Quí-Ly chém giết nhiều phen mả sát 
tuyột. Cỏ một vị vương trọng lớp miêu dệ nhà Trần 
xày đồn đắp lủy mà ỏ- tại tĩnh Nghệ-An, là cho 
binh sĩ ‘tàu chưa hề bước, chơn đến, ỏng ấỵ tên 



— 87 — 


đặng quan quân phụ tá tôn lẻn làm vua, xưníc 
lả Giản-fìịnh-Bế. é 

Cách một ít lâu, ông ấy dược mạnh thế một 
chút mà giao tuy với binh tàu, lần hồi thắng đặng; 
nhưng không' (iu sức đuôi quàn ấy ra khỏi nước 
An-Nam. Hại thay ĩ cho vua nầy, vi xem ra ngưòú 
lam het sức cho mình hoại sự. Ban sơ người truyền' 
hai i vị vương trong thích lỷ và sáu trăm ngươi 
thuộc hài ông ấy (năm 1407); sau có tên văn nhân 
kia^cáo ông Đặng-Tất với Nguyễn-Cảnh-Chơn rằng 
ăn ở lộng quyền, thì người dạy • trảm qụvết hai 
danh tướng ấy. Hai quan thống binh' nầy chết, thi 
vua hư hết sự nghiệp. 

khi con cái mấy ông đó rỏ dặng nghiẻm phụ 
minh chịu xử tữ bất minh, tức thi qua phò Tran- 
QuỊ-hhoảng,cháu vua Trần-Nghệ-Tông,Ià người tranh 
ngôi với vua Giản-Ôịnh-Đế. Trần-Qui-Khoảng đặng 
phong vương, lấy hiệu lả Trùng-Quang-Đế. Vậy nước 
An-Nam lúc dó mẩc phải quan quân tàu chiếm trị 
với hai người an-nam nhương vị tương phàn. 

; TRƯìG-QƯANG-BỂ (1410 — 1 41 4) . — Chẳng khỏi 
^ a °.ì ầu vua T r ùng-Quang-Bế đánh đặng quốc thúc, 
là Giẳn-Bịnh-Bế, song người có lòng nhơn hơn, hoặc 
thạo việc quốc chánh hơn đứng tranh lộp củng mình, 
nên dạy tử ngôi mà thôi, cho hiệp lực với mỉnh 
mà khử trử ngoại quốc. Đều trù nghĩ như vậy 
không đưọ-c ích chi. Vi ông Giản-Đinh thất trận 
bị sanh hoặch. cỏn vua Trủng-Quang-Đế sau sai 
sứ cầu- hòa, mả không đặng, lại phải Trướng- 
Phụ, lả tưỏ-ng tàu, đánh rán một trận nữa, hủy tan 



đạo binh người đi. Vua mới trốn lên Ai -Lao tị nạn, 
song bị dân xử ấy bẳt nộp cho quan tảu, nồn ngựỏ-i 
tự tân đi. Các quan cỏ lòng tr,ung vỏ*i người hơn 
hết, cũng lảm như vậy. Từ đảỵ tận tuyệt nhả Trần. 

Trần-Phước, là nguyên soái tàu, mới ra thề lệ 
nghỉẻm nhặt hết sức mà di phong diệt tục trong 
xứ. ồng ấy cấm vẽ minh, bẳt đề tóc dải, dản bả 
con gải bận áo như bên Trung-Quốc, dạy mọi lẽ 
thông thái cùng cảc cuộc lễ nhạc Phật giáo V, V. 
Mấy sĩ tữ nào học hành khá hơn hết, đều gởi qua 
Tàu mà thi cử, đặng sau làm việc quan. Ngoảĩ 
những chuyện buộc chặt đó, song cỏ lẽ chữa >lỗi 
đặng, thi ông Trần-Phước lại ép lảm nhiều đều 
khác cũng chĩ về chánh sự nữa. Nhơn dàn phải 
diêu dịch nặng nề đặng khai mỏ bòn vàng, săn, 
dụ voi, lặn biền kiếm châu trai, v, V. 

• ‘Năm 1416, Trương-Phụ lả người chiến thẳng 
nưức An-Nam, qua thế cho Trần-Phừớc. Trong 
mấy việc ông nầy lảm trưó*c hết, thấy có bẳt lính 
an-nam nhập với binh tàu, cho tới một phần ba, 
tủy theo đồn bẵo. Có lẽ người trông cậy, nhờ sự 
đồng ở chưn quàn chưn lính vỏi nhau như vảy, 
lảm cho • sinh ra chút tình hòa hảo tròng hai nước. 
Song dân sự xao động, nên ỉoạn lạc gần dấy lên. 
Mà biết tưứng Trương-Phụ lo vồ về lỏng dàn đặng 
chưa ; tưởng đức hoảng đế không đề cho người • 
cỏ ngày giờ mả làm. Vi cỏ một quan hoạn kía cáo, - 
nên vua Tàu sai Lý-Bàn qua thế. Sự người hồi 
hương lả dấu hiệu dậy loạn. 

Cách quan tàu hả chánh, ăn ở bạo. ngưực làm 
cho một ỉt con nhả an-nam trốn lên núi, chờ 



— 89 — 


npy tốt mả bạn nghịch. Trong mấy gia thấi đó, 
• có một vì quan trưởng kia khi trước phò Minh, 
sạu xin từ chức, không chịu giúp Minh hà hiếp 
an-nam, bỏ đi vò trong xứ Lam-Sơn mà ở. Cựu 
quan nầy, tánh đanh Lè-Lọ-i, thật là một người 
cảm đảm, hùng tài, tính lo đánh trả. 

Bữi yếu sức không dám nhạn binh dấu lực, cứ 
dánh giặc chòm giặc khóm mà thôi, là sự người 
thòng. . hiền cách thể hẳng làm nên việc. Cách một 
ít lảu binh gia lương phạn đưọx thêm hoài. Song 
ông Lê-Lọâ bị chủng phản hại lần thứ nhứt, ngưòi 
làm hêt sức mới thoát khỏi trùng vày, nhưng vạy 
phải đễ. em lại cho giặc bẳt. Vi dung nhan thàn 
đệ nầỵ giống ông Lê-Lọ-i như khuôn đúc, bơi dó 
quan tàu tưởng đã sanh hoặch được người, nèn không 
cho bihh đuồi theo làm chi. Dầu vạy, ông Lê-Lọa 
cũng không ngã íòng, rút vò núi mà tái ÌẠp mọi 
đạo binh nhỏ khác, rồi trở xuống dánh nữa. 

Các .tướng tàu sai đi diệt Lẻ-Lợi, d'êu bị thất 
cả, nên thiẻn hạ theo nhiều, làm cho số binh gia 
cứ thăng luôn. 

Dầu vậy, Trung-Quốc cũng tưởng ràng cơn loạn ấỵ 
chẳng nhiễu hại bao nhiẻu, cứ chuyên lo sữa sang 
trong nưỏ-c, dưòng thề không có chuyện clìi 
hết. Năm 1419, nước Tàu đem vào cuộc giảo huấn 
các sảch Ngu-Kinh, Tứ-Thơ và sử tàu hiệu là Cnng- 
Mụq. Củng có bày cách thế lạp ra từ lảng tùng 
theo phép Tru ng-Quốc, mỗi làng có một tràm nóc 
gia (kêu là bảo), mỗi bảo chia làm mưỏ-i chỏm, 
mỗi chòm kề mười nhã ở (gọi là giáp). Các ngưỏá 
■lảm dầu> trong bẵo, giáp, mỗi năm dều phải 
thay dồi. 


7 



— 90 — . : - 

Trong khi ông Lê-Lợi tranh chiến, đôi phen thẳng 
đặng binh trung-quốc, thời có Lê-Ngã, nguyên 
trưỏ-c ở mọi với nhà Trần, lúc dó cung qui dân 
tạ dảng mà đánh lại vổ-i Minh. Xư-ng minh là chất 
vua Trần-Duệ-Tông, nên lo tranh ngôi cửu- ngũ. 

Song le sự khẳc thiệp chẳng giúp dở ông ấy 
chút nào. Vì vừa giáp trận đầu, Lê-Ngã bị binh 
tàu đánh, thua chạy trốn biệt lích, không còn 
thấy sử nói tới nữa. 

Sau khi bại trận nầy, xem ra như hai bên đinh 
chiến, òng Lê-Lựi lo tu tập qui chế quàn gia, còn 
Minh thời đợi chờ binh tiếp. 

Năm 1 4-21, một dạo binh trung-quốc, có tướng 
Trần-Trí thống suất, kẻo qụa nước An-Nạm. Cách • 
vài tuần lề sau, cỏ 30.000 binh ai-lao với 100 thớt 
tượng lại đến dâng công xin giúp ông Lê-Lọã, thi 
người lấy làm vui lòng mà nhậm, vi thấy binh mình 
dặng thêm sức. Ai hay, vừa tối đêm thứ nhứt, 
quàn ai-lao trở lòng đánh bĩnh an-nam, bỡi nó cố 
ỷ đến hại Lê-Lợi mà thỏị. Binh an-nam hoảng kinh, 
song mau hồi tâm, đánh trả trí mạng, nó thua 
chạy thất tán, làm cho nó hao hểt í 0.000 người 
vó*i 14 thớt voi. Quân ấy đem nhau qua giúp Minh 
mà báo thủ người an-nam; lại, ví dầu binh tàu 
dặng thêm số. như vậy, thì cũng phải thất cho đến 
dồi ông Lê-Lợĩ có -giỏ' rảnh, thong thả đi lện đất 
ai-lao mà sát phạt dân ấy. 

Kế giặc tiếp đánh luôn luôn, khi thẳng khi bại. 

Năm 1423, hai bèn huửn đấu, song lai niên vua 
nhả Minh thăng hả, -ông Lê-Lợi dùng dịp dân tàu xào 
* động lúc dồi trào khác mà dấy binh đánh lại, ngưòi 
cũng có phước trong raấy trận nầy. Thuỏ- đó ông 



— 91 — 

Lê-Lợi hiều biết ngai vàng'đã dành cho mình về * 
5au, song sợ e các phó tướng tranh nhau, hoặc 
lập mưu chước chi mả nhương ' đoạt, nèn tôn 
Trần-Tung nói là con cháu nhà Tran, lên lam 
™ (^ a ^J^26-1427), sau lại phong cho Trần-Kiều 
kế vị (1427-1428). Đó ỉà mấy đấng quân vương dặt 
lên cho c<5 vị mà thòi, không quyền phép chi 
lại cũng chẳng trí hỏa, như sau mà cỏ dịp gi, thi 
chẳc ông Lê-Lợí sẽ từ rảy. 

Sau hết thấy Trung-Quốc xuất thần lực minh 
một lần nữa; sai hai đạo binh qua soán nước 
An-ÌNam, cã hai dều bị thất ráo. Nay giặc mãn 
roi, tính ra nó đã mười năm, nên nước Ắn-Nam 

• phải hao ngưòà hết của, song đặng xuất thản " 
.tự chủ. 

Lê-Lọ-i là một tay thửa thế trong việc 
“ ^bánh S) f„ bìm, n g ưò 'i không chiu theo ỷ chư 
tưỏ-ng, đe cho quan quân Minh bị bắt trỏ- ve 
xứ sở mở dại xá cho cả và dàn an-nam, sai sú 
qua xin hoảng dế nhiêu thứ cho các quan tàu vá 

c f ụ P hong cho ỏng Trần-Kiều, sự như vậy vua ® 
nhà Minh nhậm lời. ... 

làn quàn nầy không trị nước chút chi, nên 
cac sư thân chăng chịu nhìn là chinh vi vương • 
đế cũng như ông Trần-Tung vậy.. Các quan phò 
ong Lẻ-Lợi, có khi lả bối đầu mục mình xui 
giục, 'nên xin hại vua Trần-Kiều. 

- Vua ^ đi ’ s _ong bị bắt lại và đem 
g® trong thành Đông-Quan. Sau người uống 
thuốc độc mả chết (nàm 1428), còn ong Lê-Lợi 
>ên ngai, đặng nhơn dản tung hò vạn tuế, VI 
nhỉn^bịết người lả đấng cứu thục nươc An-Nam 
ra khỏi ách ngoại quốc. / ‘ 



- n - 


NHÀ LÊ 

* 

LÊ-THẢI-TỒ (1428 — 1434).— Khi vua Tran-Kiều 
thệ thế rồi, thời ông Lê-Lợi sai sứ qua triều Bằc- 
Kinh mà cảo ai, báo họ Trần tận tuyệt và xin 
phong cho mình. Song, đã không chờ hoảng đế 
châu phê, mà lại trước khi sứ xuất hành, thì ông 
Lê-Lựi dạy các quan triều tôn người lên làm vua, 
tại Đông-Đò (Kẻ-Chợ, hay lả Hả-Nội đang thì), rất 
nên oai nghi, cả thề lảm. Người lảm như vậy thật 
là hữu lý, vi hoàng dế nhà -Minh dễ người chờ 
dợi cho tới năm 1431, cử dạy kiếm con cháu nhà 
Trần luòn, lại cũng một khi gày ra nhiều đều 
hiềm trở. Trước có dem dàng một tượng người 
vàng, sau phải 50.000 đính vảng Ọ) nữa, mới làm 
cho dứt đặng ỷ xấu giấ mạo nhiều hơn lả chơn 
tinh đỏ. 

Vậy từ n'ây về sau chúng ta gọi ông Lê-Lợi lả vua 
#Lê-Thái-TỒ; người làm mấy đều kề trưỏ-c dày 
chẳng những là cho y cựu lệ, mà lại cho vững 
ý trong sự thuận hòa vói Trung-Quổe. Bỏ là 
chuyện đại ich cho người. Song, vỉ như chắc đặng 
bình yên phía Tàu, thì. chẳng an cư được với 
mấy tieu vương chư hầu nước Đại-Nam. . Bỡi đồ, 
trong năm 1431, vua Lê-Thài-Tồ phải sai binh 
bát loạn Phục~Lề châu, rồi qua năm sau 1432, 
cung phải đi diệt Phục-Lề châu ấy với xứ Ai-Lap 
nữa. Đâu đỏ mới yên lại hết. 


(í} Một đính hay là một lượng vàng thi nặng 39 gr. 05. 



, Nói vê sự cai trị, vua Lê-Thải-TỒ cộ kiềm Sổạn, 
canh , cải thề lệ trong nước, bày luật mới, khai 
ri) ỏ vảng, mỏ bạc, đặng tái lập việc thâu xuất 
ngàn khố; mả khi lo các việc công nầy, người 
cưng dồng tỏ rá trí huệ tinh tường, siêng sắng, 
nhự trong lúc giặc ■ giã. trưởc vậy. 

Người thăng hà thuở mởi trị nước đặng 6 năm, 
hưởng thọ 51 tuồi; lại nói được khi gần tới huyệt 
mòn, người hãy còn chịu ưu phiền về tánh ý 
buông tuồng thái tử đông cung. Nên phải truất 
ngôi di, mả đặt con thứ người lên kế vị. Hoàng 
tử Lê-Nguyên-Long, dược 11 tuồi, đăng quang, 
xưng -là Le-Thái-Tong. 


LÊ-THẢI-TỎNG (1434- 1443). — Vua nầy còn 
xuàn ấu mà sớm tỏ trí sẳc thông minh trong nhiều 
việc. Người cầm quờn quản trị khôn ngoan, vững 
vàng lắm, nên nưức An-Nam cảng đặng dỏng cường 
ho-n nữa. Song rủi, lúc ban sa cỏ nhiều sự tai 
nạn nhiều hại trong xứ. Hạn hán, kinh thành 
bị hỏa hoạn, hoàng trừng, nhục đống, lúa đén, 
luân phiên nhau gần trong một nảm. Vua dạy 
sữa tháp Báo-Thièn lại mả cầu đảo, làm cho nhơn 
dàn khốn khó nặng nề hom nữa. 

Còng việc n'ầy suy ra có lẻ mà chế đặng, song 
vua Lê-Thái-Tòng lại thêm một chuyện khác khó 
bỏ qua. Lả người dạy ông Lê-Sát, một vi trong 
chư tưómg trung thần hơn hết của vua cha, phải tự 
vận đi, lấy cớ rằng òng nầy muốn phản bạn; 
quả nhièn người nhằn tâm không được về quyẹn 
cả quan lảo nầy. Tướng Lê-Sát vưng lịnh, song 



- 94 — 

cảc quan thống bỉnh dồng liêu giỉip ông. Lê-L(rì 
khi tiưởc, đều chịu không đặng, van trảch, nhò* 
sự kỉnh vỉ chút cựu tích tiền vương mả thôi, nên 
khôny bảo thủ sự độc ác bội ngãi ấu quân nầy. 

Trong đời vua Lê-Thái-Tông, có dấy binh một ít 
lần mà di đánh phá mấy chi chánh làn cận,. nên 
sự binh an trong nước không được trọn hảo. 

Năm 1437, dửc hoàng đế nhả Minh sai sứ đệ- 
săc^ua phong cbo vua Lê-Thái-Tông, lại thêm một 
cái kim ấn nỗi trăm lượng, cỏ khẳc hình con lạc đả 
nằm (ấy là đấu hiệu đầu phục và ngôi chư hầu). 

Vua Lê-Thái-Tông, ban hành tân luật về việc hình 
chánh cúng tranh tụng. Mấy chuyện nào nhỏ mọn 
tầm thường, trước -bết 'phải thưa với xả trưởng 
đưòng thề quan thằm phản tiên doán vậy, như 
không xong, đưọ-c phép kẻu nải bực thưọ-ng. Gân, 
thước dều xem xét mả sữa lại. Giá mỗi tiền lảm 
lại 60 dồng, chẳng còn phải 50 đồng như khi vua 
Lè-Thải-TỒ còn sanh tiền, hay lả 70 đồng thuở nhà 
Trần cai trị. Người lộp lại giấy thông hành đặng 
ngăn cấm sự bán buôn con trẻ với mấy xử bản cận. 

Lúc đỏ thấy người ngoại quốc mọi nơi tới nước 
An-Nam mà thương mải. Nước Xiêm có tiếng cống 
còn vạn sự chi củng đều xem ra xuôi xả lẳĩh; *kế 
vua bấng thinh linh tại nhả quan đại thần Nguyền- 
Trại, là chồ vua ghẻ vào mả tạm nghĩ khi người 
ngự tuần. Có lẽ òng Nguỵễn-Trại vô tội, song, người 
vưng theo luẠt nước, mả xử tữ minh củng chịu im 
di tam tộc (1). 


(1) Luật phạt tội thí quản phải bị giết cả họ mình, họ mệ 
và họ vợ nữa. 



95 — 


LÈ-NHÂN-TÔNG (1443 — 1460). — ỏng Bang-Ki, 
tan vương, khỉ lên ngai chưa đặng ba tuồi. Người 
là con thứ ba vua Lê-Thái-Tông; còn thái tử bị bỏ 
ra kbong cho lự vj, bởi có lồi với thân mầu ngưỏi. 
Hoảng tử Ban^-Ki ,xưng lả Lê-Nhán-Tông, còn bả 
thái hậu lãnh lo sự quốc chánh. 

Việc lảm trước hết trong đòi vua nầy, thì thấy 
...cộ . mở hồng ân cho dân tròng nước, đoạn sai binh 
đi diệt đặng quân chàm, bỏù nó cứ tánh xâư^tới 
cư.ởp phá luôn (năm 1446). Kế Trung-Quốc xen vào 
phân tính chuyện nối trị trong xử Chiem-Ba. Nưỏ-C 
An-ộỉam không lấy sự ấy làm trọng, nên vâng phứt 
theo chiêu dụ vua Tàu. Vỗ việc binh, thời từ 
nám 1448 cho tới 1452, cỏ một hai chi chánh chồi 
dậy, song dẹp yèn liền. 

Các việc thống thuộc vói ngoại quốc thảy đều 
êm thuận lắm. Đôi khi thấy trong xứ cũng còn can 
hạn Và có đâVđộng nữa. Vua với đức thái hậu ra cầu 
- cáo mình, nhìn xem các sự tai ách vương vấn 
nhơn dân dưòng thế, là bởi lồi minh mà ra. Bức 
quấc mầu phụ chánh có dùng mấy kẻ không phương 
thê lảm ăn trong thi CO' cẳn như vậy, đặng khai 
kinh đại ích cho ghe thoàn thòng lưu. 

Vua dạy quan văn Phan-Phủ-Tièn tu sử kỷ từ 
nhà Trần lên làm vua (1225) cho tới dời nha Lè 
(1428). Ây vậy, tục lệ người an-nam cho phép chép 
truyện nhà nao, là khf nhà ấy tuyệt dứt roi. 

Vua Lê-Nhản-Tông lãnh việc trị nước nhằm năm 
1453, khi ấy người dưực 13 tuồi, nhưng vậy người 
không gìn giữ dạng quyền thân chánh hầy lâu dài. 
V) qua năm 1459, huynh trưởng người cho kẻ 
giết ngưòù đi mà soán ngôi. Song được tám tháng, 



* 

- 96 - 

các quan lởn trong nội ĩại hạ tên giết em đỏ, mả 
tòn Tư-Thành, là con thứ tư vua Lẽ-Thái-Tông, lên 
lức vị. Vậy, ai nấy thấy, từ khi dàn nưửc An-Nam 
Irở nên đồng loại, thi chúng ta cũng còn gặp 'nhiều 
cơn bạn nghịch củng triều loạn- luôn, dó lả sức ỉực 
thề lộ quốc chánh, song nó không cho nhơn dàn đủ 
cớ chồi dậy một lần đặng mà sửa lại bề ăn ở minh. 

L E-T H A:H-T0N G (1-460 — 1497). — Đây chúng 
ta dà tới một đời vua trong mấy vi quốc quản 
cai trị khôn ngoan hơn hết mà Đại-Nam quốc sử 
trưng ra cho thiên bạ xem thấy, ông Tư-Thảnh, 
miều hiệu là Lê-Thánh-Tòng, thọ phong thuở mưòi 
tám tuồi. Vua nầy công bình, thông minh, oai 
nghiêm, và cần quyền lẳm, người xém xét củng - 
qui chê mọi việc trong nưởc lại trúng cảch, hơn 
cúc vỉ vương đế khác. 

Mấy năm đầu, nhơn dàn dăng bình yèn vò sự, 
song qua năm 1471, chính vì người cũng phải 
.thản chinh di đánh nưó-c Chièm-Ba. Ngưỏ-i dùng 
sự người thòng hiều về đồ trận, hành binh một 
cách tầng trải vả cần thận lẳm, cung dường bằng 
một vì túc tướng kia vậy. Ban sơ người hội đại 
binh trèn mấy nồng Thiết-Sơữ, là chồ ngưòi dửng 
chân lại mả hiệp các số dự định về nhơn dân và 
dịa cuộc xử ấy, là dều cần kíp mà lập ra một bản 
đồ củng định tỉnh khởi sự giáp chiến. Khi người 
hiều rỏ rồi, người tấn binh một cách dạn dỉ cho 
tỏ-i chơn tưỏng Chièm-Thành, đoạn người soản lấy. 
Vua Chàm, tên lả Bàn-La-Trà-Toàn, bị bắt, ít lâu 
sau chết đi. 




Muốn cho dứt chuyện một lần với quân ăn cướp 
chàm, thỉ vua Lẻ-Thánh-Tòng dạỵ chia nước Chiẻm- 
Ba ra ỉàm bốn phần. Một phần trở nén tĩnh Quảng- 
Nam an-nam, còn các miếng kia đều đề cho mấy ông 
hoàng bồn thồ cai trị, song có. viên quan an-nam 
quản sóc. 

Tử, năm 1473 cho tới năm 1479, phải làm cho 
—dàn ai-lao và một ỉt chi chánh khảc ở tại rặng núi 
Trung-Kỳ đặng thái binh lại. Có dấy binh đi đSnh 
phá xứ Lảo-Quà, là chư hầu Trung-Quổc, khôn vi 
nề mấy lời đức hoàng dế quở trách mả lại sự thù 
tạc êm thuận với nước Tàu cũng chẳng phai lợt 
chút nào. Tưởng cỏ khi Trung-Quốc không châc 
binh gia mình chiến thẳng đặng với một vi vương 
đề ham hố chuyện binh thơ đồ tràn thề ấỵ, bẩt 
dạy quàn lính mình học tập cách riêng (năm 1467), 
lại trong năm 1465, thi dã ngự chế một cuốn sách 
nói về phương thế đánh trận thủy. 

Vua nầy chẳng những chuyên ròng binh nghệ, 
lại àn cần hết sức về việc mở mang dàn sự nữa, 
vậy trong mấy dều người làm, ta xin dẳn kề : 

Chia nước ra làm mưòi hai tỉnh. 

Làm cho phận sự các quan ra khá hơn. 

Lập bản đồ và chép truyện mỗi tĩnh. 

Họa lảm một bản đồ chung trong xứ. 

Dạy ông Ngô-ST-Liên tu số- kí Đại-Nam. 

Cứú giúp và khuyên dàn về chuyện canh nòng 
củng thương mải. 

■ Buộc mấy chủ điền dả phải trồng trặc. 

Dinh thuế đất tân bồi. 

LàmTcho dề khằn đất hoang nhàn củng lả lưu 

phế (nầm 1486). 

Khai kinh. 



Bỏng ghe đề về việc bộ dạo. 

Khuyên dân trồng dâu, đề tẳm và dương nuôi " 
lục súc. 

Sau hết, một việc khảc nữa hữu ích không kẻm 
chi hơn, là vua; lộp ra đồn diền, nghĩa là đoàn binh 
phản ở từ làng, nó cỏ hai ỷ nầỵ: một là qui tụ 
mấy kẻ khồng dửng bộ trong nuóc mà. làm ra 
từ làng, cho chứng nó đất cát cùng một ít phép 
thong thả ; đều thứ hai, dề lập binh phòng hờ 
(vi các ngưò-i trúng lực trong mấy làng dó, chẳng 
trừ ai, phải dì lính trong lức tao động). 

Lúc cuối năm 1497, vua Lè-Thánh-Tọng nhìềm 
bịnh, cách một ỉt lảu ngưòã thăng hà (lối đầu 
năm 1498). Trước khi tạ thế, người đạt* thái 
tử Tăng, cũng gọi là Huy, lên kế vị, và có di chỉ 
cho ông nầỵ. 

LÊ-HIỂN-TÕNG (1498 — 1505). — Vua mới tôn 
đày là một vi nối trị xứng đáng cùng trung tính, 
tiếp kế trong việc nghiêm từ mình khai sáng Người . 
hữu- phước, vỉ không có giặc giả, nhưng vạy binh 
gia lại cảng gìn giữ chặc chịa hơn nữa. Vua Lè- 
Hiến-Tỗng chọn lỉnh cựu mà lập ra bốn cơ binh 
ròng (hiệu-lực) củng là nhiều đội lính bộ biền. 
Con nhả nghèo khồ ..chuằn khỏi đi linh, còn trai 
tráng điền thời phải ít nữa bốn thước bề cao, và 
cho đặng từ 12 cho tới 16 tuồi (năm 1501). Ki 
điền dinh sau khi gặt hái xong. 

Vua nầy cũng lo việc khai thi thủ sĩ và cách 
lề nghi phong hỏa trong dân ; người làm cho vắn 
tắc sự giam cầm tiên định, lại giúp củng cho những 
kẻ nòng phu các dều phương tiện cần kíp. 



Vua Lè-Hiển-Tông Ihọ bịnh, Ihìing hà Ihuở ngưòi 
^đặng 44 tuồi, sau khi trao ngôi lại cho con thứ 
ba người, là hoàng tử Tuấn, ỏng ấy xưng là Lê- 
? Túc-Tong. • 

* m 

LE-TƯC-TÔNG (1505). — Vua nầy thán chánh 
không bao lầu, vì người trị nưó-c đặng có sáu 
tháng rồị qui thiên. Có một cơn loạn đấy lèn lại 
tính ^ao-Ẹẳng, song dẹp yèn liền, cĩó la chuyện 
sử kề ra mà thòi. Vua Lè-Túc-Tòng qua dời khi 
dặng 17 tuồi, truyền ngôi lại cho anh thử hai 
ngưỏ-i tèn là Thuần. 

LE-OAI-MỤC ('1505 — 1510). — Bó là vưng Iheo di 
ý 'tiên -vưong, lại cũng cỏ khi tại lòng lliam nữa, 
nẻn các quan đại thần tôn ông Lẻ-Oai-Mục lèn làm 
vua, bởi chưng quyền phép ông ấỵ có lẽ cải di 
ị mà bất dạng lảm, vì là con người tỉ thiếp ỏ' vói 

. vua Lẻ-Hiến-Tòng, trước khi vua ấy lèn ngòi. Sự 
tòn vương như vậy hiềm nghẻo cho gia quốc. Vua 
• Lê-Oai-Mục ăn ỏ- dộc ác, mè sắc dục, khi vừa cầm 

quòn quản trị, thi dạy giết mấy ngưò*i nào nghịch 
4 . oòọg minh, khửi sự lả dửc thái hoàng tliái hậu trước 
■; hết. Thường khi người cũng không trừ mấy kẻ 
T thiết nghía với minh nữa. 

ị . Trọn đời người tại vị, có một chuyện trượng 

Ị ngồ mả thòi, là quàn chàm làm loạn, song bị sát 

phạt. Trong hàng^ quan vỏ danh trận hơn hết, thỉ 
vị": trước là tướng quàn Lê-Cính (cháu vua Lê-Thánh- 

Tông), kp quan cai lính hộ vệ là Mạc-Băng-Dong, 



đến sau cori cháu ông nầy tiếm quyền cốc vua mả • tò 
trj nước lâu năm lẳm. - 

Ví dầu ông Lê-Ưinh cỏ công giúp nước, thi củnịg . ;■'* 

bị giam ngục vứi gia quyến ngưòú. Sau người lập 
thế ra đặng khỏi; lúc ấy loạn lạc vửa dấy, thiên N ị 
hạ tôn Nguyễn-Văn-Lang lảm đầu mục, lại phong cho 
tướng mới vưựt ngục đặng quyền cai binh. Vua 
Lẻ-Oai-Mục, xung tàm, truyền giết cả thẻ tử ỏng 
Lè-Ưính còn đang cấm cố. Nhưng vậy, sự hành 
hung nầy cung không ích chi. Vi vua Lê-Oai-Mục 
thất trận, quan quân trở lòng nên phải lánh thân 
tị nạn; song cách một ít ngày lại bị Lè-Quảng-tìộ 
bắt, là người phản phức mỏ-i nộp kinh thành. 

Vua Ịvê-Oai-Mục không chờ hỉnh khồ, uống thuốc 
độc mà chết. Còn Lê-Quảng-Độ lại lảnh phần thưởng 
nội công mình, là ông Lè-Uính dạy trảm thủ đi. 

Sử ki phải ngọ-i khen sự người làm đó; vi dứa 
trạ lòng, dầu cho nó hại bên nào, thi nỏ cũng là 
thằng bội bạc luòn. 

Lê-Uỉnh lại lảm cho đã ccrn giận minh, dạy bó 
thày vua Lê-Oai-Mục vô miệng sóng đại bát mà bẳn. 

Phần thân thề vua bị cháy thui còn dự lại, thì 
chở đem về làng tồ quán huyên dường người mà 
mai táng. 

LẼ-TƯƠNG-DỰC (1510-1517). — Khi hạ đặng 
hòn quân Oai-Mục rồi, quan tưởng Lê-Uính khôrig 
gặp ai cỏ sức cho bẳng minh mả thọ lấy ngòi ’*'■ 
cản. ồng ấy mới tức vị, xưng ’Ià Lê-Tưo-ng-Dực. 

Song, vỉ như trước người lả tưứng đặng vang 
danh, nay làm vua chẵng thiện chánh chút nào. 



— loi - 

Ngưỏ-i sa vảo chuyện vui chơi, củng nghe theo 
mấy .quan sủng thần, bắt dàn xâu cao thuế nặng. 
Bởi vậy cỏ nhiều cơn loạn lạc nồi lên. Kề ra củng 
trót tám lần, chuyến sau (năm 1516) hại vua 
phải thiệt mạng. 

Lúc bạn nghịch sau nầy của tên Trần-Cảo, xưng 
mình là đức Phật giảng sanh. Trần-Cảo khi thầng 
khi bại. Song lúc đánh trả loạn tẶc như vậy, vua có 
dạy xử trượng quan đại thần Trịnh-Duỵ-Sản, nên 
làm cho dẵy tràng sự oản thủ hơn nữa. ồng nầy 
bèn nhứt quyết hại vua, vậy khi phải đam binh khử 
trừ^Trần-Cảo, người lại gạt vua ra khỗi đền mả 
cho kẻ thí đi. 

Trần-Cảo thất tràn, kế cỏ một tên khác ứng dậy 
lảm phản, cũng bị diệt nữa ; sau nhờ có hai phe 
lỏm thuận ỷ, theo phò ỏng Ý-Ằn-IIuệ, nên mới được 
tòn vương, người xưng là Lê-Chiêu-Tông. 


LÊ-CHIÊƯ-TÔNG (1517 - 1523). - Nhưng vạy, 
thầy chùa Tràn-Củo cũng còn binh gia. Vua Lê-Chiêu- 
Tông mới dạy ông Trịnh-Đuy-Sản duồi theo, song 
rủi cho ngươi sa vào chồ ác dẳng mai phục, nên bị 
trảm thủ Ong Trần-Chơn, là một vì danh tưởng, 
tiếp trục ngụy tặc. 

Trần-Cảo thấy sự tranh chiến càng ngày càng 
khỏ, lấy làm mỏi mệt, giao quyền lại cho con, lả 
Trần -Cung, mà đi vô chùa. 

Cung trong lúc đó, các quan thống binh lại tranh 
trưỏ-ng, đánh nhau, hao quàn lính nhiều, nên lảm 
: cho Trần-Cung có thế mà trú ngụ đặng 'làu ngày 
lạỊ đất Lạng-Nguyên (Lạng-Scrn). Hai tề tướng 




vua giảng hòa, cứ tiro*ng đấu luòn, nên vua vỗ quyền ■#&} 
phải theo khi thi bên nầy, khi thời phíá nọ. Sau • 

CÓ ông Mạc-Băng-Dong, tồng đốc tỉnh Sơn-Nam, 

Ịà một người hiếu danh !ẳm, lần hồi binh loạn, hoặc 
là bài nạn giải phân hai dàng, nèn mới hòa lại với 
nhau, ông Mạc-Đăng-Dong lo sữa sang trong nưỏ*c cho 
có thứ lớp lại một chút; cũng một khi thủ hộ vua 
cách kiên trí quá, đến đoi vua phải bỏ triều trôn 
qua bên Trỉnh-Tuy mả xin ông ấy giúp mình. 

Mạc-Bàng-Dong căm giận, vỉ vua Lê-Chiêu-Tòng 
ra khỏi tay minh, nên cao rao rẳng ngưòi đã mãn 
phần lảm vua, rồi dặt em ngưò-i, tên Xuàn (xưng 
là Lồ-Cung-Hoàng) lên tửc vị, và đề binh tới đảnh 
vua Lẻ-Chiêu~Tông. 

Đã vậy, vua khốn nạn nầy cũng không biết gin 
giữ sự tướng Trinh-Tuy phụ bật mình, là đều òng ấy 
lương lự lâu ngày mới phụng mạng gánh vác. Vì 
một chuyện tiều sự kia, vua truyền dạy trảm quyết • ■ 
một quan vỏ củẩ Trịnh-Tuy. Bo, tự tạc kỷ thân lả 
như vẠỵ. Ong Trịnh-Tuy triệt hạ hành cung mà sanh 
hoặch vua, đề sau dùng người làm bia. 

Mạc-Băng-Dong hiều biết thế sự hiềm trở thề vấy, 
liền dam binh đánh đuoi đặng Trinh-Tuy mả bẳt 
lại vua Lê-Ghiêu-Tông (năm 1524). 

1 Vua bị quan quốc lảo cầm giữ cho tới năm 
1527, sau cho kẻ giết người di. 


LÊ-CÚNG-HOÀNG (1523-1527).- Vua nầy thề 
như một hình nộm kia, đề cho người ta dùng-; 
0 ' xạ mả giới cho dân, dặng tưởng sự chi cũng bơi 
ngưòá mà ra. 



- 103 - 


Quyền phép chi củng thuộc trọn trong tay quan 
đại thần đáng kinh oai đỏ. Nhưng vậy, khi thi vua 
Lẻ-Chièu-Tòng rồi, thì ỏng Mạc-Băng-Dong lại lui 
về rầy bái, tưởng ít khòn ngoan hơn lả cho dăng lo 
doạt ngỏi thién tử. Trong lúc người quì hồi về chốn 
sàn dả, thi vua Lê-Cung-Hoàng phong cho người 
các tưó*c các sẳc quan phụ chánh. 

Sau hết, ông Mạc-Đăng-Dong lai triều, tạ ơn vua, 
doạn liền cồĩ lốt, biều vua kí tờ nhường ngỏi, 
rồi xưng vương, bẳt vua Lè-Cung-Hoảng vả đức 
thái hủu mả cầm trong trong thành, sau chẳng 
khỏi bao láu ép người tự vận. 


HO MẠC TIỀM VỊ 


MẠC-BĂNG-DONG (1527 — 1530). — Khi tẻn doạt 
ngòi n'5ỵ vừa lỏn ngai, liền sai sứ qua triều Bắc-Kỉnh 
cầu phong cho minh. Chuyện như vạy chẳng phải 
dề đâu. Song có quí vật gỏi dâng, lại với hai châu 
liền cương tách ra qui thuận cho Trung-Quốc, thì 
mới làm cho hoàng đế nhà Minh ngả ỉẻ mà nghe 
hộ Mạc. 

Nhưng vạy, sự hoảng đế châu phè không binh 
tâm hết thảy mọi người. Củng còn một ít kẻ đầu 
phục nhà Lè, lại trong mấy người dó, thời kề là 
ông Nguyền-Cảm (Bỏ). Quan trung thần nầy có giao 
làn hửu với. cựu trào, đề huề thán thuộc vò Ai-Lao 
với hoàng tử vua Lê-€hiêu-Tòng. 
vtDầu vậY, Mạc-Đăng-Dong cũng cứ làm cho ngôi 
minh kiên hảo hom, lại khi tưởng rấng trong nước 



i 


% • /l' - 



đẫ chịu phép và nhần tàm rồi, thì tử ngôi*-- nhịr^ittg - --ỆỆ 
ngai lại cho con là Mạc-Đărig-Dinh. 


MẠC-ĐÃNG-DINH (1530— 1540).— Vừa cầm quởn 
chấp chảnh thi cỏ loạn lạc dấy lên. Bỏ lả ống Lệ- 
Y, thuộc dòng tôn thất, tom góp đăng trót muộn 
người. Mạc-Bãng-Dong đi đánh ông ấy, song bị bại, 
sau con là Mạc-Đăng-Dinh ra thế cũng phải thua 
nữa. Rủi thay, ông Lê-Ỹ tự đẳc, không cần thận 
quan phòng, đề cho thất lại, phải giặc bắt mà gia 
hình tử mả (năm 1529). Còn binh tàn thời vở chạy 
vô Ai-Lao cho gần ông Nguyến-Cảm, song người 
đã tôn ông Lê-Ninh lên lảm vua, trong sữ gọi là 

Lê-Trang-Tòng Ợ). . 

Vua nầỵ còn thanh xuàn mà nhờ cỏ quân thần 
phụ bật, lần hồi tạo lập giang sơn sự nghiệp 
tại phía nam Bẳc-Rỳ, nhứt là nơi tĩnh Thanh-Hỏa. 

Người ta lấy làm lạ khỉ thấy tự nhiên nhơn 
dân tỏ ý minh ra thề nào mà vủa giúp mấy kẻ 
gồm thâu quyền phép, lúc ở bên nầỵ, lức tùng phía 
khác. Khi rỏ thấu thề lệ các xứ tận-đông, thời • 
dễ hiều mấy cơn loạn triều là tại : sự các quan 
tranh trưởng trong những dời vua nào cỏ tiếng 
ỏ- ngôi càn, mà thường chẳng hay thân' chánh, 
hai lả sự dàn bất cần mấy việc nào không can 
phạm thật tới -mình. Song đều người ta chẩng 
tưò*ng tất được, lả cách dân tình dề xụạt trận. 
Chẳc có lẻ là tại tánh người an-nam hay canh cải, 
trí mảng đánh liều vả lòng tham một ít vị, kề 

(1) Vua Dầy biều danh ià Đủ ; vì vậy ngưòi ta mỏ-i gặp tropg 
một ít sách kêu là Dủ-Hoảng-Đế. 


V.vr 



— 105 — 

ỉàm phần nhiều trong chuyện ấy ; sự xiêu chiu 
những kẻ bị hiếp đáp, không sức gỗ’ minh cho khỏi 
ách; dã trỏ* nên bộ hạ mấy tay hà chánh, cũng phải 
tính bứờng như vậy; sự kinh vì mấy đều sao 
khầu, lỏng đạo đửc, tánh trìu mến nhà vương, nói 
tắc một lỏ*i là việc giáo huấn, mả chỉnh lý hom 
là tâm tánh, cũng tính đặng một chút chi váo nữa, 
nhưng vậy, trong đó cũng chẳng có cớ sự dán 
tinh ăn ở mả chúng ta quện đi sao ? 

Nước An-Nam thuở ấy không có pbầm cấp thế 
dại trâm anh lưu hậu, theo phép, cả thâv nhom 
dàn nhập tịch đêu bằng nhàu. Trong nước thời có 
lê thứ vả quán trưởng mà thòi, nhưng vậy người 
ta gặp đó cũng như nơi khác, có một hạng người 
bảo thủ niêm lệ, lại với một lỏ-p khác vò danh, 
vô vị sẳn lòng mà làm các việc lành dữ. 

Sự ỉập làng, lập ấp chỉ ra cho chúng ta thấy, 
có một dám dàn không dáng tịch, ỏ- trong làng 
chẳng sanh ích lợi chi, trừ ra muốn kí ngụ, thỉ 
phải làm nhiều việc theo làng buộc. Ắt 'thật, dỏ là 
một đám vô số con nhà mạng bạc đề phòng hậu, 
nhứt hảo làm cho phận sự minh ra khá hơn, lại 
cung sẳn lòng đánh liều mọi việc, vi nào có thiệt hại 
chi. Chẳng phải nơi đỏ m«à doàn ứng nghía chiẻũ 
mộ nhau các khi dấy loàn sao? 

Dầu thễ nào, như trải xem lại mấy lúc đại biến, 
ta thấy phía Lê, cũng như bên Mạc, cả hai dồng 
kíp vội xin Trung-Quốc nhìn phong vương cho minh. 
Nên trọn mấy năm hai dàng cứ sai sứ bộ cùng dam 
phương vật tiếng cống luôn . Đức hoàng đế nhậm 
thàu cửa - lề, rồi xuống chiếu giải phàn như vầy : 
Lê-Ninh qụẪn thủ các tĩnh phía nam, còn Mạc-Đăng- 

8 



— 106 — 


Dong, mó-ỉ bị con chết, lại cỏ hạ mình phục vọng 
nhiều phen, thời lãnh tước quan nhỉ phầm tùng 
chánh, cho phép cai trị mấy tĩnh hướng bẳc, .như 
chư hầu Trung-Quổc vậy. Cách vải tháng, Mậc-Đăng- 
Dong từ trần, lưu quyền ìại cho cháu là Mạc-Phưức- 
Hai. 

MẠC-PHƯỚC-HẢI (1540-1546). — Thượng dụ 
hoàng đế rạ như vậy, thì dẻ hiêu, nỏ không làm 
cho một ai bằng lỏng. Ong Lê-Ninh cứ tiếp đảnh 
luôn, Mạc-Phưởc-Hải thua nhiều trộn, song Dưo-ng- 
Chấp-Nhửt lả tồng dốc của Mạc*Phước-Hải đề lại 
Tảy-Đô, tận trung với Mạc lẳm, giữ thành ấy không 
nồi, nền nộp nỏ vả giả dạn theo Lê. Làm như vậy 
là cố ỷ dứt cho được tay hữu nhà Lê, là ông 
Nguyễn-Cảm. B5-Ì đó, cách một ít thảng lần hồi 
thuốc dạng ông ấy, rồi trỏ- về vói Mạc-Phưởc- 
Hải 

ông Nguyễn-Cảm mất đi như vậy iảm cho vua 
Lê-Ninh ưu phiền khôn xiết, song sự ấy cũng không 
phẵi tái bồi chẳng đặng. Yua Lê-Ninh bèn phong cho 
Trịnh-Kiềm, rề òng Nguyễn-Cảm, lên lảm đô thốngi 
vì là người trí dỏng đại đảm lẳm . 

Năm 1546, MạC'Phư<Vc-Hải qua đời, còn vua Lê- 
Nình mấy năm sau trị nước đặng hưởng thọ an 
nhàn tự tại, nhờ cỏ đậi tướng quân người quản 
thủ, thời cách ba năm, là 1549, ngưò-i cũng qui 
thiên nữa. 

M ẠC-PH ƯỚ C-NGƯ YÊN (1546— 1561).— Khi Mạc- 
Phưởc-Hải chết rồi, mấy dứa con ngưòi tranh nhau 



— 107 — 


mà quản' lấy co- nghiệp. Mạc-Phước-Nguyôn, trương 
nam, giành đặng quyền cả. 

Gòn phía nhà Lẻ, thời ỏng Huyên, hoàng tử vua 
Lê-Trang-Tòng, nhờ mấy kẻ trung với người tòn 
lèn lảm vua, là xưng Lê-Trung-Tông. Người trị quốc 
cũng như tiên nghiêm minh, vì có ông Trịnh-Kiềm, 
là người khéo lẻo cùng siêng năng, án can mọi 
việc không hỏ 

Hai bên lo chỉnh đốn việc minh lại. Họ Mạc sữa 
sang sự cai trị (vi choán đặng một phần đất lớn 
trong xứ); còn nhà Lê thi tái lập binh gia. Qua 
năm 1551, khởi sự nghịch lại. ông Trịnh-Kiẹm 
đam binh.loán đất Mạc và tấn cho tới vách thành 
Bông-Kinh (Hà-Nội). Thật thi người cỏ hồi binh, 
song người tiên chiến mạnh mẻ quá, nên ép quân 
nghịch phải ở an một ít lâu. Năm 1555, tới phiên 
họ Mạc xuất trận. Đạo binh dó có Mạc-Kỉnh-Bien, 
là chú Mạc-Phước-Hải, làm tướng quàn, ông Trịnh- 
Kiềm phân bủa sĩ tốt minh cách đắc thế lắm, nên 
đặng tóàn công thẳng trủn, có một ít quàn Mạc chạy 
khỏi mà thôi, trong mấy người đó kễ là Mạc-Rỉnh- 
Điền. 

Đó là một đều thèm sức cho nhà Lè, nên có nhiều 
kẽ một lòng tuôn đến. Song»ấu vương nầỵ không 
hưởng nhò- đặng sự mạnh thế như vậy; vì qua năm 
155(5, khi vừa 22 tuồi, người thọ bịnh mà bỏ 
mình. Truyện không biết còng việc vua nay thề 
nào mả chép ra, bỡi người theo cách tiên vương, lả 
tỉ như một cuộc dồ kia đễ ^chưng trong tuồn đánh 
giặc, mả họ Trịnh làm vai nhứt. • 

Vua Lê-Trung-Tông thăng hả, khôrig con kế hậu, 
nên. ông Lê-Duỵ-Ban, là chảu huyền tòn ông Lè- 
Lọi, lên nối trị, trong sử gọi Lê-Anh-Tông. Khi vựa 



-108 - 


lên ngôi, giặc giã khởi sự lại. Ban sơ hai bến cụng 
dồng' thắng bại nhiều trận, sau hết tướng Trịĩịh- 
Kiềm lấy lòng gan kéo binh xòng tới Hả-Nội, nên 
làm cho Mạc-Rình-Điễn, thất chí, phải liều mạng 
đánh phá thữ. Mạc-KỈnh-Điền mới xuống đem cả 
dạo chiến thuyền vào xàm lăng Thanh-Hỏa, ô* phía 
hậu Trịnh-Kiễm . Song tướng nầy mau lui binh trở 
lại, dảnh Mạc phải rứt về. Kế thấy hai bên giao 
công một lúc, phía nhà Lé gần thẳng đặng luôn, 
lại trong khi ấy thì Mạc-Phước-Nguỵên mằn phần 
(nấm 1561). Con là Mạc-Mậu-Hiệp lèn nối nghiệp. 


MẠC-MẬƯ-HỈỆP (1561 — 4592). — Trong đời tân 
trị này, thời giặc cũng tiếp dổnh iuỏn như trước, hai 
bèn thay phiên nhau khi thẳng, khi bại. Nhưng vậy, 
tướng Trịnh-Kiềm lại khởi sự dụng phương thế 
binh pháp mình. Người chiếm mồi khi một phần 
dấl, rồi qui liệu vững vàng, đề sau có hành binh 
lấy dỏ mà lảm chồ thế. 

Qua năm 1570, ông Trịnh-Kiễm mản lộc, khi ấy. 
ngưò-i dặng 68 tũồi, đề quyền cả lại cho con, là 
Trịnh-Cội, cấp lưu cho miêu dệ minh việc ủng hộ 
nhà vua là như vậy. Rủi thay, ông Trịnh-Cối không 
dạng thiên tư, tài ngỏ như tiên nghiêm; ăn ở lung 
lãng, dộc ác, làm cho ai nấy dều bất bình, nên binh 
gia mói dặt thân dệ người, lả Trinh-Tòng, lên làm 
tướng quản. 

Trịnb-Cối trả thủ, bỏ qua giặc mà tố trần vỏ-i Mạc 
các sự kin về việc phòng ngự. Bỏ-i đó, dề cho~Mặc- 
Kỉnh-Biền tới loán Thanh-Hóa ; song làm hết sức 
cung không hảm đặng thành An-Trường. Vầy đặng 
bốn tháng, rồi Mạc-Kỉnh-Điền phải rút binh về. Trịnh- 



— 109 — 

Tòng duồi theo, đánh Mạc thua luồn ba trẠn, nèn 
nhà Lè mỏi thật khởi hoàng trọn còng. 

Nhưng vậy lòng tham quan bảo mạng cáng ngày 
càng thêm, làm cho vua Lê-Anh-Tôĩĩg bỏ triều mã 
trốn. Trịnh-Tòng cho theo bẳt, song dọc đường lại 
dạy thi người đi. Người lảm vua mã sông như vậy, 
thời không có ích chi hết. 

Trong lúc vua Lê-Anh-Tòng trị vi, chúng ta thấy 
cỏ họ Nguyền (con chảụ òng Nguyền-Ccảm) chường 
diện. Mấy người đó đến sau làm chúa nước An-Nam 
cùng là tồ tièn nhà vương kim thửi. Khi trước òng 
Trịnh-Kiềm có cho em phu nho-n người, là òng 
Nguyền-Hoẳng, cai trị hai tỉnh Quảng-Nam vóà Thuận- 
Hóa, có lẻ làm như vậy dặng rảnh rang cho người; 
song ông Nguyễn-Hoầng không lưỡng lự chút chi, 
sang vào trấn nhàm chốn huyền viễn dó, ỉà noà 
. . người dánh' đuồi họ Mạc và biết cách làm cho nhơn 
dàn mau yêu mến người. 

Mấy cơn giặc giả bất tận nầy xem. ra phải ỉảin 
cho xứ tàn bại, mã nhưng vậy, không. Vi hằng 
nám có đấu chiến thi trong một mủamà thòi. Tlurờng 
thường là sau khi gặt hái rồi. Vậy, dàn dầu Lc lập 
nhà cữa trong rừng, còn dàn phục Mạc bù ỏ‘ Iùy, 
ngoài cỏ hào rộng và rào tre ngăn dở. Trong Tbanh- 
Hóa mấy năm tao động ban sơ, thời việc quốc chánh 
ra tồi bại hết sức, nhờ có quan trạng Phủng-Khẳc- 
Khoan chấn chỉnh mỏi an lại (năm 1572). 

Đứng nối trị cho vua Lẻ-Anh-Tòng, là Lè-Thế-Tòng, 
mới nèn bảy tuồi mà thôi. Trong 27 năm ngưòi 
hưởng quốc, thì giặc giã cử tiếp đảnh luỏn, hai 
dường may rủi cũng dồng. Song, lúc sau mới thấy 
phia Lè thảng được cách cháng chường. Năm 1592, 
Òng Tr4ụh-Tòng hảm lấy .đặng Hà-Nội, rồi dạy phá 


* 



- 110 - 

đi. Tường giỏi .của Mạc, lả Nguỵen-Quyện, sa vào 
tay ngưò-i bẳt. Nhưng vậy chúa Trịnh-Tòng không 
làm cho mình khắc thiệp toàn công, vỉ có khi quân 
lính đã bải hoải, không sức giúp được nữa, nên người 
thối binh về. 

Mạc-Mậu-Hiệp bỏ qua dịp tốt nầy, nên đề ít tháng 
sau cho ông Trịnh-Tòng quảy trở lại, đánh thua 
mà phải đào tị. Mạc-Mậu-Hiệp bèn nhượng quyền 
lại cho con là Tuyền, xưng hiệu Vỏ-An, rồi đi vô 
chùa ần nặc. Sau có kẻ điềm chỉ, bị chúng bắt đặng 
điệu về Hà-Nội, thì Trịnh-Tòng xử lăng trì. Còn chúa 
Mạc-Mậu-Hiệp không chống cự đặng chút nào, đến 
sau cũng bị sanh hoặch nữa. 

Dầu vậy, giặc giã cung chưa dứt tuyệt. Vi không 
phải hết thảy quan quàn khâm phục ông Tuyền, 
có một phe khác lại tôn Mạc-Kỉnh-Chỉ, là một người 
trong họ. Mà bcri binh Lê thẳng nhiều trận, làm cho 
phe ấy bị sát gần hết, còn Mạc-Kỉnh-Chỉ lại bị giết 
chết. Bọ Mạc ngưng đánh một ít lâu, nhượng chồ 
cho nhà Lê thong trị. 


NHÀ LÈ KHÔI PHỤC 

LÊ-THÉ-TÔNG (1573—1600).— ông Trịnh-Tòng 
mó-i dùng dịp lúc binh tịnh ấy đặng sữa lại' thảnh 
Ĩỉà-Nội và cất một cái đền mà dem vua v Lê-Thế-Tòng 
về (năm 1593). Vua ngự hồi dế kinh của tiền vương 
tồ tông người là như vẠy; song người ăn ở cũng 
như lúc trước, là ươn tài yếu trí, tại vị mà không 
dự một phần nào vào việc chánh sự, chẳng thấy 



111 — 


hài danh trong chuyện phòng- ngự gia quốc, lại 
cũng chẳng có sức mả hộ thủ nhà minh. 

Thuở ấy chủng ta thấy lại ôưg Nguỵễn-Hoẳng. 
Người cử ở hai tỉnh Quảng-Nam vã Thuận-Hóa 
mình, là chốn từ nầy về sau chúng ta gọi là Trung- 
Rỷ ( Cochinchine ) (4), nay người đã hồi tàm, cùng 
trở nên mạnh thế, lai kinh như một vỉ ai nấy phải 
kiêng nễ. Bao iàu nhà Lê vó-ị họ Mạc còn tranh 


(1) V'ẻ gốc tích tiếng Cochinchine, thòi thấy mấy ngưỏi 
làm sách phản giải nó khác xa nhau lắm. 

Theo lòi ông đạc đức Le Grand de lu Liraye (kẽ trong sách 
L' Empire d' Annam V. V. của ỏng J. Silvestre in ra, và có 
chú giải) thi nói rằng tiếng nay « bỏ-i người portugais dõi 
thứ rnưòà bậy dặt ra, vì muốn cho tại bải biền ấy cỏ một xứ 
Cochỉn de Chine (nghĩa là xứ Cochin phía Trung -Quốc), 
như mình dã có một xứ Cochin de Vlnde (xú Cochin phía 
Thièn-Trưóc) vậy ». 

Lơi năm 1552, ông Joao de Barros dùng tên Cauchy-China 
mà kèu,ngưòi nói: « Khi dòi chơn ra khỏi xứ Cambodge (Cao- 
Ma.n), thì ngưò-i tu vào trong một nưóc kia kêu là Cumpa 

(Chièm-Ba) nó liên cương vói vưomg quốc ta gọi lả Cau- 

chy-China - . . . . ĩ> Một ít nảm sau, ỏng Camoens lại viết ra 
càu nầy trong sách thơ Lusiades ngưòá (phần hát thứ hai): 
« Xem thấy bải biền xứ gọi lả Champa (Chièm-Bai xa lăm 
tăm bất tận, rừng rú mọc dây cày thơm rất nèn xinh lịch ; 
xem thấy xứ Cauchichina mói vừa biết, lại vỏi vịnh .4ỉ/ỉao 

(Hải-Nam) chưa ai hề rỏ chút nào » 

Năm 1700, ông Joao Viọira giải căn nguo-n tên Cochinchine 
như vầy : « Khi người portugais nghe kèu tẻn triều nưóc ấy 
là Kecho (Kẻ-Chọ), lại thấy tưọ-ng mạo nhơn dản bồn địa 
giống tọ- ngưòi tâu, thì lấy tên Kecho và tên China mà kêu 
sải một ít dặng làm ra tèn và tiếng Cochinchinois.)) . 

ồng Luro nói cách thuyết lý của ÔDg đạc đức Le Grand 
de la Liraye không dưọ-c toại chí cho lắm. Ngưòi lại thèm 
' rằng: «Xem ra phải lẻ hơn mà dính gốc tích tiếng nầy bởi 
chi nho mà ra, vì có khi lúc trưức có một tẻn hoa tiêu quảng- 



- m - 


vương, thỉ ông Nguyễn-Hoằng ngoan ngủy khồng dự 
tới nay người lại phủ trọ- phe mạnh hơn mả thỏi; 

Ong Nguyễn-Hoẳng lâm trảo, bái vết vả dâng 
phan du nạp 'mỉnh cho vua Lè-Thế-Tòng, người 
co đem ve một đạo binh nhỏ, nói đề giúp vua 
đặng sát hủy Vày kiến họ Mạc. Chẳng khoi bao lâủ 
vua bèn thử lòng tốt người. 

ỈIọ Mạc thi tôn MạoKỉnh-Cung, con Mạc-Kỉnh- 
Biền, lèn làm vua trong năm 1593, cách một ít làu 
dem nhau trỏ- lại khiêu chiến nữa. Nhà Lê đảnh trả 


đdug náo đó dùng nó mà chỉ ra cho mấy người phương Tày : 
Co Cheng Ching nghĩa ià cựu Chỉêm-Ba. Bơi vì Cheng 
Ching (ngưòi an-nam kéu Jà chiêm thảnh ) thi thường hay 
dùng trong tiếng quàng-đòng mả gọi xứ Chiém-Ba »' 

Ong dạc dức Launay kề lại lòi ỏng Luro, song dồi như vầy: 

'l òn Cociiinchine bải tiếng Chen-Chin là lieng người tau 
dùng nũt gọi xử Chiêm-Ba, dến sau .chắc có khi mấy 
Iigiròi tà ụ dó lấy tiếng Cao rút trong Cao-Tchi ( Giao~Chị ) 
ma dạt trước tín ấy. Ban đầu ngưòi phưong Tây kêu Cao- 
Ohcii-Chin, sau sửa lại là Cochinchine. 

C.ÚC cách ông Luro vói ông Launay sát nghiệm đó không 
dipig phát minh cho lắm, vi lẻ nầy, là bởi bây đặt nỏ ra cùng 
5,111 'dtc nhiều, vả lại xem ra ngưòi portugais biết 'xử Chiêm- 
Ỉ5a (Campa, Champa) với xử Cochinchine (Cauchy-China) cũng 
nmng một thuở. Nhưng vây, cách thích nghĩa của ông Luro 
hữu ly hon hết, nhứt là khi đọc mấy ctèu dần giầi sau nầy theo 
ùng Trưong-Minh-Ký. 

CỒ Chièm-Thảnh, mà trúng hon là cô Chìém-Thành, 
n ghĩa là xứ Chiêm-Ba xưa cũng lả dàn xứ Chiêm-Ba xưa. 

■ịy y^y> |heo tiếng người bẳc-kinh kêu Chiêm ‘Thánh, là 
Tchin-Sheng, còn theo tiếng người quảng-dông, là Tchừm- 
Shềng, vậy như nối nó vời tiếng cô, thời dọc ra nghe dong 
rùng bường tượng tèn Cochinchine vậy (vì SA dọc như CA 
langsa). Còn nghĩa cồ Chìêm-Thành, thì chắc cỏ lẽ nghe ' 
dược hon. 



vàì trận mà khòng xong, mới sai òng Nguyễn-Hoầng 
ra cự. iNgưòả phá tan đặng giặc. 

Năm 1596, họ Mạc trở lại giao chiến nữa. Tụớng 
Phan-Ngạn đánh đuối đặng, sau nhờ dùng kế bắt 
đưọ-c Mạc-Kỉnh-Cung và cả gia quyết người. Tử 
đó iMạc rút v'ê mấy tỉnh núi non Thái-Nguyèn với 
Cao-Bằng. Gòn vua Lè-Thể-Tông, mả nói chính iv 
hơn lả ông Trịnh-Tòng, mới sữa sang lại đặng trong 
nước. Việc lo trước hết, lả sai sứ qua cầu phong 
với đửc hoàng đế Trung-Quốc. Chuyện dó khó xin 
một chút, là vi họ Mạc dưng nhiều của qui báu mà 
hối lộ, lại có thế thần tại triều Bắc. Lo lót đẫ nhiều 
phen, song phải đựi hoảng đế phàn tính. Khi trưỏ-c 
Mạc-KTnh-Cung trú ngụ tại Tàu, nay dam binh qua 
tỉnh Thái-Nguyèn mà đến đánh nưó-c An-Nam, mà 
bởi thua di nén phải trở về chốn củ. 

Sau hết, đức hoàng dế mới nhứt quyết phong 
vương cho vua Lè-Thế-Tòng, song ban phép cho 
họ Mạc quản lấy tính Cao-Bẳng với Thái-Nguyèn. 
bó là gốc sanh giặc giả cho ngày sau. 

 Ong Trịnh-Tòng cũng không quèn phận minh, bắt 
người ta tôn mình là Bình-An-Vương, vả lèn ngôi 
chúa dặng phép truyền tử lưu tôn; òng ấy ăn ỏ- 
lộng quyền quá thề, càng coi vua không ra gi hon 
khi trước bội phần. 

Năm 1600, vua Lê-Thế-Tồng băng, đề ngòi lại 
cho con thứ người, là ông hoàng Lê-Duy-Tủn, trong 
sử gọi là vua Lê-Klnh-Tông. 


LÊ-KỈNH-TỎNG (1600 — 1619). — Bày chúng ta tới 
một chuyện dại khái nơi sử nước Đại-Nam, không 
— 'phải nói về sự tấn thối trong việc mở mang con 



dân an-nam, song bởi vi nở đem cuộc lưân lưu 
vào máy quốc chánh. Phong íập ngôi chúa được 
phép lựu hậu, ấy là vi quyền thần chế trị -trong 
nưửc, còn vua thời có tiếng cai quản mà thồi. Song 
ví như một đàng phải ép mình trị vỉ cách bằng 
tịnh, vô tư vố lự, như nơi áng diền hí, thì đảng 
nọ lại chiếm quyền qui chế trong nước, dường 
bẳng các hoàng thượng vậy: là hoành hành bạo 
ngưọ-c, hay ganh ghẻ kẻ khác, muốn cho mình toàn 
quyền mà thòi. 

Trước hết, ngưòi ta tưởng đặng rẳng, lập ra 
vi chúa là một việc dề đối với sự bất tài các vua 
Lê. Dầu vậy có lẻ cho chứng ta không tin sự ấy, bởi 
chưng sử kí chiếu tỏ cho chúng ta thấy một ít 'xứ 
khác cũng vậy ; song, phân biệt rỏ ràng, vì là khi 
nào cách ăn ở nhon dân chịu như vậy mà thôi. 
At cỏ lẽ tánh yếu đuối nhả vương là một đều làm 
cho quyết định sự đỏ, song nỏ không phẳi là chánh 
cớ. Trong các nhon hội nào mà trên là vua, dưới 
thi dần mà thôi, không có bựe nào xen vào binh 
chế, thi khuôn tuồng việc chánh sự cử như vầy 
lưòn: vua thì toàn quvền, còn nhơn dàn ai nấy đều 
đồng như nhau. Như chủ quốc là một ngưòi tài 
trí, thời nước nhà đặng thăng bình; băng chẳng 
quờn cả hiện hửu xảy thoát đi mà ve tay kẻ khác 
lực lưựng hơn, hay là vào một hội nghị nào, rồi 
hội đó cũng mau bị một vị trong chư nghị sự làm 
đầu quản xuất. Bởi đó, mới sanh ra mấy quan quyền 
thần ( maỉres du palais, grands uizirs ), nội các, 
mấy vị nầỵ đo thẻo lúc, theo tài tinh vua mả tự 
lệnh hoặc là thi hành chư sự ; họ cung tủy theo 
dip cúng phạn lợi riêng minh mả phản nghịch và.. 



— m - 

Ihí vua nữa, song khòng canh cải chút chi trong sự 
qui chế việc trị lý, chẳng bày ra cách nào cho dề 
mở mang bề ăn ở nhơn đàn. 

Tại nước An-Nam thế sự quốc chánh càng lăng 

xăng líu xiu hơn nữa. Các chúa Trịnh gặp nơi họ 
Nguyên ỉả ngưòù cũng dồng tranh trưởng, vi lấy tên 
vua mả cai trị mẩy tĩnh minh, uỉri dó hóa ra sư 
ganh gồ, thù nghịch, làm cho dến sau phản ly nhau, 
họ Trịnh trị Bẳc-Kỷ, còn họ Nguyễn quẫn lấy 
Trung-Kỷ. Khi phải một chúa, bảy giừ có hai. Khi 
phải binh an trong nước, lúc ấy sanh sự tương 
đấu trọn hai dời nơi các chúa Bắc-Kỷ với Trung-Kỷ. 

Còn vua nhà Lê thỉ lại chứng kiến mấỵ ỉúc tranh 
cưò-ng gớm ghê như vậy, khòng sức can gián, chẳng 
ai tưởng tới người, phải chịu tiếng thống quản cả 
nước An-Nam, mà không trị đặng một châu nào hết. 

Ồng Nguyễn-Hoằng mản phần (năm 1614), nhằm 
(lời vua LèrKỉnh-Tỏng. Người lưu việc nhà nước 
Trung-Kỳ cho thán tử ngưòl là Nguyễn- Phước- 
Nguyèn, song trong sữ thường gọi là Sải-Vương 
hon. Trước khi thệ thế, người thấy đặng mưu chưó’c 
người đưọ*c việc thề nảo, lả đều người phải ẻp minh 
mà lập ra mà trở về Huế, lìa cho khỏi triều chúa 
Trịnh, là nơi ngưòú chịu cũng dưòng bằng bị giam 
cầm vạy. Có người đốc suất, nèn hai tướng giỏi 
hơn hết của ông Trinh-Tòng mó-i trở nghịch, qua 
giao hiếu với Mạc. Tiên chiến hai tướng nầy thẳng, 
song rủi, họ dùng dịp như vậy mà nhương vị 
nhau; nên sau chúa Trịnh-Tòng đem dại binh quảy 
trở lại, đánh tan di hết. 

Lúc ấy lòng vua Lẻ-Kỉnh-Tòng bắt sốt sầng, mạnh 
dạn lại một chút, người tỉnh lo phá ách kẻ bào 



chủ lự kièu minh. Vi vậy/ khi chúa Trịnh-Tòng 
vừa trỗ* về kinh địa, thi phải ngưòi ta rẳp.toan 
hại chết. Những người chảnh phạm bị bẳt, khai 
rằng chuyện ' đó là tại vua vỏ*i con thử òng Trịnh- 
Tỏng àm mưu lảm dầu mối việc. Chúa Trịnh dạv 
giảo huyết vua Lè-KỈnh-Tòng và bât hạ ngục con 
minh mà báo thù, lạỉ tôn hoàng dệ vua Lê-Rỉnh- 
Tông lên ngôi cữu ngủ. 


LÈ- THẦN- TỒNG (1619 —1643). — Trong sử 
Bại-Nam gọi vua mới nầy là Lê-Than-Tòng. Truyện 
llìừi nói gần cỏ bấy nhiêu đó mà thòi. Còn việc 
mấy chúa, thì không phải như vậy đâu. 

Chúa Trịnh-Tòng biết giò' sau hết gần tới, nén 
phân quỏn mình cho hai thân tử, là Trịnh-Trang 
với Trịnh-Thung, cũng là (lửa con trơớc muôn 
hại mạng người. Sự chia quyền như vẠy là dấu 
hiộtt dấy loạn. Hai anh em tranh chiến với nhau. 
Anh cả, em thứ ba với chú trỏ' ỉạì chống củng 
Trịnh-Trang, nhưng vạy ông nầy cũng thẳng được 
mấy người ấy. Song, trong lúc đánh nhau như 
vạy, cựu chúa Bẳc-Kỷ khi trước anh hùng oai 
bấm, nay phải mấy đứa con lãm giặc dem người 
di, rồi trỏ* lòng phản, bỏ người, cho đến dồi mấy 
kẻ khièn củng vậy, người sanh thi nơi quang lộ 
(năm 1620) gần Xả-Kiều, tại đường tĩnh Bẳc-Ninh 
mà xuống Hải-Dương. 

Chúa Trịnh-Trang noi theo tiên nghiêm, ghen ghét 
ho Nguyền. Người, muốn làm cho đầu phục mình. 
BÌều ỏng Nguyền-Phưởc-Nguyên cống' thuế một ít 
phen mà òng ấy khồng tuàn cứ, thì chúa Trịnh - 
Trang sai binh vào tiếp cửu mấy anh em chúa 




Nguyền đung dạy giặc. Song mấy kẻ loạn thần bị sát 
diệt trước đã rồi, nôn quàn lính Trịnh tới sau phải 
kíp lui trỡ lại. 

'Năm 1626, có sai binh vào đảnh họ Nguyền nữa, 
mà củng không xong. Hết chuyện chúa Nguyền, tó*i 
phiên họ Mạc đến giao tuy với chúa Trịnh-Trang tại. 
Lang-Sơn, sau bị phá tan, và một ít tướng bị trãm 
quyết (1628). Sự thẳng trận chót đày, tuy không lảm 
dứt giặc vợi Mạc, nhưng mà từ dó về sau nó chẳng 
cho Mạc đánh trận nào cho tận lực, lại cách một ít 
lủu,họấỵ dứt tuyệt sự liều thàn tim lợi khốn kiễpmình. 

Năm 1635, ông Nguyền-Phước-Nguyên yến giá, dề 
sự qưãn trị lại cho con là Nguyền-Phước-Lan. Song 
có một vị vương trong hàng huynh dệ không khám 
phục quờn người. Vị vương ấy thất trận bị bắt, sau 
hoàng thúc chúa Nguyễn dạy xữ tử đi. 

Năm 1642, vua Lê-Thần-Tòng nhưòmg ngòi lai cho 
thế Lữ Lệ-Duy-Hựu, ông nầỵ xưng là Lè-Chơn-Tòng. 

Trong dời vua Lè-Thần-Tòng, thì có người phương 
Tày dến nước An-Nam trước hết, lớp qua giang dạo, 
lớp tới buòn bán (I). Vậv, ta xin kễ một ít lời. 

Năm nào mà mấy thầy cã giãng dạo Thiên-Chúa 
qua nước An-Nam lần dầu hết thì không đính chác 
đặng cho lắm. Lối 1550, có ông đạc đức Gaspard de 


(1) Có một ít ngxròi phưong Tảy đến xem dịa cẳnỉi mrỏr. 
An-Nam trưóc đã làu. ỏng Fernao Perez de Andrade, là ngirừi 
portugais vượt biền tói mrỏc An-Nam trưóc hết (nám 1516). 
Kế có òng Fernand Mindez Pinto (năm 1540) di dài theo bãi biền 
Tam-Kỳ (từ hòn Côn-ÌVôn cho tói cù-Iao Hải-iVanì). Ngưửi cỏ nói 
chuyện xứ r$iampa với xử Cô-Tchen-ĩching . trong sách truyện 
người làm, song không kè chút nào về phân đất ĩr phía trong 
vịnh Bắc-Kỳ; chắc có khi ông Pinto khỏng di vò trong vịnh ấy. 



la Groix, thuộc nhà dòng dominicain nước Portugál, 
qua nước Cao-Man ( Càmbodge ) (!) Mà biết ông nầy 
cỏ dến nước An-Nam như kẻ làm truyện người 
tưỡng chăng ? Ta ngở lá không. Sau òng ấy, thỉ cỏ 
một it ông linh mục khác thuộc mấy nhả dòng 
portugaìs sang qua nước Cao-Man. tìoạn cỏ mấy thây 
cã nhà dòng dominicain nước Espagne ; sóng nói 
cho tới ông đạc đửc dển truyền đạo trong nước 
An-Nam trước hết, thì phải qua cho tới năm 1596, 
lúc ấy cỏ ông linh mục Diẻgo Adverte ở tại tỉnh 
Manille mà qua Huế. Cách người giáo đạo thuở ấy 
thời đặng sự trông cậy khả lắm, rủi một ít dàu sau 
có một chiếc tàu espagnol kia chở đầy linh tới đàu 
đỏ, nên làm cho dồi dòá lương tánh chúa Nguyễn- 
Hoằng. Chúa Nguyễn sai binh gia đánh đuồi người 
espagnol ra khỏi xứ. Còn ông đạc đức Adverte, khi 
người dến.cứu giúp mấy kẻ thương tích nơi chiên 

(1) Trương thứ 37, ta có nói rằng người portugais lập ra 
tiếng Cambodge, sự đó không trúng cho lắm, bõi vì liếng â’y 
có trưức đã lảu, dến sau mấy ngưòi portugais mỏi qua nưỏ-c 
Cao-Man, nên họ cỏ kêu sữa nó lại một il mà thôi. 

Theo tho- ông Son-Điếp gỏi mà ta mói đăng đây, thì người 
nói như vậy: tên Cambodge kèutheo tiếngpảli là Campoụch, 
hay là Campoúchéa, lại nghĩa nó là bỡi nước mủ sinh ra, 
bởi nước mà trôi lên ; theo tiếng malayu gọi là Camboậịa, 
còn theo tiếng xiêm lại là Camphoxa. Truyện cỏ chỉ -địnỉi căn 
nguyên tiếng ây, lại có dần tích rằng : thuở xưa, vua trước hêt 
cua dàn Khâm, cũng kèu là Khỏmra,hoặc Khmêr (dàng thồ), tên 
là Preăs-Thông, ban so- người dến lập sự nghiệp tại một cái 
cồn kia mfri bồi, dọi diện vói dền các vua chàm cất dưới chon 
núi Pnỏm-Dâng-.Ret. Bến sau vua ấy đánh đu’ôi ngưối chàm, 
mỏ-i lập ra nưó-c mình, song nguyên cựu ỏ- no-i tieu châu mà ra, 
sau dặt lén nước là Campoúchèa. 



tràng, thi cũug bl bẳn hai mủi tẻn, song khòng hại 
chi cho lắm. 

Năm 1616, có ông dạc đức Franọois Buz.oni thuộc 
dòng Bức Chứa Giẻ-Giu với bốn ông khác nữa đến tại 
Cửa-Hản. Song cách tám năm sau, thi ông linh mục 
Alexandre de Rhodes (1) móù sang qua Trung-Kỳ 
(1624), thầy cả nầy giảng đạo trưó-c hết tại Bắc- 
Kỷ, là nơi người "đến nhằm năm 1627. Sự tấn 
phảt đã quả trí người trông ước, vi vừa tỏá năm 
1689, thì đẫ kề dặng tại nước An-Nam có 82.000 
ngưỏú vô đạo. 

Song, thương ôi! Sự được việc rở rở nầy khòng 
— -tiếp nối đặng, vi đường dằn các ông đạc đức di, thì 
chẳng khỏi bao làu nỏ củng dẳc mấy kẻ thương 
mãi nữa, tại các người ấy gầy trở bởi khác nước, 
hoặc khác dạo, hay là bởi bồn tính minh độc ác, 
nền làm cho hoại sự. Củng phải nói rằng, việc thấy 
trước bề ăn ở nhơn dàn ngày sau đồi dời tan tác, 
vi đạo mới mà ra, sợ biền binh Tây phương toạ 
cư trong xứ, thời nó làm cho các người hành chánh 
nước Đại;Nam phải xét suy lo lẳng lẳm. Vây chúng 
ta thấy sau đày các vi ấy dựng phương thế nào mả 
phòng ngự. 

Nâm 1626, cỏ một chiếc thương bạc portugais kia 
tại hải khằu Macao mà sang qua Bắc-Kỳ. Vua rước 

. (1) <1 Ông đạc đức Alexandre de Rhođes là ngưòi langsa. 
Nguyên sinh tại thành Avignon, năm 1591, người vào hội Bức 
Chúa Giẻ-Giu thuở còn thanh niên, sau xin các thầy cai hội sai 
ngưòi di giáo đạo. Người khcri sự giảng đạo tại.cữa Macạo, năm 
1619, đoạn di khắp Trung-Kỳ và Bắc-Kỳ cho tói năm 1656, 
lại co. in ra imộtbản d'ô nưó-c An-Nam (1650). Sau, người có về 
Đại-Pháp qụổc, rồi cách một ít năm ngưò-i trồ- lại phưo-ng Đông, 
ỏng Ălexandre de Rhodes qua đỏi tại nưó-c Perse, năm 1660. 



mấy người tân đảo đó cách tữ lế lẳm ; mả khi hay 
họ gởi một bửc tho* vào Trung-Kỳ, thì vua sinh lòng 
nghi, mới làm nhiều đều gay trở, lại thêm có người 
hoìlandais — lúc ấy đang thủ nghịch ngoài biễn 
với người portụgais — nên mấy người nầy phải bỏ 
mà ra khỏi xử. 

Sau cỏ người ỉangsa, anglais dến lập phố phường 
buồn bán tại Hưng- Yên, rồi củng có lẻn tại Hà-Nội 
nữa. Song mấỵ tay đó cung vậy, vi chẳng khỏi bao 
ìáu phải dẹp chuyện thương mải đi. 

Người hollandais thời làm được việc khá hơn. Lối 
năm 1637, họ giao mại với Bác-Kỷ. Bỡrhiễi^rỏ hơn 
mấy kẻ trưcrc, nên buôn may báh dác lẳm 
buôn lập -tại Phố-IIiến gần tĩnh thảnh Hưng-Yên, 
nơi ngã ba sòng Nhĩ-Hà phía tảỵ ; họ thường hay 
mua tơ, gạo, bạch-đầu-khấu đặng chố* qua c ữsr' 
Batavia hoặc nước Nhựt-Bốn mà bán. Họ đỗi súng 
dại bác, súng tay, dạn, muối đỉêm, fìĩ v. v; 

Cách chúa Trịnh-Trang ăn ơ hậu tình vóú dân 
hollandais như vậy, chẳng phải là người không có 
ỷ lo hậu hữu ích cho minh. Người lính đễ sau cầu 
viện binh holìandais mà dánh Nguyễn, song x luống 
côn*g cho người. 


(1) Các đều chỉ vẻ về chuyện mải mại bỡi dân nhựt-bồn tỏ 
bày, vì ngưòũ hollandais có buôn bán vó-i dân đó, vả lại tnrỏ-c 
ngưòi nhựt-bSn cũng có thưong mải vóú con nhà an-nam dã làu. 

<' Những ngưòù nhựt-bồn làm sách ló-p tiền nhựt, khi thuật 
truyện dất Bông-Dưo-ng, thì dần việc giao thông mình vứi xứ 
uy kề tử lớp thượng niên. Theo sách Ko-Kou-Sen-Kuĩca- 
Kagarnỉ (nghỉa là kinh đe chiếu các thứ tiền xưa trong nưỏ-c 
Tàu và Nhựt-Bồn), thì nói rằng, kề từ năm 1431, hưỡc Nhựb 
Bồn đả thù tạc với xử Đông-Dương.»(Sách L ’ Empire d.' Ảnnam 
V. V. có ông Sylvestrẽ chú giải). 



— n — 


Nám 1663, nhom bổi tỉnh toán không xuôi với 
nhà nườc Àn-Nam, nên mấy hãng buôn hollandais 
phải triệt hạ. Qua 1665, cỏ lâp : nó lại mà bán cho 
tới năm 1700, là lúc chúa Trịnh ăn ở gắt gao với 
các chủ hãng, đặng họ đi cho mình rảnh việc. Vã 
chăng, những người buôn bản' dó thấy không lời 
lãi nữa, thi trở về hải khầu Batavia. 


LÊ-CHƠN-TỔNG (1643 — 1648). — Lúc vua n,*ỵ 
•••; . mới trị, thi bên Tàu cỏ một vi quan lớn kia hạ nhả 
Minh mả soán ngòi. Đức hoàng đế trù trướng, thất 
■V- chí, giết con cải mình, sau người vứi bả chánh phi 

' r ' đều -tự vận. Trước có cho viện binh kim-mống- 

' "co, quân ấy mau dến cứu giúp, mà khi diệt dăng 
ke thiện quừn, thi lại giữ lấy ngai cho mình. 
Vua Thuận-Trktức vị hoàng dế nhà Thanh trước 
hèt nhằm năm 1644, là nhá thông trị Trung-Quốc 
cho tỏ-i bày giừ. 

Còn quan quàn nhà Minh đem nhau xuống phía 
Nam, ỏv dỏ cũng còn nhiều năm mới tản lạc. 

Vua Lê-Chơn-Tỏng không chịu tin rẳng người 
lùm chiếm đặng vị thiên tử, nên gởi sứ qua Minh, 
thỉ tự nhiên nhà Minh tỏ mình ra dễ lắm. Lại 
nhả Minh có sai sứ dam toàn sảc An-Nam quõc 
•ẪL ■ uươn 9 qua phong cho đức thái thượng hoàng. 

Trong đời vua Lê-Chom-Tông tỊoản tri, tại xứ 
si. có v ^ c T uan trọng mả thôi, là sự tấn binh 
|f§^ đi đánh nhả Nguyễn. Bên Trịnh tiên ciiiến, song 

| fer: (năm 1647). Cũng ịróĩỊg nỗm đó chúa 

'ỆẹỂẰ ' thảng bà, ỈÚQ sạnh tiền người 

binh ngưò-i Cạẹh mạnh mẽ lắm, 

' 9 

ĩ ■/* '1 » 





- 122 — . ;.ị ■ 

khai quãng phần -đất người qua phía Nam, lảm 
cho dễ thương - mãi với người Tày phương tại 
mấy tĩnh người;- Trong sử có nói cửa biền cho 
phép tới lui -buôn bán là Fài-Fo (nghĩa là Gữa- 
Hàn hay là Tourane) 0). 

ông đạc đức De Rhodes lại kề rằng, lúc đỏ có 
nốrn tĩnh phục quỡn chúa Ngúyễn là : Quãng-Binh 
hay là Thuận-Hóa, Quãng-Nam, Quãng-Ngãi, Quãng- 
Đức với Quãng-Trị (2). 

Vua Lè-Chơn-Tòng thăng hà thuở đặng hai mươi 
tuồi, người không con tiếp .trị (năm 1648). 





(1) Tên Faĩ-Fo có lẻ dịch ra dặng là Hảỉ-Phổ. Khi xem 

chuyện nầy, la hãy V chỉ rằng: cữa Tourane ngưcri tàu dặt têu 

là Hội- An, một dôi phen cung kéu Hội-An-Phổ ; ngưò-i an- 

nam gọi Cữa-Hàn, còn ngưòí chàm lại kêu lù -Đá-Nẳn. 

• 

(2) Trưóc hết cảc chúa Nguyễn soán xử cồ Chiêm-Ba, rồi . 
phân làm năm tỉnh, gọi là Ngĩi-Quảiig, ta có kề tên trưóc 
đày ; kinh dô tọa lạc tại tỉnh Quảng-Bức. Đến sau, khi mỏ- nựỏ-c 
lấn qua hướng Nam, thòi lại lập thêm bốn tỉnh nữa, là Bình- 
ĐỊnh, Phú-Yên, Khánh-Hòa và Binh-Thuận. 



KHOAN THỨ Hỉ 


3ST-^3^--KÌT 

Nhà Lê khối phục (tiếp theo). — Tày-Son 
dấy loạn. — Nhà Nguyễn. 


NHÀ LÊ KHÔI PHỤC ( tiẽp theo) 

Từ trương n'ây sẳp vê sau, ta xỉn kề ra mấy niên hiệu theo 
sách Synchronỉsmes chinois của ông đạc đức Mathias 
Tchang, s. J, (in tại Thưọng-Hải năm 1905) mả ta mới 
dặngđảy. SỐ năm dè kế theo quốc hiệu liền, thi lả năm.thứ 
nhứt trong đời vua. Như ngưốả lẻn ngỏi nhằm nâm tnrố-c, 
thi ta đề sau số năm mấy chữ n còn tháng trong năm ấy 
chữ t. có SỐ . tiếp theo. 

LÊ-THÃN-T ÔN G (lần thử hai, 1649, t. 8 — 1662).— 
Đó là vua cha lèn ngai lại. Mà đầu cha hay là con 
' cũng không trọng chi, vỉ quyền phép ở noi họ 
Trịnh với họ Nguyễn. Phía Nguyễn, có chúa Nguyễn- 
Phưỏ-C-Tần (xưng lả Hiền-Vưomg) nối trị cho 
Nguyễri-Phưổ-C-Lan, lặi ví như bấy làu các chúa cỏi 
Nam đễ cho bịnh Trịnh tiên chiến dặng dánh trã, 
V .. đuồỊ đi mà thôi, thỏ-i bây giờ .tới phièn mình lại 
'ĩị 'đến xàm-Ịăng xử Bẳc. Tỉnh Nghệ-An là nơi chúa 
Nguyễn đảnh trưỏ-c hết. Vậy khi thắng được quàn 
Ị^§Ệ-'J nghịch 'tại núi Hoảnh-Sơn, thì người' hẳm. ỉấy dồn 

. 

7/;.’ “V. * : y 




■ — ù — 

• . ’ ’ .;ịặị; 

Hả-Trưng. Lẻ-Văn-Hiều, là một ngưỏi đại đấm c6 thồ -ỆỊ: 
đồn ấy, chạy ra khỏi dặng vửi một íl tốp binh tàn. ẶÍỆ 
Dầu người bị thương nặng nơi.chơn, người cũrig ■'Ịị . 
rán họp binh- lại được mả đắp lũy vững chẳc lắm 
tại lảng Đại-Nại, tinh ugăn binh Nguyễn. Vi vậy, chúa 
Nguyễn khòng chắc hãm dược nó, nèn dụng một kế 
kia rất hèn. Là gửi thơ cho chúa Trịnh-Trang, 
cảo rảng tướng ấy ỉảm cớ cho sanh giặc như 
vậy, đã khòng gan, lại trở phãn, vi nói ông Lê-Ỵăn- 
Hiều có xin qua giúp Nguyễn. . ; 

Chước thô kệch nầylàmnèn việc. Chúa Trịnh dạy 
bẳt tướng Lê-Văn-Hiều, mả bởi bề ngoài chịu đau 
dởn vì thương tích, còn bề trong ưu sầu vi sự gian cáo 
tu ố, nên giục người tìm nơi tàng tị là lự vân đi. Người 
uống thuốc độc mà chết trước khỉ về tới kinh kỳ. 

Tỉnh Nghộ-An vừa tán chiếm, thỉ thấy cỏ lập 
thèm đồn luy mà phòng thủ, sữa sang lại củng cai 
trị nỏ cúng như mấy xứ 'dã phục Nguyên. Song, 
chúa Trịnh-Trang chẳng dề lâm như vậy làu ngày 
dảu. Vỉ qua năm 1654, người cỏ sai 20.000- binh 
với năm mươi chiếc thuyền vảo có ỷ đánh lấy lại 
Cầu-Dịnh (Hả-Trung). Chẳng khỏi bao làu đậo binh 
ấy phái bại tích. Trịnh-Triều, quí tử chúa Trịnh- 
Trang, ra làm thống lãnh phát binh đảnh iại, mà 
ngưò-i cung không có phước hơn mấy tướng trước.. .. 

Cỏ một lúc kia, ồng Trịnh-Triẹu muốn qua nhập với 
Nguyền, song thấy quấn nghịch ơ hờ; nên dùng 
dịp ấy mà đánh thẳng lại nơi chơn dồn Ôại-Nại, 
nhờ có binh dồn ứng tiếp. 

Sự khởi hoàng nầv không dược bao láu Vi quan • 
tướng Nguyễn-Hữu-Tấn, thổng quản các đạo binh 



coi Xam, lần hồi bọc hậu đặng Trịnh-Triều, nẻn 
ông nầy phải bị hủy lan. 

Binh khí thẳng như vậy mặc lòng, Nguyễn cũng 
lưởng hữu ích mà dụng vàng bạc quyến dụ một 
ỉ t tưỏ-ng Trịnh .nữa. Nguyễn đang sẳm sữa tính chiếm 
lân tới, vừa đáu thấy chúa Trịnh-Trang từ trần 
(năm 1645), đề quyền lại cho con là 'Trịnh-Thạc. 
Chứa Hỉền-Vương bèn rút binh về, có khi người 
muốn làm như vậy dặng phân phô sự minh trung 
tàm với Lẻ, hoặc người mỏi mệt về vụ giặc giã, 
hay là cỏ ỷ riêng chi. Dầu cách nào, thì cũng cỏ 
một địp tốt nầy mả thôi mà người đề sẫy, không 
dùng đặng làm cho tất giặc với Trịnh. Sau chúa 
Trịnh cho người thấy sự ấy, vỉ vửa lai niên Trịnh 
” khởi sự đánh lại nưa, dã không núng Nguyễn mà 
lại bị mất thành An-Trường nửa. 

Phần lớn trong tỉnh Nghệ-An về tay Nguyễn, mà . 
hại thay, khi phải chế trị cho có mực, cho khôn 
ngoan, Nguyễn lại ra thuế nặng hơn lúc họ Trịnh. 
Dàn sự bỏ Nguyễn mả di, nên Trịnh mó*i dùng thế sự 
tâm tánh nhơn dàn như vậy, lại cũng nhằm lúc các 
tựớng Nguyễn đang tranh trưởng yới nhau nữa, mà 
trở vào khiêu chiến. Nguyễn bị lấn dồn về cho tới 
Thuận-Hỏa. Trận sau hết đấu tại Hoành-Sơn ben 
Nguyễn thắng, mà bối có khi binh gia dã yếu sức 
rồi, nên Nguyễn bỏ mấy chề chiếm tại Nghệ-An 
mả lui về (năm 1660). 

Qua 1661, Trịnh-Thạc phát binh đến đánh, vây 
dặng dại binh Nguyễn trú tại dồn Phườc-Lộc. Mà khi 
vày dặngmấy tháng, chỉn nhọc nhằng, không ích chi, 
thi binh đồn lại ra nghinh chiến trí mạng quá, lảm 
cho Trịnh-Thạc nhứt quyết phục hồi. Sau trận giặc 



— 126 - . 

nầy, chúa Nguyễn mới trúyền xây một đại tường tư 
Trấn-Ninh xuống tóủ biền dề ngăn đirờng đó, vi cỏ 
một mình nó là chỗ đi quanơidịa dầu mà thôi ( 1 ). 

Bèn Tàu, khi nhả Thanh ơ ngỏỉ dặng vững vảng, 
thì vua Lê-Thần-Tỏng lại theo một phe. Người 
sai bộ sử qua Bdc-Kinh, còn thân thuộc nhà Minh 
cht tồn thời bi bẳt nạp lại cho quan Thanh. 

Cách một ít làu vua Lê-Thần-Tông thăng hả, năm 
1662, tháng 9, người được 56 tuồi, đề ngai lại 
cho hoảng tử Lê-Duy-Củ, khi ấy còn thơ ấu, rpới 
nên chín tuồi mà thòi. 






Ta mới thuật ra đày mấy việc nào trong đòi vua 
Lê-Thần-Tông mà đã xãỵ đến trên phía Bắc xứ nhà 
Nguyễn ; vậy bây giò* ta phải trở lại coi các chuyện 
viên thành cũng dồng một thuở nơi hướng Nam xử ấy. 
Nhưng vậy, muốn cho tùy theo lớp lang sắp trong 
khoản nầy, trước hết chúng ta hảy kíp xem xét 
cuộc địa dư xứ đỏ thề nảo. 

Chúng ta biết thuở trưó*c tại phia nam xử Nguyễn 
cỏ nước Chiém-Ba ở trải dài, mà khi ấy nó đa mất 
nhiều phần đất rồi.' Chỉnh vỉ bề ngang nó chật, 
phía trên bị rặng núi Trung- Kỷ, dươi cận Trung- 
Qưốc-Hải, nỏ giống khòng khác nào đất nhà Nguyễn trị 
lúc đỏ. Nó là phần đất Trung-Kỷ nới dài ra mả thỏi. 

Dưới phía Nam hơn, khi di qua khỏi mấy dày núi 
ngảnh chót thuộc về chánh đái sơn Trung-Kỷ, mả 
dưới chơn đụng nước biền, thi chúng ta thấy cỏ một 
cuộc binh nguyên khoảng đả tân bồi, rộng minh mông. 


(1) Nay ngirò-i ta cũng còn thấy cựu chỉ tưírng ấy. 



có vài cái sông lớn, vả vô số rạch ngòi thông lưu. 
Đó lả miền trung chàu thuộc về dại giang Khong, 
mọc đầy thảo mộc, (lặng một ịt ngọn đồ ra Sông 
' Lớn ấy’, với hai Yàm-CỎ (Vaico), là đường thông 
nưởc trảng Plaìne des Joncs (!) ra biền, cùng 
sông Bồng-Nai (, Donnaỉ ), là ngọn lấy suối tại chánh 
. đái sơn Trung-Kỷ mã chãỵ xuống biền. 

Miền trung châu nầy dầy tinh rừng sát, bưn 
láng trạc hà rau cỏ, có giồng- .cát án ngang qua, 
nguyên trưó*c là mấy cái hòn dộng bỡi sóng và 
giỏ mùa tấp vào mà làm nên cuộc. Hằng nám nước 
sông dưng lến, song không ngập tràn cả xứ. Nhơn 
có mưa nắng, cây cối mới đặng diềm dà. Vi vậy, 
đất đai nhờ bủn trịn dưới sông củng là phàn cỏ cảy 
mục rả, nên thưìmg dặng cao dú và chịu lúa trồng 
lẳm; Hề người ta khai phá đất ra bao nhiêu, thời 
miền trung chàu nầỵ cũng trở nên như một kho 
lúa kia dề nuòi dược cả vả nưó’c An-Nam luôn. 

Lúc truyện ta nói tới dày, thì xử nầỵ có người 
cao-man -choán, càng ngày càng bót trí hóa, song 
mấy tràm năm trước có le đặng sự học hành thòng 
, thải lẩm, vi thấy mấy cữu chỉ lộng lạc dền dế Thiên đế 
Thích, Ang-Kor-Wat, Ang-Kor-Thom, Ekdey, Taprom, 
Mibaume V. V, thì ít nữa chúng ta cung nghiệm đặng. 

Trong khi họ Nguỵến, họ Trịnh đồng hương, 
tranh cường với nhau như thế, thời xứ Chiêm- 


(1) Trảng Plaiỉie des Joncs cở nhiều đồng đất thấp ưót rộng 
thinh thinh, gọi là bưn, nó không có tén chung dễ kẻu trong 
tiếng an-nam. Mồi bim dều có tên riêng; nhirng Vậy trong mẩy cái 
quan hệ hơn, có một cải gọi là bưn Tháp-Mưòũ, là nơi lúc trước 
có phe nghĩa sl ở mà chống trả !ại- vói binh langsa đến 
chiếm cử/ thì một hai khi người ta dùng tén ấy mà kẻu cả trảng. 



Ba cung khồng dứt . thủ ngbỊch với nư<Vc Ân-Nam. 


Nhơn lức họ Nguyễn phiền việp, thi nó dùng dỊp 
ấy mả đến cướp “phá Nam-Kỷ. Nẻn nó phải hư mất. 

Chúa Biền-Ỵương dề binh qua diệt 'đặng dản 
chàm; vua nỏ bị bẳt, bỏ vô củi sắt, sau tữ vận 
đi. Còn xứ Chiêm-Ba nhập lại lảm của họ Nguyễn, 
nhưng vậy, chúa Nguyễn cũng có đễ cho bà hoảng 

h ? u ẽ °} l u ’ ọ ' c _ ( ì ưò ’ n 031 tn một phần đất nhỏ 
phía gần Binh-ThuẠn. 

Tử đó, nước Chiêm-Ba không còn kề là vương 
quốc nữa. Còn dân sự cũng gần mau tản loại lẳm. 
Một ít kẻ thì nhập vàó dòng giống người an-nam, 
còn phan nhieu lại dồn vô núi. Bởi người an- 
nam chiếm đặng, rồi tràn qua ở, nên dân chàm phải 
ep minh nhường chỗ lại, rút nhau lên rửng cao 
nưửc độc tại chánh dải sơn Trung-Ký, ở đó chịu 
trăm bề khốn khỗ mà chừ ngảỵ tuyệt giống. Nay 
lấy lảm khổ mà. kiếm cho đặng, tại phía Bông-Bắc 
xử thuộc địa Trung-Kv chúng ta, một it máng mọi 

khốn , , nạ ỉỉ lhuộc 1Ớ P dâ " châm ấ y mả hãy 
còn chỉ tồn, lả dân khi xưa trọn mười một đời 
hầng tranh giành đất Việt-Thường với dàn an-nam. 

Xử Chiẻm-Ba mân rồi, tóá phiên nước Cao-Mẻn, 
không phâi tại vua chứa nước ấy quyết lòng chống 
cự lại với ỷ nhả Nguyễn muốn tranh sự chì, song 
bởi người an-nam, là kẻ có tải qui chế đất lạ ma 
thưò-ng khi người ta không dè, sau khi ioán được 
xứ Chiẻm-Ba, thi cũng trản tời đại giang Khong 
mả ở nữa; bơi vỉ đất miền trung chàu sông ấy 
phi nhiêu, nên chắc gặt hải đặng mùa lắm, cỏn 
chính vi xứ Trung-Kỷ thì sanh san không đủ ma 
dùng. 





— m 


Có nhiều người trung-kỳ, kẻ thi liều mạng, lớp 
lại quang còn, bị lưu xứ, trốn lính, cùng trộm 
cướp lánh minh cho khỏi nạn, kê nôi nhau mà 
đẹn tại nước Cao-Man, lộn lạo cùng dàn bồn 
địa. %ười.an-nam lập quê ngụ nhứt la tại mi en 
Bà^Rịa với Biên-Hoả. Nam 1658, có một cái sờ 
cua quan trấn cỏi dịa đầu gởi táu rằng: vua 
nưữc Cao-Man, lả Nẻăc-Ong-Chản, muốn phản 
nghịch ; còn các người an-nam ở trong ấy không 
ai ;hộ phù che chỏ- V. V. Chúa Hiền-Vương lấy do 
lảm cỏ- mà đánh giặc với vua dàn đảng thồ. Còn 
phía người cao-man lại nói mấy vị vương~tòng thất 
xịn chúa Nguyễn trả thủ cho mình mà thôi. Dầu 
lẽ nào thi cũng thấy có 2.000 binh an-nam tấn qua 
dánh Vụanưức Cao-Man. Vua ấy thua vả bị người an- 
nam hăm lây thành Mô-Xoài (Bà-Rịa) mả bầt ngưò-i. 

ồng Nẻảc-Ong-Chăn bị bả thiên tại xứ Quảng-Binh, 
sau cho về Cao-Man phục vị như trước, trừ ra phải 
ơ như ngòi chư hâu Trnng-Kỷ và phải tiến cống. 

^LẾ-HUYÈN-TÔNG (1662 n t. t. 11 -1673).- Vua 
nầy lẻn ngôi mới dặng chín tuoi, trong truyện gọi 
ngưừi là vua Lê-Huyền-Tông. Chúa Trĩnh-Thạc xỉn 
đức hoảng đế Trung-Quốc phong vưcrng cho người, 
thi vua nhà Thanh dạy trưỏ-c hết phải lai hưò-n 
kim ấn nhà Minh ban trong năm 1650, sau mới cho 
cải khảc mà thế lại. 

Đòà vua nầỵ trị nhằm lúc hai chúa tương tranh 
huỏ-n dấụ, chắc có lẽ lả tại trong nước cần sự như 
vậy. Chứa Trịnh-Thạc dùng dịp binh au nầy mà lo 
việc trong xử Bẳc-Kỷ. 





Người ban hành luạt lệ vua Lè-Thảnh-Tôũg lập 
ra khi trước mả bỗ sự dì kim thục hình, trư ra 
tám điều dề cho vua phân xử mà thòi. 

Người ra chỉ cấm cò* bạc, đá gà cùng bói khoa. 
Cấm không cho học dạo Thièn-Chúa nữa-, song cung 
một khi xua duồi các thiền sư cùng là sư nử. cỏ 
khi ngưòã lây đêu thứ nhứt làm ngại về sự đồi 
dời phong lục nhom dàn và chánh giáo, còn mấy 
người thứ hai, xem dưỏmg như ăn thép của chúng, 
nhò- dàn mà sống, không sanh ích ]ọ-i chi. ông đạc 
dũc Lau nay nghiêm doán các diều lọ ấy, song không 
rỏ ngưòi cỏ hiều theo ý vị an-nam chăng ? Sự phượng 
thò- tiên nhơn và sự thi hành mấy lới dửc Khồng- 
Tử răn khuyên, thỉ ít cần một vị tăng thiền bất thông 
thê sự, ở nhưng, hơn là một giáo sư thông minh, 
thuần đức. 

Chua Trịnh-Thạc cỏ lộp thử cách càn lưỏ-ng trong 
nước ra cho nhỉ hả nhứt thề. Các quan thức đều 
đề tại tỉnh thành làm kiều mẫu, song bơi thỏi quen 
nhơn dân dỏng cưởng hơn ỷ chúa Trịnh muốn, nên 
cách dó bất thành. 

Trước khi dứt truỵộn đời vua nỉìy, ta xin kẽ ra 
mây lúc họ Mạc ở Cao-Bảng, qua loán dất nhả Lê. 
Chúa Trịnh-Thạc. dần dại binh vô tĩnh ấy (năm 1667). 
Tức thì Mạc-Kĩnh-VỎ chạy qua Tàu, sau xin triều 
Bầc-Kinh dem minh về lập lại. 

Khi họ Mạc bại trận rồi, thi chúa Trịnh muốn trở 
vào đánh Nguyên nửa, vi đòi thuế thường niên không 
đặng, mủ bỡi tiền bạc nhà nước thiều lầm, nên 
người phải bỏ qua. 

Chúa Trịnh-Thạc mới lo làm cho (ịuyền thượng 
thủ minh ra thêm oai túc trong xứ. Người biễu vua 



— '131 — 

cho ngưỏ-ì phép riêng mà tòn tước ngưòi: lả trong 
cúc cuộc lễ nhạc không lạy vua, khi cụ sớ chẳng 
dùng cách chi gọi là hạ minh kinh trọng vua, được 
phép ngồi một cáỉ ngai bên phía tả ngai vua ngự. 
Sau hết chứa Trịnh-Thạc ép vua phối hiệp với con 
gái mình đặng làm chánh cung hoảng hạu. 

Vua Lê-Huỵền-Tòng băng trong năm 1671, tháng 
10, người đặng 18 tuồi, không con nối quờn. 


LẼ-GlA-TỒNG(1672n t. t. 1 1 — 1675). — Đày cung 
lả một gã dồng nhi lẻn ngôi lại nữa ; ấu vương nầy 
là em vua trưcrc, mới được mười một tuồi. Trong đòù 
người trị, thấy họ Trịnh với họ Nguyễn tật đố, cừu 
hận nhau có thả ra nhiều đều hung ác một lần nữa. 

Năm 1672,' Trịnh độ binh qua Linh-Giang, đến 
nhạn trước dại lủy Nguyễn, còn binh Nguyễn thời 
đỏng sau đạt tường ấy, phàn giử Bố-Chánh với thành 
Trấn-Ninh cách vững vàng lám, vì nếu mất quan 
ải đó thi phải bị thất thủ. Theo sử nói mỗi bèn dạc 
ước đặng 200,000 binh. Mà tài năng những người 
ấy đặng bao lăm khi đi lính như vẠy ? Đó lả sự trong 
truyện không nói, song ta có phép nghi ngại về sự 
tầng trải và tư chất binh nghệ. Ẳt thật, trong quàn 
sĩ đó có một tốp người đi đánh giặc dã làu, song biết 
bao nbièu kẻ vô dụng trong mấy tay bị nhà nưỏ-c 
điên ọià. không lưỡng lự chút chi, một kip mau 
đem vảo ngạch lỉnh, bốt sao đễ vậy mà sai ra chốn 
chiến trảng cự địch. 

Trọn đi ba thảng, hai đạo binh cứ thăm tinh thám 
thính, tập luyện người mình, đánh nhau xọt xẹt ít 
trận- nhỏ riêng quấy' quấy, củng đắp thêm lủy mới 
mả phòng bỉ. Chúa Trịnh-Thạc dạy lảm mọi việc mả 



- 132 - 


tấn binh tdrì , dủng thử hồa lôi phục, đụt Vách tay 
Trấn-Ninh mả phá nó đi ; vi bên phía TrỊnh cỏ 
ngườihoỉlandais tập luyện binh gia. 

Sau hết, ngày 25 tháng 11, khởi sự hàm dồn lủy 
Nguyễn. Giáp chiến kề được mấy bữa, đánh nhau cả 
ngày cho tới tối, ban dem nghĩ binh. Haí bên cũng 
dồng thị tử như qui. Mấy hào thành đầy quàn nhơn 
lử trận, dễ ỉảm như cầu cho binh tiên chiến lưỏ-c 
tới vách. Bại binh Nguyễn khỏi sự nung. Có một lúc 
kia, các quan phò ông hoàng Hiệp-EHrc, thống lảnh 
binh Nguyễn, luận bàn rẳng phải thối về dồn hậu, 
song người dạy. rút bứt binh mấy chồ nào ỉt chịu 
giặc đánh, mà tiếp các nơi yểu hại mà thôi. Bạo 
tiếp dỏ có ông Nguyền-Hữu-Đụt quản suất, cầm 
binh cự chiến. 

Người hollandais muốn đốt nhà cữa trong thảnh, 
bieu dùng diều giấy mà phóng hỏa pháo ; tướng 
Nguyèn-Hữu-Bật bắt binh lấy cát chữa cho hoả pháo 
tẳt đi. Khi binh Trịnh leo tói chót !ủy, tbì ngưỏù 
iại dạy lấy cây dà có đỏng nhiều dinh sẳt nhọn 
mả gạc, nên chúng nó bị giập minh chết dám kia 
đám nọ là như vậy. Phía Nguyễn khởi sự thắng lại. 

Sau hết, qua dèm 29, bị binh Nguyễn bẳn súng 
lớn già quá, chúa Trinh-Thạc ngã lòng, lại mẳng 
tin rằng Tấn-Quận, là nghỉa tế, có ông Thẳng-Quận- 
cỏng, tồng dốc đỏ thảnh giúp sức, cả hai toan io 
dấy loạn, nẻn ngưò*i ban sư về Bắc, dè còn cỏ 10,000 
binh ở lại cự với Nguyễn mả thôi, vi vậy, chẳng 
khỏi bao làu Nguyễn mới phá dặng. 

Chúa Trịnh dạy trảm quyết hại vị phản thần ấy. 
Bỡi nhơn dàn kêu rêu về sự người hà chánh, lại nói 
muốn lập ông em lẻn thế, là Trịnh-Triền, hảy 



cỏn bị người giam cầm, nên ngưòù cho kẽ thuốc di 
mả chẳng dụ dự chút nào. Còn việc trong nước, 
chúa Trịnh 'biết có một đều, là xài phí tiền bạc thuế 
vụ mả thỏị, phản phát nó cho các quan, dăng theo 
một lòng với mình. 

Khĩ Nguyễn chiến thẳng xong, thấy tới chuyện 
phàn tính cho nước Cao-Mên. Năm 1675, có một ông. 
hoảng đàng thồ kia tên lả Nẻăc-Ầng-Thai, nhơ 
Xiêm giúp, lảm cho vua Néăc-Âng-Non phải trốn. 
Vua nầy xin Nguyễn cứu, thi Nguyễn mau đến đánh 
đuoi người tiếm vị di, song khi phải huửn ngai cho 
Néăc-Ang-Non, Nguyễn lại đặt ông ấy làm vua nhì, 
ở Saigon, còn cháu người lả Nẻăc-Ảng-Thu, thì đặng 
phong làm vua nhứt tại Oudong Ợ). Họ Nguyễn 
cảng ngày cảng trở ra như đấng, thượng vị của nước 
Cao-Man vậy. 

Năm 1675, tháng tư, vua Lẻ-Gia-Tỏng thăng hà, 
khi đó người được mười lăm tuồi. 

LE-H1-TÔNG (1676 11 1 . 1 . 6 — 1705). — ỏng nầy là 
di pỉ)úc tử vua Lè-Thần-Tòng, người lại lả em vua 
Lê-Gia-Tỏng, nay lèn nối quờn cho anh. Hai năm đầu 
trị nước đặng binh an vô sự. 


(!) Thảnh Oudoog (người an-nam kêu lả Ỏ-Đòng) ở phia trén 
thành Nam-Vang, cảch chửòg bốn mưữi ngàn thước langsa, tại 
mé hữu sông Tonĩé-Sap (sông nước ngọt) là ngọn ỗ- Bại-HỒ 
. (Bi$n*HỒ) mà đồ ra Mỷ-Cống giang. 

. Cả và hồ rộng thinh thinh ấy, hay lả địa trung hải, thì cùng 
kôu Tonlẻ-Sap ; nhưng vậy, khi đi lên, người ta phản biệt: 
lo ngọo sỏng tẻn Tonié-Sap; 2oLáng-Bún, hay lậ Véal-Phoc ; 
3° Tiền-tỉồ(biền ngoài); 4o Đại -Hồ (biền trong) chạy từ rạch 
. Parsat (Gỉh-Săt) cho tỏ-ỉ rạch Battambang. 



Qua năm 4677, hộ Mạc tưỏmg răng mình cỏ quán 
tàu Tàm-Quế vùa giúp chắc. chắn, nên khỉ binh đánh 
thử (tất Bẳc-Kỳ lại nữa. Đang khi òng Tảm-Quế 
nỗi giặc chống củng nhả Thanh, Ihì Mạc cất binh 
cự lại với Lè. Tàm-Quế phải binh hoàng đế điệt, 
còn Mạc bị đại binh Trịnh phá tan. Tử. đỏ họ Mạc 
không còn súc chi hết. Nhưng vậy, năm 1692, Mạc 
cũng rán chổi đậy một lan nữa u.ii Cao-Bẳng, mà 
chẳng làm chi dạng. 

Năm 1682, chứa Trịnh-Thạc qui thiên, lưu quyền 
lại cho con là Trjnh-Căn, ông nầỵ lãnh lấy việc trị 
nước mà không đều chi ngủn trỏ*. Ngưòi đặng sự 
thống thuộc thuận thoàn với Trung-Quốc. Chuyện giặc 
Bại-Nam đánh với họ Mạc, còn Trung-Quốc với nhả 
Mình cũng dồng một iược, thi làm cho hai triều ưa 
nhau. Năm 1683, Tàu giai qua cho nhà-nước An- 
Nam 500 ngưò-i theo phe Mạc mà ỏ- bèn ấy. Pbỉa 
An-Nam lại gởi nạp về Trung-Quốc 200 lên ỉàm giặc 
vứi Tảu, mả đã qua lủng ngụ lại dất minh. Đó là 
cách thế mấy nhả nưóc hoành hành ngang ngưọ*c 
đùng,^ cỏ khi li ích cho phần tư lợi -mình lẳm, 
dâu lẻ nào, nó cũng là một dêu nghịch cùng phong 
hóa, làm cho lương tâm bât chống trả lại. Các dản 
nào khí khải vả đặng sự chủ trương minh, đãu 
cho ló’p thượng co đi nữa, thỉ cũng chẳng hề nộp 
mấy kể nào minh cho dậu bạc bao giờ. 

Năm 1684, hội buòn Compagnie des ỉndes cho 
ông Le Chappelier, là một ngưòi coi việc thế cho 
minh, qua thám dất Bẩc-Kỷ ; nhờ cỏ mấy thăv cả 
giảng dạo giúp, ông ấy mói đặng nhả nước ban 
phép lẠp hảng tại đỏ; song vi như thiệt có hưng 
tạo nó ra, thời nó ở cũng không đưực bao lảu, vì 



— '135 — 


chưng sự chứa Trinh ăn ử hà khác dã lảm cho hảng 
buòn chót của mấy người hollanđais phải triệt hạ 
trong nàm 1700, chúng ta biết chuyện đó rồi. Năm 
1686, có một người coi vi ộc khác, tên lả Venet, 
khuyên hội buôn ấy chiếm lấy hòn Còn-Nôn đi. 

Mấy năm sau vua Lẽ-Ili-Tông trị quốc mà sánh với 
các năm trưỏ-c, thi gọi là vừa dặng binh an mà thòi. 
Sự cướp phá bữi mấy lúc tao dộng tiền nhựt 
mà ra, nay trị phạt cách nghiêm nhặt lắm. L ; nh 
trên dạy hủy. tan trót một làng àn cướp; có 52 người 
phải chết chém, lỏ-p dư lại đen bi vanh tay và bẳt ở 
rải . trong xứ. 

tìang khi mấy chuyện biến nầy luân phiẻn 'tiếp 
.. nối nhau tại dất Bảc, thì dàng trong chúa Nguyên 
lại cho 3000 khách nhom tói ỏ' xứ mình (năm 1680). 
Bó ỉà mấy kẽ trung than với Minh ; khi trưó*c đem 
nhau xuống ử dưó’i một dạo chiến thuyền kia đặng 
200 chiếc, snuphải một Irạn bảo nặng lam, tàu Lhuvền 
bị chim gần hếl. Bảo rồi, quan lưórng cai quàn ấy, 
tôn là Dương-Ngạn-Bịch, mới qui hội lóp dư lọi, thi 
• tính còn -CÓ chừng năm mươi chiếc, mà đễ cho 3000 
bịnh ở. DWng-N gạn-BỊch mới từ dứt sự tranh chiến 
với Thanh, thả theo gió chạy vào đất Trung-Kỳ, xin 
làm tôi chúa Nguyền. Khi rív chúa Hiền-Yưo'ng lưửng 
'. '.'lự, sạụ ban phép cho Dương-Ngạn-Bịch vô lập quê 
ngụ tại miền Cno-Man-Hạ. Boàn hải thuyền ông ấy 
lại chia ra làm hai, một tốp đi theo sông lèn ở Mỷ- 
Tho, tốp khác đến trú tại Bièn-Hoà. Bó là việc cả thề 
Ặị; ' sau. hết chĩ về sự cai trị -khéo léo, vang hiễn chúa 
Ề£ị'£; HỊền-Yaợng, song hại thay cho mấy thầy; giã Dg, vì 
HSr trong ,<# 1 ; ngưòi trị thấy đỏi phen xuống chiếu bắt 



— 136 — 

■ * ■ . 'r~ . 

đạo. Cũng lả chúa Ngtìyập nììy buộc ép ngưíri làu qu* r ầỊ 
ở trong xử .phại tủy tục ạn-nam nữa. ỵỊỉĩ 

Thứờng.iệhi; chúng la đoán xét các việc lảm nầy Ỵ:ịĩ 
theo trí nghiệm 'táy nhơn tần hóa, khôn tri tầm cở 
sự quyết định vì đàu. Bỡi đó chúng ta không phép 
bải biếm cho thới quả về sự một dứng quàn' vướng 
kia ăn ở thề nào, bơi chưng người chẳng tưởng 
đặng an lảnh với kẻ tha phương, một có lẻ ngơ 
rẳng chuyện ấy sanh bất bình trong phong tục 
nhơn dàn cùng ỉả còt tữ làm cho tản bại sự tự 
trị gia quốc mà thôi. 

Chúa Hiền-Vương sinh thì nhầm năm 1685, đề 
việc nhà nước lại cho con, là Nguyễn-Phưởc-Thới, 
xưng lả Ngãi-Vương. V 

Năm sau, mấy người khách ỏ- Mỷ-Tho nỗi dậy 
lảm giặc. Chúa Ngãi-Vương đánh dẹp quân ấy, 
song không khỏi giết tướng loạn là Huỷnh-Tần 
với nhiều 'kẻ thuộc phe. Cũng một khi ngươi ' 
biều vua nước Cao-Mèn lập tờ chịu dầu lại cho 
chặc chịa hơn. 

Năm 1691, chúa Ngãi-Vương băng. Nguyễn-Phước- 
Điều là con, lên nối nghiệp, cải hiệu lả Minh- Vương. • 

Cảch vải năm sau, là 1702, người phương Tây 
có ướm lập thữ hảng buôn lại một lần nữa. Bỏ 
Ịà mấy người anglais, họ không hỏi xin ai hệt ; ỳ 
(vì không thấy sách Gia-tì.ịnh thỏng chí hai lầ sách’ * 

Sử nói về chuyện nầy), họ cất ra một bẵng tại hòn V 
Cỏn-Nòn^Hãng nầy ở không được bao lâu. Vi qua 
1708, may vị anglais đó bi ]ính maláyu minh, nguyên 
thuộc xứ . Macassar, giết 'đi hết, trử ra hai ông 
oyd V Ỏ*1 quan lương y Pound ; hai người 
ấy chạy xuống chiếc thoảng kia thoát khỏi mả thôi. 



r M à kiểt người phương Tày cỏ đến trước thuở 
5ỏ đã làu mà thám thính hòn Côn-Nỏn chẳng? Sự 
ây không chẳc. Vốn thật, khi người ỉangsa tới lấy mà 
^ , Cu ^ ao nầ y> thời gặp tạĩ đỏ có tíen bạc espagnol 

hoàng đế Charles-Quint và đề năm 
1521. Song đều uhưvậv cung không chứng tô sự chi. 
Bơi chưng, khi mấy ngưỏù portugais vả hollanđais 
den do thám Trung-Quôc-Hải trước hết, có lẻ họ 
cũng có dung tiền bạc nước khác nữa. Còn người 

ỉ Kế2F^ ; xem ra C ^ n hải biền nưức An-Nam lối 
1596, lả lúc ông đạc tlửc Diégo Adverte lên thảnh 
Huế ( v ì người espagnol qua iập qui mò tại chòm 
cù-lao-Philippines trong năm 1565 mả thôi). Vậy, 
không dề hơn mà định dẹo răng, nhơn dân ở hòn 
Còn-Nôn cỏ sang đoạt một chiếc tàu espagnol nào 
dỏ mả dã bị chìm sao ? Sự phỏng nghĩ như vậy cỏ 
lý nghe dược hơn, vi Ihuỏ- ấy người ta không 
mua bán, thưỏ-ng họ hay đồi chác mà thôi. 

dua nam '1705, tháng tư, vua Lẻ-Hi-Tông a vâng vỉ 
lịnh dạy», nhường ngai lại cho hoàng thái lữ người, 
là Lê-Duy-Bường (Le-Dủ-Tông). Chua Trịnh-Can an 
.ở vỏ-i vua nhả Lè không khác chi cảc vi chúa tiền 
dại. Vua Lẻ-Hi-Tông thăng hà nhằm tháng tư, năm 
1716, khi ấy người đặng 54 tuồi. 

^LÊ-DỦ-TÔNG (1706, nt. t. 6 — 1 729).— Bời tàn trị 
nầy được binh yẻn, khùng giặc giả chi. Vừa lúeban sơ* 
cliua Tnnh-Can tân thiẽn (năm 1 707)., 1 chắt người là 
Trịnh-Cang, cũng kêu lả Trịnh-Cương, lên nối nghiệp. 

Ong nầỵ dùng dịp an hòa như vậy mà sữa sang 
sẳp dặt việc trong -nước. Luật lệ vua Lè-Thánh-Tòng 
: -’.r 10 



- 138 - ■ ' 

» • * 
v • * /V 

lập ra khỉ trưỏ-c, bấy lâu bỏ qua, nay thông dụng 
lại, ruộng đất đạc một lần nữa, còn thuế viết định 
theo hạng mói Mấy cảng khầu hai tĩnh Nghệ-An, : 
Thanh-Hoá khai ra rộng hơn vả vét lại cho sâu. Thấy 
cỏ trừng trị' mấy chuyện việt phàn, củng khuấy rối 
trong dàn. Những ngưỏi thanh khách khai khoảng 
không được tụ họp nhau tại mỗi chồ lấy ngu kim 
mà quá 300 tên'. ; 

Chúa Trịnh-Cang tiếp theo việc nghiêm phụ mình 
trị lý mả ăn ở với người ngoại quốc và về cách thò- 
phượng mỏ*i. Ngưò-i ra chỉ cấm đạo Thiẻn-Cbúa, 
khu trục các thầy giẵng trở về Xiêm (là đức giảm mục 
Jacques de Bourges, ông Ed. tíelọt vởi ông Franọois 
Guisain). 

« Mả khi lảu chở các thầy ấy vô tới lối Nghệ- 
An, có một chiếc ghe bôn đạo kia ra cặp, rước hai 
ông sau vô bờ ằn dật đặng trong tính. 

(I Sự chống trả lại cách cháng chường với lịnh trên 
như vậy, thỉ cũng dường bằng dấy loạn, nỏ không 
làm cho ngũòi cơn thạnh nộ chúa oai quyền xứ Bẳc, 
vì thấy người nắm giữ sự thi hành chiếu chỉ cấm 
đạo trọn ba năm ». (Sách Cours d’histoire annamite ■■■ . 
của ông p. .1. B. Trương-Yĩnh-Kỷ). 

Trong cỏi Nam, khỉ ấy chúa Minh-Vương đẵ đỗi 
xứ Cbiêm-Ba ra một phủ an-nam và đặt tên nỏ lả, 
Binh-Thuận. Người cũng phải đánh Xiêm nữa, vì 
dàn ấy cứu giúp phe cao-man lảm loạn, ■ 

Năm 1699, chúa Nguyễn qui liệu mĩen Cao-Man- 
Hạ lại mà phản trị, đến sau làm ra xứ Gia-Bịnh (1), 

(1) Hai chữ nho chỉ tên Gia-Định nghĩa ]à thạnh an. Mấy 
ngrròi an-nam đến trược hết tại Nam-Kỳ đều biết tên ấy đề 
mà kêu xứ có sông Sài-Gòn thông qua. Lúc sau, ỏng Nguyễn- 



139 — 


hay lả Nam-Kỷ ( Basse-Cochinchine ). Ban so- ]ập ra 
phủ Gia-Định, huyện Phước-Long (tại đất Bồng-Nai), 

; dinh Trấn- Biên (Biên-Hoà) và huyện Tân-Binh;(Sải- ' 
-'V Gòn) (1); 

v‘ ' . . !• • 

. 


i ^ n h lấy nó mà đặt cho thành của quan tồng binh Olivỉer lập. 

a Có một ít vị bồn quốc hay chữ không dằn đặng gốc tẻn ấy cho 
khoi tnrố-c đởi vua Gia-Long. Mấy ngưửi đó lại luận rằng, chữ 
thứ nhứt xem như chiết trong niên hiệudức hoàng dếGia Long, 
nẻn diền nghTa Gia-Bịnh như vây : xứ uua Gia-Long bình 
giặc (Sách Monographie de la prouince de Gia-Định). 
y:ỉỊ giác thề nầy xem ra khó ưng lý, nghĩ vì thành Gia-Snh 

Xây trong năm 1789, còn tèD đức Gia-Long dần ra không quá 
' nẳm 1802. 




. Ý . "• 

*■* • 4 



Ọ) Theo lốn ông Aubaret, là ngưòáđtèn sách Gia-Bịnh thông 
chỉ, thi nói như vây : chốn trung đỏ kéu là Sài-Gòrt, thì thuơ 
trưó-c là tại Chợ-Lớn ; còn chồ nay là thành Sài-Gòn, xưa gọi 
là BỀn-Nghé. Cán nguyên tên ấy có khi bơi tiêng cao-man mà 
ra. Ong Trương-Vĩnh-Ký lại rằng, người chép sách Gia-ĐỊnh 
thông chi, lả ỏng Trịnh-Hoài-Đức, cỏ giãi nghĩa tiếng ấy roi 
(song ta khỏng găp đoạn dó trong sách người), nói Sài là chừ 
nho, nghĩa củi, còn chữ gòn là tiếng an-narn, chí là cày gòn; 
ỏng Pétrus Kỷ lại thèm : « ngưòá ta nói tẻn ấy đặt ra, tại dản 
cao-man trồng gòn nhiều lắm chung quanh mấy dồn dất củ 
thuộc v'ê minh, nay còn lưu dấu tich nơi chùa Cày-Mai và lối 
kế càn dó ». Nhưng vảy, ông Trương- Vĩnh-Ký cùng úrỏng 
Sài-Gòn Jà tên người đàng thồ lúc trưỏ-c đặt ra mà kẻu cả va 
miền, là nơi dến sau mó-i khai thành ra. 

Tỏ-i phiên ta, ta xin ai nấy nghiệm lại, trưó-c năm 1675, thời 
ngưòi cao-rtiẻn dã có một cái dồn tại Sài-Gòn. vs chăng, trong 
•sách Gia-ĐỊnh thông chí của ống Aubaret dịch ra, thấy nơi 
trựo-ng thứ 3 có càu nầy: « Qua tháng tư, khi ấy nhằm mùa 
hạ (năm 1675), binh an-nam hãm lấy các dồn Sài-Gòn, Gồ-Bich 
và Nam-Vang.® Một d'êư khác riừa chúng ta piiiải nhở-, lả thảnh 
CỊiộ-~Ló-n nguyên cũa người tàu láp ra trong năm 1778, dặt tẻn 
là Taì-Ngon, nẻn từ tẻn kêu dó cho .tỏ-ĩ Sài-Gỏn thi không 
bao xa. 



Năm 17Ị&, cỗ một người khách quẳfìg-4ông Ịpa, 
tèn là Mạc-Cưu, khi trước cỏ mua. hoa chi cử bạc S' 

tại nước Caợ-Man, sau về Hả-Tiên qui dân, lập lần ỊịỊ?' 

lần dược bảy làng (*), rồi sai người đến dâng ■ . 
đất mình chiếm đỏ cho chúa Minh-Yương, cùng xin 
quẵn suất nỏ thay người. Chúa Nguyễn liền nhậm 
lời, phong tước hầu cho Mạc-Cữu. 

Chúa Minh-Vương cũng ăn ỏ* nghiêm khâc vó*i 
người cỏ đạo. Một ít thầy giảng phải tử hình nơi dủ 
lỵ (lúc bắt đạo năm 1700). Nhưng vậy, cách bốn 
năm sau, người có giảm bớt việc bẳt buộc một chút> - 
nhờ sự thản thế ông đạc đức d’Arnedo (làngười 
chúa Nguyễn giữ ỉạỉ đặng dùng như toán sỉ), song 
la phải biết, cũng nhờ có một ít tai biếu trong nước 
giúp nữa. 

Trưỏ-C đây ta cỏ nói rằug trong đời vua Minh- 
Vương, thời hội thương Compagnie des ỉndes có 
sai haỉ phái viên minh qua dọ hải biên nước An-Nam, 
cỏ ý cho đặng lập một hảng buôn tại đỏ. Ong Le 
Chappelier-đến nhẳm năm 1684, ông Yerret 1686. 

Trong tờ cáo báo của ồng sau thì nói rằng, nhơn dân 
an-nam không chịu thủ tậc vứi người ngoại quốc. 

Năm- 1723, ông thương biện Renauỉy qua xem địa 
cảnh hòn Cồn-Nôn một lần nữa, ngưòi nói như 
có muốn lập ra một chốn đại thương, thời phải : 
chọn vàm sông Khổng mả khai tạo. . 

Chúa Trịnh-Cang biết minh gần đất xa trời, lại e • ‘M 
sau có nhẳm mẳt rồi, vua Lê-Dủ-Tồng muốn lảm đều- gi 
mà chủ trương lấy việc nước chăng, nên qua tháng : 
tư, năm 1729, chúa Trịnh ép người nhường ngôi 

(1) Là Hà-Tiẻn, Phủ-Quốc, Long-Co-, cần- Vọt (Campot) Vung- - 
Thom (Compung-Thom), Rạch-Giá với Cà-.Mau. 



- 141 


lại cho thái tử Lè-Duỵ-Phường (Lè-VỉnbrKhánh), khi 
ấy được 19 tụồi.Qua tháng giêng 1781' > cựu vương 
thăng hả, hưỏ-ng thọ đặng 52 nam.' 

_ LÈ-VỈNÍI-KHÁNH (1729, t. 4 - 1732).- Vua nầy 
còn nhỏ tuồi, nhờ chúa Trịnh-Cang lập, lại là hiền 
tể người, nẻn phong cho chánh phi chúa Trịnh lẻn 
làm thái hoàng hậu. Sau chuyện nầy một ít làu, thi 
chúa Trịnh-Cang tàn thiên (năm 1729). Con người 
là Trịnh-Giang lên nối quờn. Chầc cỏ lẻ chúa Trịnh- 
Giang cỏ .lòng quảng đại, song ngưòũ khòng đặng 
tư chất minh đạt về chảnh sự cho bâng các chúa 
Trịnh trước. Vi như người tha các món thuế buôn 
bán, củng thuế muối,, người lại cấm ĩấy mỏ vàng 
mỏ thiếc vả mỏ sẳt tỉnh Thanh-Hóa. Về vua Lê, thay 
chúa Trịnh cũng noi theo sự tiên nhơn minh di ngòn 
mả ăn ở với người. Nám 1732, tháng tám,Trịnh-Giang 
dạy phế vua Lê-Vỉnh-Khánh xuống mà lập ngự huynh 
người, là Lẻ-Duy-Tường, lên nổi ngôi, rồi qua tháng 
chín, năm 1735, lại truyền giết người đi, vi có khi 
sợ người ỉảm đều gi chăng. 

Khi xem qua truyện nầy chúng ta hãy ỷ chỉ lại, 
khi trước vua Lè-Vĩnh-Khánh không có sài sứ qua 
mà cáo tức vị với hoảng đế nhà Thanh. 

CòntạiNam-Kỷ,thi chúa Minh-Vương đã lập ra phủ 
Định- Viền (Vĩnh-Long kim thời). Mạc-Cửu chết, năm 
1736, Mạc-Tôn là con đặng phép kế nghiệp cho người. 

: LẺ-THUẦN-TỒNG (1732, t. 8 - 1735). - Trong 

'ỆMS: đửi đòản trị vua nầv không có . việc chi đạí khải 
ỆịỆề£}r chỉ về chảnh sự. 



Chùa Trịnh-Ọiang bãi một phần binh đặng bót 
tồn phí, cũng có khi là cho đặng nhiều tiền bạc hcrn đễ 
mả vui choi Ngiròù cỏ dạy in các sách kinh của 
đức Khồng-Tử ra và cấm không cho mua sách người 
tàu in nữa. Khi dùng phương thế nghịch cùng dàn 
trung-quốc như vậy, biết phải người muốn lia dứt 
iần lần cho khỏi Đại-Thanh chăng ? Tương chắc cũng 
có lẻ như vậy. 

Vua Lê-Thu'ân-Tòng tại vị đặng ba năm, rồi người 
băng (1735, t. 4), khi ấy người được 37 tuồi, đễ ngai 
lại cho hoàng đệ Lê-Duỵ-Thin, trong sử kêu là vua 
Lê-Ý-Tòng. , 


LÊ-Ý-TÔNG (1735, t. 4 — 1740). — Nói tóm một 
đều, chúa Trịnh-Giang ỉúc đó là quốc chủ, mà người 
khởi sự làm cho nhiều kẻ không còn bỉnh tâm nữa. 
tìã mấy năm thiên hạ mong lòng dấy giặc, song 
không ai dám chòng trả cháng chường vóũ oai quyền 
chúa Trịnh. Qua 1737, loạn lạc mới chỗi dậy. Ma lạ 
thay, trong cơn bạn nghịch nầy thấy có ba vị vương 
tỏng thất ỉà: Lê-Duỵ-Chúc, Lê-Duy-Qui, Lê-Duy-Mật 
làm đầu đốc suất. Mấy ông ấy tính phá ách hèn hạ, 
khi mạng mà bấy làu họ Trịnh bắt mình phải chịu. 

Bỡi bị chúng phản, nên sự tập lập nầy lậu ra 
song mấy người huyết thệ đồng loa có ngày giơ 
thảo lui khỏi bắt và chống lại. Binh Trịnh-Giang có 
dánh nghịch đảng nhiều trận. Cách ít lâu, ông Lẽ- 
Duy-Chúc với Lê-Duy-Qui chết di. Còn ông Lè-Duy- 
Mật thi cứ nghinh chiến luôn cùng lảm cho Trịnh 
phải lo sợ. 

Loạn lạc đẹp đặng rồi, chớ nó cung còn âm thầm, 
hung bạo. Có một sự cai trị cho công chánh, kiên 



143 - 


nghiêm, thì mới dứt tuyệt được nó mà thôi. Chúa 
Trịnh đã không làm nhừ vậy, lại ‘háo sắc, buông 
tuồng vò độ. Nên tinh thần rủ liệt, lại trong lúc 
V dồng mưa kia người bị một mủi sét sa gần, làm cho 
không còn kễ chi người nữa : là mất trí khôn 
rồi. Sau nghe theo lời quan hoạn lluình-Công-Phụ 
bày biều lập cung dưới đất mà ồ', nên lưu quyền 
lại cho quan sử sự minh là như vậy. 

Huinh-Cỏng-Phụ, là một người tham danh phận 
hơn tài trí, làm cho sinh ra nhiều người giận hòm ghen 
ghét. Sau bị hạ xúống mà đặt òng Trịnh-Dinh lẻn, 
là em chúa cuồng tầm, hãy còn ằn thàn nơi địa 
cung cho tới năm 1761, thảng chạp, mới từ trần, 
sống đặng 51 tuồi. 

Song ông Lê-Đuy-Mảt, là vị vương nghịch, cũng cử 
đánh lại ĩuôn. Muốn cho người lai hàng, thi chúa 
Trịnh-Dinh ép vua Lè-Ý-Tòng nhường ngôi lại cho 
cháu, là ông Lẻ-Duy-Đảo. Vua Lẻ-Ý-Tòug còn hưởng 
thọ đặng 18 năm nữa, cho tới 1758 mới bàng. 

Tại cỏi Nam, chúa Nguyên cứ chuyên trị mấy 
tỉnh minh cách khỏn ngoan và sữa sang xứ Nara-Kỷ 
lại. Nàm 1736, là năm mấy vị vương nhả Lé dấy giặc, 
thi chúa Ninh-Vương thăng- hà. Con người là Nguyễn. 
Phước-Chú lên nối quyền, cãi nguyên lả Vỏ-Vương. 
Năm sau, ông Dumas, nguyên soái xử Thièn-Trúc, cựu 
thống đốc hai củ-lao Bourbon và lle de France, cỏ 
gởi cho hội thương Compagnie des Indes một bồn 
sơ thảo xét về sự lập hảng tại Bẳc-Ký. Chọn lúc 
nhtr-vậy là phải ỉẻ lẩm. 


LÈ-HIÈN-TÔNG (1740, t. 5 — 1786).— ỏng Lè- 
Duy-Bàọ lên tức vị (trong sử gọi là Lè-Hiền-Tòng) thi 



cũng khòng làm cho Lẻ-Duy-Màt cãi tâm nhơ chủa 
Trịnh trông ước. Ong ấy cứ đảnh như trước mả 
thòi. Có nhiều chỗ nỗi loạn lên, song bổ-i không người 
cho tài tinh mà đốc suất, nên chúa Trịnh-Dinh m ởi 
lần hồi sát huy đặng loạn thần, trừ ra Lê-Duy- 
Mật thoát khỏi mà thôi; đến sau Trịnh-Dinh chết 
(1767), nhưng vậy cũng không bẳt đưọ'c ông ấy. Con 
chúa Trịnh-Dinh lả Trịnh-Sum, lên kế vị, lại hữu 
phưó-c ho n. Người tấn binh cách phấn chấn lẳra, sau 
vây đặng Lê-Duy-Mật tại Trấn-Ninh, lả chỗ ngưòâ* 
h;)u trú (1). ông Lê-Duy-Mật coi vọi thấy mình cự 
không nỗi nữa, bèn truyền góp các thùng thuốc 
súng chồng lại, rồi ngưcri ' cùng cả thê tử đem 
nhau lên, dạy đốt cho nồ văng lèn mã chết. 

Tại Trung-Kỳ khỏng có chuyện chí^lạ. Hội Com - 
pagnie desĩndes cỏ làm thử lại cách kia thế nọ đặng 
giao hữu với nước An-Nam. Lối năm 1748, ông 
Dumont, lãnh việc Hội, qua thám Trung-Kỳ; ngươi 
tính lập một hẫng tại hòn Chăm, gần Hải-Phố. 
Năm 1749, òng Pierre Poivre qua ghé tại Cữa-Hàn, 
rồi lên Huế. Chúa Vỏ-Vương rưó-c ông ấy cách 
tử tế, bím phép cho người lẠp một chỗ buồn bản tại 
Cữa-Hàn, cùng cẠy người đem một bửc thơ chọ vua 
nước Langsa. Năm 1750, và lúc sau, mấy cữa sông 
Khòng vả bãi biền xứ Trung-Kỷ đều tbấy cỏ ba ông 
d’Après De Mannevillette, ông De Richery với ông 
De Rosily-Mesros đến thảm thính lần lần. Năm 1752, 
quan nguyên 'Soái Dupleix biều ông thầy cả De 
SainLPhalỉes gởi cho người một tờ diều trần về 
xử Bẳc-Kỷ, đoạn cậy đức giám mục Bennétat đam 

ít) Trấn-Ninh là một cái lảy, ở tại dây núi phía Bắc tỉnh 
Quảng-Bình. 



lẽ vật dưng cho vua nước An-Nam. Song rủi, sau 
nhà nước Langsa đòi người về. Lúc đó, chúng 
• t a mất thuộc địa, nèn khòng tính đặng sự chi hết. 

Nhưng vậy, qua năm 1775, người langsa có lảm 
thử lại một lần nữa mà buôn bán tại coi Đòng- 
Dướng. Bị giặc bèn phương Thế-Giải-Mởi lảm cho 
mấy người chung sức lo lẳng việc ấy ra vô ích: 
Dầu vậy, trong lúc tranh- chiến nầy thi quan tồng 
trấn. Chandernagor cũng có sai một chiếc táu qua 
Trung-Quốc-Hải mà kết sự giao hữu lại với Bẳc-Kỳ. 

Năm 1765, khi chúa Vỏ-Yương hấp hối, có di 
ỷjập con bả thứ phi, là ông hoảng Duệ-Tông (trong 
sử kêu lả Huệ- Vương, hay là Định-Vương) dặng nối 
quò-n cho ngưòì, rồi cách ít ngảy người băng. 

Khi trước chứa vỏ- Vương ăn ở tự kieu, ngạo 
mạng, quan dàn lấy làm khó chịu, nay ông Duẹ- 
Tông lại hà khắc, nèn thiên hạ chẳng còn Mng 
lòng nữa. 

Tân chúa còn thanh niên, nhơn dịp. nầy cỏ một 
vi quan trưởng kia, tên lả Trương-Phước-Man, đoạt 
lây quờn người. Quan ấy ăn ở hung bạo, làm cho 
nhơn dàn giận ghét hết sức. Bẳt ông Hiểu-Khương- 
Vương, lả con thử hai chúa Võ-Vương (1), mà cầm 
tủ,- sau chết di, có khi bỊ chúng hại mạng, người 

(t) Chúa Vỏ-Vưcrng có nhiều con, mà mấy ngưỏi sanh, trước 
đêu là công chúa. Ta xin kề tẻo một ít hoàng tử rigábủ ra 
sau đày: 

Ông thế tử đông cung Hiệu, chết trước giặc Tày-Sơn, con 
ngưòi, là ỏug hoàng Dương (Mục- Vương), đến sau bị Nguyễn- 
Văn-Huộ. truyền lịnh giết đi cũng một khi vửi ỏng chú người, 
là. chúa Duệ-Tông. 



— 146 — 

■* . I, ' ' , 

... . • 1<Ĩ . 

đe ỉại hai nam tử, một vỉ là ỏng hoàng Nguyễn-Anh, 
sau trở nèn đứng lập nhả vương kim thời, là đức 
hoàng đế Gia~Loog. • 

Phía Nam-Kỷ, thấy cỏ người xiêm qua phạm 
biên. Năm 1772, quàn ấy đánh lấy Hà-Tièn, rồi 
kẻo tới Cháu-fìốc, cỏ ỷ xuống Sài-Gòn. Binh an-nam 
mau đam nhau đến chận đánh. Đoàn binh đi phía 
Rạcb-Giá thất trận đầu, tay vậy, sư ấy cung không 
ngăn cãng đừng cho quan tồng thống Bàm tấn đại 
binh theo kịp quàn xiêm mà hủy nó đi. Vua Xiêm , 
huờn Hả-Tièn lại cho Mạc-Tôn, rồi trở về Bangkok 
(năm 1774). 

Sau lúc hành binh nầỵ, thời quan tồng thống 
tìảrn có dạy « xây một đồn đẩt tại Sài-Gòn, từ dưới 
phía Nam chồ kêu là Cổt-Ngăng mả qua phía 
Tày cầu Lão-Hứế và trên phía Bẳc vàm rạch Thị- 
Nghẻ. Bề cháu vi đặng mười làm lỷ ; nỏ bao khẳp 
chung quanh thảnh, là chồ chánh phần trị, nó làm 
cho trong thánh ở an tàm lẳm ; người ta di ngang 
qua thảnh ấỵ đặng, nhờ có nhiều đại lộ binh bộ 
đi được. » (Trịnh-Hoài-Bức). 

Sự chỉ hướng đồn ấy xây thễ nào thì có sái một chút, 
song òng chủ bút sách Gia-Địỉềt thông chi có kề 
ra mấy chồ đễ nhẳm là : 1° tại vàm rạch Thị-Nghẻ 
(. Arroyo de V Avalanche) ; 2° tại một cải cầu chẳc có 
khi kbòng phải bắt qua sông Bến-Nghé (Riuièré de 
Saỉgon) lại nỏ ở nhắm bên phía Tày, vi vàm Thị-Ngbẻ 
đẵ cỏ chỉ trước tại trên hướng Bẳc, nẻn chẳc cỏ lế nỏ bắt 

òng Hiếu-Khương-Vưcrng, là con thứ hai, bỏ minh trong 
no-i đủ lỷ, nguôi sanh ra ông Nguyễn : Anh. 

ỏng Duệ-Tông là con thứ 16 chúa Vỏ-Vưcrng, cỏn ông tông 
thất Thảng là con thớ 18 . 



qua rạch ấy mà thòi, thỉ dụ như cầu Bòng Pont). 
v *y đ i* thế đ ' ôn ấy gần giống như địa thế thảnh cua 
quan tồng binh Olivier xây lúc hậu nhựt — sau dẳy 
ta sẻ nói về chuyện nầy — lại cỏ khi nó cũng lả địa 
cuộc đồn cửa người cao-man mả binh an-nam dã 
lấy đặng cách một tràm năm trưỏ-c. 

Còn nói về châu vi, thi độ nó đặng 4, 6 vả cho 
tới 40 ngàn thước langsa nữa, vi người an-nam 
kễ , bề dài raột lý k hông có chừng, cứ theo ỷ minh 
tương mà thòi (xin coi sách ỉnstìtutions annamites, 
cuốn thứ II, trương 243). 


TÂY-SƠN DÂY LOẠN 

Bang kb Ị mấy chuyện đại biên nầỵ hoá sinh tại 
Mỷ-Công giang, thò-i xem ra Nguyễn thị gần mau 
tan mạc. Sự suy vi như vậy bỡi một chuyện toả 
tièt kia khởi đău, mà chẳng khỏi bao lâu nó gầy nên 
việc cả thễ lẳm. 

Có một tên biện lại nọ ở tại phần thủ Vàn-Đồn, 

' thuộc tĩnh Binh-Bịnh, tên lả Nguỵễn-Vàn-Nhạc, íẻn lấy 

tiền kho mà trả nợ cờ, bạc, sau bỏ trốn lên núi Tâỵ- 
Sơn mả òr. Bơi nhơn dàn không ưa quan phụ chánh 
Trương-Phước-Man, nên Nguyễn-Văn-Nhạc mới chiêu 
tập đặng vài ngàn nghịch dãng, hoặc quản hungquang. 

V Haị em Nhạc, là Nguyẻn-Văn-Huệ vó-i Nguyễn-Van-Lư, 
theo anh, cả hai lảm phó tướng. Ban sơ" Nhạc đảnh 
, > mấy đồn nơi giáp cảnh, bẳt mạy nhả háo phú nạp 
.. .. tiền mả chuộc mạng. Phe Nhạc mau đông lắm, qua 
1773, ông ấy dùng một kế kia mả hãm đặng 
Ịs&ỷ sau lấy nỏ làm nơi nương dựa- 



— 448 - 

Cơn bạn nghịch nầy hảy còn làu nám lầm, trong 
sữ gọỉ lả loạn Tầy-Son, bổi tẻn dày núi ở hưửng 
Tây mà bọn nghịch thần chiếm lấy. 

Hã vậy, T rương-Phước-Man lạyàm cho dân trung-- 
kỳ giận oán, cho đến đồi sau hết phải xin chúa 
Trinh-Sum cửu minh ra khỏi tay kẻ hả chánh. Chúa 
Bẳc-Kỷ không tương tri chút nào, vi thuở nay chưa 
hề cỏ dịp như vậy. Nội một đêm thấy có 30.000 
binh độ qua sông Linh-Giang. ' Quan phụ chánh 
Trương-Phước-Man phải chịu cho giặc bắt, cồn kinh 
thành Huế bị lấỵ di (năm 4775). 

Chúa Duệ-Tông mất quan phó quốc rồi, lại chịu 
cho^ngoài Bẳc binh Trịnh đánh vô, trong Nam quần 
Tầy-Sơn đánh ra, nên phải lảnh minh, ban sơ trú 
tại Cữa-Hàn, sau đi ngẵ bièn mả vào Gia-Định. Cháu 
người là ông hoảng Dương (Mục-Vương), thò-i ở 
lại Trung-Kỷ cự Với giặc, mà chẳng khỏi bao lâu 
cũng phải theo chúa Duệ-Tông nữa. 

Nhưng vậy, khi chúa Nguyễn trốn đi tị nạn, thì 
người chiêu lập đặng binh gia mau lắm. Người dằn 
nó về đánh quằn Tản-Sơn. Nguyễn-Vần-Nhạc thấy 
minh phải lưởng đầu thọ đích, vi dưới Nam cỏ 
binh trung-kỷ, trên Bắc bị sư lữ bắc-kỷ, mới bỏ qua 
phò Trịnh. Chúa Trịnh bèn cho Nhạc lảm tiền phong 
tướng quản (1776). Năm sau, Nguyễn-Văn-Nhạc lại 
được trấn thủ tĩnh Quang-Nam nữa. 

Lúc dó giặc đánh với ông Duệ-Tòng cũng chưa dứt, 
nên trong năm ấy, lả 1777, cựu chúa Trung-Kỷ với 
công tôn người lả ông hoảng Dương phải tay 
quân Tây-Sơn bẳt đặng tại phía Long-Xuyên (ì), 


(t) ỏng Trịnh-Hoài-Bức thuật rằng <r Đức hoàng đế Duệ- 
Tông lẻn Long-Xuyẻn, song qua tháng 8 (năm Đinh-Dậu, 1777), 



V 


- í 49 — 


^rồi bị điệu về Sải-Gỏnmà trảm quyết (i). Năm 1777, 
ngoài Bẳc có loạn lạc nồi lại nữa, òng Nguyễn- Văn- 
; Nhạc dùng dịp ấy mà xưng vương cùng tiếm hiệu là 
Thái-Đức. 

'#• 

NGỰYẾN-ANH (1778-1786).- Khi chúa Duệ- 
Tông trốn vào Nam-Kỷ, người có đem cháu theo, 
là. ông Nguyễn-Ảnh. Đen sau quân Tảy-Sơn giết ca 
hai vị vương rồi, thi giang sơn cơ nghiệp chinh phep 


quân giặc bắt đặng người -với con người, là óng hoàng 

«^yưo„g. Hai đan g tỏ n qui nầy bị dam về thành Phan-Trấn 
(Gia-ĐỊhh). T> 

Ong đạc đức Louvet lại nói, hai vị vương nãy bị bắt tại 
'àng Cao-Giang (tỉnh Loog-Xuyẻn). Nay ta không thấy làng nao 
có tẻn ấy, song mấy người già cả tuoi tác trong xử quyết chac 
rang, lúc trước có nhiều làng gần cù-lao Giêng- khơi đầu tén 
bang chữ Cao: như Cao-Lảnh. Chuyện nói đây là sự truyền ngôn 
mơ màng mà thôi , song trong dó ta chiết ra dặng dêu nay, la 
thuở ấỵ hai vị vựu-ng ăn minh khi thi tại Cao-iinh, khi tại Hồ- 
Ngữ, cỏn chốn tị nan sau hêt lả cù-lao Gieng, chính nơi giăc 
sanh hoặch được hai ông ấy. 

Ta cung xin kề ra sự ông Pétrus Ký nói về chuyện hai vị 
vương bị bắt: . Chúa Dué-Tóng tại Bassac (Cà-Mau) ong hoLig 
Dương tại Ba- Vác (Bến -Tre). 

(1) Ngựdri ta. không còn biêt cho chắc sự hai vị vưong dó 
, c ỊỊĨ u hj n h thề nào. Lời sao khẫu thi truyền rằng, mấy ông 

nây bj trảm quyết tại một chùa kia cất gần dường trẻn diChợ- 
Lửn. OngPétrusKý nói là chùa Kim-Chương (lả nơidến sau nhà 
“ ưóx lập ra sở nuôi ngựa dễ lâỵ giống), ngưỏ-ị lại 

thêm rang, chùa ấy là cũa vua Gia-Long kiến tạo tại nền. cũ 
• f h ? a íL caỡ ; mẻn ’ 5 h ° né® sinh ra chuyện thuật lại sái niẻn canh 
tu ế tbứ, Lúc dó dức hoàng dế Gia-Long tẻn ià Nguyễn-Ành, 
ỆỊẾí' ■ : ..ỵ*rW.m« ; «ỉặQg 17 tụỊSi. Chắc lả tại chứ vả anh người chết 
dị, nén Ịàm cho ngừòi m&i đặng đửhg đần việc nưổ-c. 



của họ Nguyễn đều đễ Jại cho người. Mà đang khi • ->11;; 

ông Nguỵẻn-Anh đợi chờ ngày tốt, -thì ligười quản V 
lấy binh gia mà đánh giặc. Song rủi cho người,. thấy 
chỗ nào cũng., cỏ giặc cản tầm vây bẳt, nén người 
phải trốn lên ằn ngụ trót tháng trong nhà đức giảm 
mục Bá-Đa-Lộc khi ấy ở tại nước Cao-Man, sau chạy 
qua Thồ-Cbâu (là củ-lao tại vịnh Xiêm) mả iị nạn. 

Lúc đó đầu mục qụân Tây-Sợn, ỉả Nguỵẻn-Vằn-Nhạc, 
tưỏ-ng đã hết giậc rồi, nên cfê cỏ một ít binh sỉ ở 
lại giữ Gia-Bịnh, mả trở về Qụi-Nhơn. ông Nguyễn- 
Anh khi ấy còn nhỏ, mới n.èn 17 tuồi, mà người ân 
cần lo lẳng mọi việc; vừa thấy ông Nhạc đi rồi, thi . 
người liền đem quân gia về miền trung châu. Binh 
nầy gọi là Bông-Sơn (núi phía Bòng) mà đối tên với 
quàn Tàỵ-Sơn. 

Nguỵễn-Anh đuoi đặng quân nghịch. Trong lúc 
tranh chiến nầy nhờ có binh Hoà-Ngấi(t) phụ lực. 

Khi khởi hoàng rồi, người lấy tước Đại nguyên 
soái nhíp quôc chánh, người gánh lấy việc đại 
lao như vậy mả khôn nao lòng núng trí bao giờ. ' 

Còn phía Nguyễn-Văn-Nhạe, thời ông nầy xưng 
vương trước đã lâu, lại không đe cho kẻ nghịch củng 
minh ở yên chút nào. Vừa qua ba thảng (nàm 1778), 
thấy ông Nhạc dần binh gia vào nhiều lắm; Song 
số thua nỏ khiến, ông ấy phải lui về cho tới gần 

(í) Binh Hoà-Ngải nầy lả dân khảch tinh nguyện thuộc về • 
một ngtrỏi buôn bán kia mộ, ngirỏi ấy tèn là Lý-Tài, nguyên 
sanh tại tỉnh Phưó-C-Kiến. Ban Sữ quân ấy theo Tây-So-Ii T 
mà giúp thanh nhiều việc. Sau thất trận, bị chúng bạc đãi, i. •' 
nén bỏ qua phò Nguyễn. Chúa Nguyễn cũng đễ cho các quan 
cai binh và cách sắp đặt quàn. Hoấ-Ngải y như cựu lệ, mả 
cho tùng quan thượng công Bồ-Thanh-Nhon, thống suất &Q 
Đông-Sơn. * ■ 



Qui-Nhom, lại bị quan tướng Lê-Văn-Duật duồi theo, 
đánh lấy đặng Bình-Thuận nữa. Trong khi đó, thấy 
có binh tàu thú tại mấy dồn bảo Phú-Yên bỏ qua 
giúp Nguyễn. Còn quân Tây-Sưn, từ khi bãi binh 
Hoà-Ngãi rồi, thi chúng nó khổng còn vi nễ binh 
ấy, tại hế gặp nào lính nào người khách buôn bán 
ở đàu, thi cho người ta giết đi hết. 

Năm ,f 779, có một tốp binh trung-kỷ cung qua : 
nhập với Nguyễn nữà.^Kế vài thảng sau, ông:' 
NguỵễĩỊ-Anh phải qui giản cho nước Gao-Man mấ 
lập lên,, người nối trị chỉnh phép: -Sự phụ. dung 
xứ nầy trở nên thiết cân hơn nữa, nên nó hóa 
ra như" sự bảo hộ kia vậy. Năm 178Q, 'Ồng Ngụyễn- 
Anh bỏ chức đại nguyên soái mà lãnh tước chúa. 
Nàm đó nhảm nàm sanh ra ông hoảng tử cảnh. Cũng 
.trong tháng Janvier 1780, cỏ mấy chiếc tàu của 
ông Cook, lủ người anglais vượt biền có danh, 
qua tại hòn Còn-Nòn, rnà đặng người ta giúp tử tế 
thay vi đức thầy Bá-Ba-Lộe. Sau hết, tại Trà-Vinh 
có người cao-man dậy loạn, song chẳng bao lâu 
bị dẹp yên. 

Năm 1780, chúa Nguyễn đặng một đạo binh 
thật, vởi một đoàn chiến thuyền 80 chiếc và 5 chiếc 
tàu trận đỏng theo cảch tày. Hết thảy xem ra như đua 
nhau mà giúp cho nên việc, song chủa Nguyễn 
lại làm cho mình hư sự, bưi không biết nhẫn 
tâm về đ£u tích phẠn kia phải lẻ. Người dạy giết 
ông Đồ-Thanh-Nhưn, lả chánh tướng quàn Bông-. 
Scrn, mà báo thù về chuyện ông ấy lảm sĩ nhục 
cho bà trưởng công chúa (t). Tức -thì, hai quan 

(i) ỏng đạc dức Launay kéá sái tên quan hrỳng nầy lả 
Phứơng-Công. Thựợng-Công chẳng phẳỉ phươnị, TÌ nó là 



phó tướng Đông-Sơn, là Đồ-Bãng, Vồ-NBản ịpupg 
quân lính minh bồ Nguyễn, trốn xuống miền Mỷ- ' . 

Tho mả ở. Ban đầu đi ăn cướp chúng, sau lại khi 
chiêu qui đặng thiên hạ khá khả nhập bọn với mình, , : -;S; 
thì chúng nọ giục dân đấy loạn. 

Ban sơ, chúa Nguyễn không sá kề chi cơn bạn 
nghịch ấy. Người mẳc vội vã lo việc phục nghiệp, 
bỡi dó thấy người dam dại binh đến đánh quán 
Tày-Sơn mà thỏi.^Nhưng vậy, chuyến nầy người lầm 
về sự người trông ước. Thủy bộ cã hai đều thất c 
rảo, phải thối ve Narh-Kỳ, lả nơi người cần nỏ :• 

lắm. J 

Loạn lạc đã dẫy tràn ra nhiều nơi, đỏi phen 
nỏ cũng đánh thẳng được binh Nguyễn chúa nữa, 
nên phãi nhiều tháng vá nhờ sự nội còng một ít 
quan loạn mới binh khâu đặng. Còn phía trên Cao-* . 

Man quốc lại bị quản xiêm qua ỉoán, mà kbi binh 
an-nam lên, thi nó rút về; sự như vậy chẳng phải 


tước, chỏ- không phải tênngưiri. Theo líri ỏng pẻtras Ký nỏirâng: 
cớ giết quan tướng Bồ-Thanh-Nhưn bữi dng ấy oai quyền mạnh 
thế lắm, làm cho chýa Nguyễn-Anh sinh nghi mà thôi. Quán .> 
thưọ-ng Tộnh-Hoàì-Đức, là ngưừi chép sách Gia-Định thông 
chi, không nói chút chi về chuyện ít thù phụng quan thầy mình 
như vậy. 

Lúc giet ông Bo-Thanh-Nhon, thì mấy bộ tưứng người té n lả:, 
Nguyễn-Huỳnh-Bức, Trần-Búa, Đồ-Vàng, Bồ -Ghe, Vỗ-Nhản vái . 
Bo-Bãng. Khi ngưỏ-i chết rồi, chúa Nguyễn bỏ binh Bỏng-Sírn,' 
không chó làm một đạo riêng nửa, lại .phân bồ nỏ vô bốn qnân . 
thụộc đại binh ngưừi. Còn binh Hoa-Ngài thi bãi đi, chủng nó 
rãi ra ồ* tại Nam-Kỳ, sau sinh con đẻ. cháu, mà không dự chút 
nào vảo vụ dấy loạn như ông dạc dức Launay nối. cỏ khi có 
một phần trong quân ấy đem nhau đến ử Chọ--Ló-n, là cho 
mấy người khảch Mỷ-Tho và Bịên-Hoà dã tứi do mà khai tạo 
cách hai nim trưỏ-c, vì bị-binh Tây-Scm đảnh đu 7 ổi di. 



— Ĩ53 ? — 

bỡi sọ- chi mà không đảnh, song ià tại khi ấy tưỏ-ng 
xièm, tên là Chatri, có chuyện trả thủ vua xiêm, 
là Trịnh-CuộoẦnh (Phỵa-Tan). 

Còn quản Tây-Sơn, thời ban sơ mầc lo sửa sang 
Phủ-Yèn, BÌỊih-Thuận lại mà trị, nên qua tháng 
mars 1782, chủng nó mởi lia ra khỏi miền ấy mả 
vào loán Nam-Kỷ. Đạo thủy Tày-Sơn đông được 100 
chiếc, nhở nước xuôi, gió thuận, hủy đặng đoàn 
chiến thuyền chúa Nguyễn-Anh nơi sồng Nhả-Bè 
phía dưới, tại chồ kêu lả Ngã-Bảy. Trong lúc tranh 
cưò-ng nầy, thi quan cai tàu Emmanuel (1) tử trận 


(1) Quan chưởng thủy Aubaret kêu tên ông nay ìà Manuel, 
còn người an-nam là Màn-Hoè. ỏng đạc đức Launay với 
òug Trương- Vlnh-Kỹ gọi người là Emmanueỉ. ông Trương- 
 inh-Ký thèm rằng, người ở tại xứ tồ quán đức thầy Bá-Đa- 
Lộc (Sách Moraít en actions, tr. 37), còu hai òng Aubaret 
vói Launay thi lại nói ngưòá thuộc v'ẻ tỉnh Bretagne langsa. Sự 
tun kiếm bên nưó-c Langsa vả tại kinh thành Huế cho ra nguyỏn 
tích, có lẻ dứt đặng mấy đều nói khác nhau dó. 

Nhưng vậy, ta cùng xin chỉ ra đây một ít chố sái. Trong sách 
Gia-Định thông chi, tại bài giải trương 49 và 50, thì thấy ông 
■ Aubaret nói như vầy, ông Emmanuel đặng tưó-c khám sai cai 
cơ, ngưỈỊã cũng có thêm rằng: sau khi ôngấỵchết cdưọx phong 
là, hiệu nghĩa công thần quốc trụ thượng tướng quán B. 

Gòn ông Trương-Vỉnh-Kỷ kầ ra như vầy : « ông Emmanuel lã 
của đức thầy Bả-Ba-Lộc dưng cho vua Gia-Long đặng giúp 
ngưò-i, thi người có cho ông nầy làm Khảm sai chưởng cơ ( en - 
voyé royal conlre-amiral). Khi ông ấy‘mạng một rồi, thì tặng 
phong lả hiệu ngãi cóng thần phụ quốc thượng tướng quán». 

Ta có tra kiếm trong sách Gia-ĐỊnh thông chí chừ nhu ở tại 
nhà ông Paulus của, thi thấy dề là : Khám sai chưởng cơ, không 
phải Khám saỉ cai cơ. Chưởng cơ vói cai cơ cũng dông 

y . nghía lãnh binh, tướng quàn, song chức trưó-c ló-n hơn chưc 

sao. Ta cụng xin ai nấy gầm lại, tưó-c quan tứ trụ chẳng hề 
<fè. phong cho Bgưíri ngoại quốc bao giẻr. ống Tnrơng-.Vĩnh-Kỷ 

iÌỊ 11 

ệỊtị-ỉy’: ' . 

’ *■** * . f . ** 

s ỈS; : "’>Ì,' . - 

•>*. • 



cảch thanh danh,* ông ấy quãn đốc chiếc tàu lẵnh 
đi tiên phong, mà lại cung cỏ khi là dẫn đầu ca đạo 
thủy chúa Nguyễn nữa. Rũi cho tàu ông ấy phải mắc 
cạn tại bải bùn nơi đó. Bị quàn nghịch vây, còn 
bạn tàu bỏ trốn đi rảo, nên òng Emmanuel xuống 
dốt kho thuốc trữ dưới hầm cho nồ vở tan mả chết, 
làm cho mấy chiếc chiến thuyền Tây-Sơn xảp đánh, 
mà tưởng đã bẳt đặng tàu người, đều phải hư 
chim ráo. Khi chết rồi, chúa Nguyễn-Anh phong 
tặng ngưò-i là hiệu ngãi công thần phụ quốc 
thượng tưởng quán; còn linh vị người thi đẻ tại 
mièu kêu iả Hiễn-Trung Tự, hoặc Miễu Công-Thầh, 
hay là Miều Họi-Bồng, dường như đền thờ các quan 
binh sang trọng mà đã lặp ra trong năm 1794 (í). 


dịch chưởng cơ lá conlre-amiral , đó là sự diền nghỉa thong 
thả lắm (ta mỏi giải nghía chức ấy). Muốn cho có nghĩa riêng 
như vậy, phải xen chử thảy hoặc thủy binh vào ; song sự đó 
không ích chi cho người an-nam, vì chức ló-Eằ nơi con nhà 
nưóc Nam khôn 'tuy theo tài riêng mà lục dụng. 

(i) Miều nầy ở tại trại lính tập Hội-Đồng (Les Mares) bây giỏ-, 
kề từ khi người langsa dến chiếm cứ xử nầy, thi nó bị đồi. di 
sữa lại, làm cho ra khác xa lắm, không còn trong thề như xưa-; 
nay ngưòá ta dừng nó má làm kho de cho cơ lỉnh tập an-nam. 

Khi quan thủy sư Rigault de Genouilly hãm đặng thành Sài-Gòn 
rồi, thòi thấy cỏ nhiều chùa miều cất từ thành nầy cho tói 
Chợ-Lớn, dều phải quàn binh sữa lại mà phòng thủ; Chắc có 
khi một phần dồ dề trong mấy am tự ấy bị người an-nam đem 
mả giấu di, một phần phải người langsa lấy, còn nhiêu món 
khác bị hủy tan. Bải vị arih hùng' Emmanuel — mà lúc dó ngưò-i 
langsa không biết — thi thuở nay Um chưa ra; chắc có lẻ ngưòi 
ta phá nó hư rồi, hoặc cũng cỏ khi nó về tay một người iangsa 
hãy là an-nam nào đò muốn góp làm của báu, mà khỏng đọc 
đặng cảu chử tạc vào bài vị, lại chắc cũng chẳng hgở là có ích 
chi khi giãi đặng nghla nó ra. 



— 455 — 


Chúa Nguyén-Ành thất trận khốn nạn như vậy 
mà không rủn chí chút nào, người lại muốn đánh nữa. 
Song luống công cho người ; vi cung gần trong khi ấy 
người phải bỏ kinh thành mả chạy xuống Mỷ-Tho. 
Lần nầy là lần thứ hai, binh Tày-Sơn (có hai anh 
em Nhạc, Huệ thống suất) nhập thành Sải-Gòn ; cung 
ỉà lần thứ hai Nhạc, Huệ sơ ý, đễ lại một ít quàn sỉ 
ở giữ Nam-Kỷ mà trở về QŨi-Nbơn. Bỡi vạy, khi 
Tây-Sơn phục hoàn rồi, tức thi ông Nguyễn-Anh 
đáo lại, đảnh đuồi quàn Tây-Sơn đi. 

Qua tháng ma rs 1783, thấy quàn nghịch chường 
điện một lan nữa tại sông đi lèn Sài-Gòn cùng đánh 
phá đạo thủy chúa Nguyễn-Ành, nên người phải lui 
vê Mỷ-Tho. Đã vậy ông Huệ lại đuồi theo mà hủy 
đạo binh người. Chúa Nguyễn lảm hết sức mới ra 
khỏi miền trung chàu, mả qua trốn bèn củ-lao Phú- 
Quốc, quân nghịch rược theo sau gần. lầm. Nhò- có 
một quan kia tận trung với người, lả Lẻ-Phước- 
Điên, xin lấy áo cẫm bảo ngưỏ-i mà mặc, nên người 
mới vượt ra khỏi trùng váy mà chạy qua hòn Côn-Nòn. 

Chốn người tị nạn dó chẳng khỏi bao làu phài quàn 
giặc hay biết, ỏng Huệ sai binh đến vày hòn ấy. 
Song nhờ có một cơn bao dữ tợn nỗi lèn, làm 
cho ghe thuyền tảỵ-sơn bị trôi tấn lạc, nên chúa 
Nguyễn mới cỏ thê mà chạy trở về Phu-Quốc ; ở 
đó thốn thiếu mọi vật, Dgười chịu gian truân khòn 
xiết. Chúa Nguyễn thất chí. không trông cậy đặng 
sự chi nữa, mới đi tìm người trước có cho minh 
đỗ nhở, là đức thầy Bá-Ba-Lộc (1), mà khi ấy chính 

(1) ởng Pierre-Joseph-Georges Pigneaux de Béhạine sinh ra 
nhằm ngày mồng 2 tháng novembre 1741, tại lảng Origny (thuộc 
về dịa -phần đức giám mục thành Laon). Ngưôi dạng phong 



— 156 — 


vỉ người cung phai lưu linh với chư đệ - tử ; tại mấy 
hòn trong vịnh xiêm nữa. ông Nguyễn-Anh gặp người 
tại Chưn-Bun, thời cậy người về xin vua nước Langsa 
giúp minh. 

Đức giám mục phụng mạng, vã chăng người cỏ 
chỉ bảo chuyện ấy cho chúa Nguyễn; người đam 
thái tử Cảnh theo, khi ấy ông nầy còn nhỏ tuồi. 
Dầu vậy, sự người xuất hành phải bị trề tràng, vì 
qua tháng đẻcembre 1784 người mới dời chân ra khỏi 
xử Tam-Kỷ, rồi ghẻ Maỉacca, Pondichẻry (ợ đó đăng 
một năm tám tháng), sau người có qua tới tại cữa 
Lorient thì là nhằm tháng fẻvrier 1787 mà thôi. 

Quyền đức giám mục Bá-Đa-Lộc đặng nơi chúa 
Nguyẽn-Anh thới tại trong ngọc ấn và lời Viện Cơ- 
Mật bàn nghị, mà ta chép ra sau đày bồn chánh 
rút trong sách ông đạc đức Louvet ( Mgr d’Adran ) : 


làm chánh tế trong nám 1765, kế người xuống tàu liền 'tại hãi 
khầu Lorient đặng sang qua Nam-Kỳ mà giảng đạo, là noi 
người đến nhằm năm 1767, ghẻ tại cữa Can-Cao (Hà>Tiên). 
Lãnh dạy sách đoán tại trường mrõ c Xiêm, khi ấy lập tại Hòn-Đất; 
mà bỡi ĩr chẳng an nơi, nên.nàm 1770 người phải bỏ chồ ấy mà 
đam các môn đệ người qua lối gần thành Pondichéry, cậy có 
nhà nước Langsa che chở. Khi ở dó, ngưòi dược sắc Tòa-Thảnh 
phong ngưòi làm giám mục Bá-Ba-Lộc, tùng dức thầy Pignel. 
Dầu vậy, qua nám 1774 mói làm lề tôn người tại thành Madras 
mà thôi. Cũng nội năm ấy, người qua Macao, rồi trỗr lại Hả- 
Tiên (1776). Bơí thấy không cô thế chi mà ở vẻn đặng tại miền 
nầy, nên qua 1779, người phải đem các học trò người lẻnTâữ- 
Triều (gân tĩnh thành Biẻn-Hoà), là Dơi ta cũng có thấy chúa 
' Nguyễn- Anh tỏứ ngụ dó nữa. 

Sự dức giám mục Bá-Ba-Lôc còn hưởng thọ mấy năm sau, 
thi nó hòa hiệp vói truyện nưức nầỵ và đíri chúa Nguyễn- Anh 
trị cách chí thiết lẳm, nẻn tự nhiên mới có chồ kề chuyên nó 
trong chánh văn khoản nầy. 



LỜI VIỆN CƠ-MẬT (i) XỚ TRUNG- KỶ BÀN NGIIỊ. 

Viện Ccr-Mật bàn nghị về việc nhà nưóc kim thời, định ra 
như sau nầy : 

1° Sự một nưỏ-c đại lài nào bổn. phương Tây mà cửu giúp, 
thi là cân kip cho vua phục vị, đình thần xin đức vua giao phân 
vtệc minh cho vua nưức Langsa, vi tài phép, lòng quảng đại 
và sự công bình nhà nưó'C ấy thi đức vua dã biết cùng chuộng 
hom nưó-c khác tại phưomg Tảy. 

2° Băng khỏi ra vả tính toán cho xong việc trọng ấy, đinh 
thần xin vua cậy đức giám mục Bá-Ba-Lộc, nguyên là ngưòã 
iangsa, mả trong cả nước dêu biết ngưòi đã lâu về sự khôn 
ngoan cùng mộ sự làm lành. 

3° Bức vua sè ban cho đức thầy rộng quyền đặng thay vì 
vua, mà xin Triẽư-Đình nước Langsa các sự cứu giúp cần 
kỉp, lại tinh toán vói Triểu-Binh ấy mấy sự nào xứng dáng 
và thuận tiện hơn hết, có ích cho hai nưửc. 

40 ôặng làm cho Tnêu-Bình nước Langsa tin chắc chắn về 
ý ngay lành vua, thòi dinh thần xin vua bằng lòng giao hoảng 
tử, con một vua lại là đứrig nối trị trong nirỏ-c, vao tay đức 
thầy ỉangsa, phú cho ngưòũ xem sóc, dạy dỗ hoàng tử rất 
yêu dấu của vua cùng rất quí bâu cho cả vả nước. 


(1) Trong sách ông đạc đức Louvet viết như vầy : conseil 
royal nghĩa là quốc vương hội nghị. Về sự kêu là « vương » 
và « vua Trung-Kỳ » mà chúng ta gặp noi tích k’ê dày cung 
nhiều Tân khảc trong sách nầv, thi ta xin ai nấy rỏ lại, tưfrc 
vứơng (vua) mà õng Nguyễn-Ảnh lấy đó, và các chúa trước 
ngưòi cũng xưng như vảy nữa, thì không cân xứng vói phận sự 
minh khi sảnh cùng các vua nhà Lé, vi các vua ấy trị cả nước. 
Cùng phải nỏi là tại mấy vua nầy không có sức mà ngán cẵng 
đêu gHiết. Trong dó có sự xưng quá tưó-c hay là tiếm vị, 
nên mấy vua ấy gánh vác việc như vậy, sọng dôi phen cùng 
dặng dều thạnh lợi một th£ vó-i các dửc hoàng dế Trung-Quốc 
về quyền thưọmg thủ trẽn nước An-Nam. Lời bàn nghị in ra 
sau dày là một d‘êu làm chứng chuyện ấy, vì sau lòi bàn nghị 
có câu nầy: « Bàn nghị ..... 'Kien-Hưng tứ thập tam niên » 
ữghỉa Hi năm thứ bốn mươi ba dửi vua nhà Lỗ trị nước. 



— 158 — 


5° Muốn cho khỏi đều bất tiện, cùng cho dưọ-c biết chắc 
mấy điều viết bằng tiếng ngoại quốc tại nưỏ-c nảo mà không 
có thông ngôn khác, trừ ra mấy ngưỉri thuộc việc mà thổi, thi 
đinh thần xin vua lấy lòng tốt mà giao chánh ấn của vua, lả 
quốc bửu cà và nưức lấy làm trọng dưcrag như 'Sắc phong 
vậy, .hầu cho Triẽu-Đinh nước Langsa, dầu cách nào, cũng 
chăc ỷ về quyền phép ông giám mục Bả-Đa-Lộc. và trông cậy 
dặng sự mình tinh làm sẻ thành công. 

6° Bức thầy xin Triều-Binh nưó'C Langsa giúp một ngàn 
rưổi binh, tàu thuyền cho đủ mà chỏ' binh âỵ, súng xe, thuốc 
đạn, ca thảy nhùng đồ cân kíp và cỏ ích trong khi hành 
binh. 

7o Sẽ cho theo hai quan lớn trong triều vói mấy kẻ hầu hạ 
cán kíp đề phòng dạy dỗ thái tử và đề hộ tùng đức giám mục 
Bá-Ba-Lộc. Hai vì quan lớn ấy cũng làm chứng về sự vua thật 
lòng muốn giao ưóc với Triều-bình nưfrc Langsa. 

8° Õng giảm mục Bá-Đa-Lộc lãnh việc, thay vỉ vua và Viên 
Cơ-Mật ngưcri, mà bàn tính nhưòmg lại cùng cho vua nươc 
hangsa dăng toàn quyền quần trị cù-]aoj là noi cỏ cảng khấu 
ló-n ho-n hết trong cà và nưỏ-c Trung-Kỳ, mà ngưòi langsa kẻu 
nỏ là cữa Touron (Tourane), còn ngừòi trung-kỳ là Hội-An, 
đặng lập dinh trại theo cách và theo hình dáng nào mà người 
iangáa định là phải lẽ hon. 

93 Vã lại nhànưức Langsa dặng phép làm chủ cữa biền ấy chung 
vỏ-i ngưừi trung-kỳ, hầu cho dạng gỉn giữ, sữa lại, cùng dọng 
các chiếc tàu nào mà Triều- Binh nưó-c Langsa định là cần kíp 

to Bức thầy cũng bàn luận vói Triều-Đinh nưỏ-c Langsa 
mà cho hòn kẻu là Côn-Nỏn. 

llo Trong chư quốc Tây phưong, thi trừ ra có một mình 
nưức Langsa dăng dửc vua cHo phép buôn bán trong nước 
người mả thỏi. • 

12o Như nưó-c Langsa làm cho dức vua khôi phục đặng 
và ủng hộ rtgưòi ỏ- ạn trong nưỏ-c, thi dức vua sẻ buộc mình 
mả gịứp lại vua nước Langsa binh bộ, binh thủy, lưưng phạn, 
tàu bè V. V. mồi khi nào vua ấy xin, bất kề cần Sự tại chỗ não. 

13o Viện Ccr-Mật xin vua chó ông giám mục Bá-Ba-Lột hay 
trưỏ-‘c ráng, như Tnêu-Binh nưức Langsa có dòi sự gi mà đức 



459 — 


vua không dịnh liệu đặng trước, thòi đức thầy có chịu là khi 
nào mấy điều buộc ấykhòng làm thiệt hại chút chi về sự thạnh 
lọi dân', ngưối, vì vua là cha cùng là đấng bào chủ cho chúng 
nó, lại bỏi dức thây hiều thấu thói tục nirức Trung-Kỳ, nên 
ngưòi trân* tỏ cho Triều-Binh mró'C Langsa biết tờ giao ưừc 
vua .muốn lập với Triều-Đinh ấy, thật chắc chắn trong mấy 
nhiêu điều nào mà càn phàn cùng ti ích cho hai nưó-c giao kết 
mà thỏi. 

14° Sau hết, Viện Co-Mật xin vua cho ông giám mục Bá-Đa- 
Lộc rỏ sự nầỵ, khi phú thác số phận vua và số phận thần dản 
vào tạy ngưòi, thi vua ngóng trông lòng ngưòi trìu mến vua, 
đặng ngưòi dụng cảch khỏn ngoan và duệ tri ngưòi, là sự vua 
hằng biết, mà lo vụ tính toán nẫy cho may mắng tùy theo cơ 
quan thề nào ; lại bỗ-i cuộc ttnh toán dó mà nôn quờn giám 
mục cùng chăng, là việc người hằng ân cần lo lẳng, lại cũng 
vì nó mà bấy lâu ngưòi liều nhiều (lều rất trọng ; sao nữa, tại 
sự thành còng mà ngưừi cho biết lòng nhản từ đấng Chl-Tôn 
mà người là chánh tế, và sự thi ản vị dại vương langsa 
mà ngưòi là th'Sn hạ, thò-i ngày sau ngưò-i đáng cho đức 
vua và cho cả và sinh linh irung-kỳ cám on mến đức người 
muôn kiếp. 

Bàn nghị tại Viện Cơ-Mật, nhằm mồng mưỏ-i tháng bảy, đòi 
vua Ki^n-Hưng tử thập tam niên. 

Đức giám mục Bá-Ba-Lộc phụng lảnh đam lởi 
bản nghị nầv theo với một bức thơ của chúa 
Nguyễn-Anh ngự bút gởi cho vua nước Langsa. 
Thơ ấy viết như vầỵ: 

Bại Quốc Vương, 

ề 

Dầu nưó-c tôi tuy nhỏ mọn không: lẻ sánh cùng qui quốc, 
dầu dàng xa cách ngàn trùng lảm cho hai nước ta không dược 
gân nhau, nhưng vậy, tôi quyết chắc qui quốc cũng tin lòng 
tòi thiệt thà, tồi y theo' ý giám mục Bá-Đa-Lộc, là ngưòi lãnh, 
con tin; tôi nhứt tinh gởi thơ cho quí quốc. Tôi phú con tôi lá 
dông cung Cảnh cho ngưòi lãnh con tin, tòi giao ngọc ấn 
trohg^nước tôi cho ỏng ấy dăng qui , quốc lấy làm tin, cho ông 
ấy iói chầu quí quổc và xin quí quốc giúp cảc điều cần kíp 'đặng 



- m — 



trờ v'ẽ nưỏ-c tôi. Biết chắc qai quốc có lòng nhon đợc lén, í 
tôi tin thật qui quốc sẻ khừng- chịu lấy con mọn tồi, và thữong 
xót về số phận tỏi, lại tôi ưởc' trông trong một ít lâu tôi sẻ 
đặng vui mừng yì thấy con tỏi trồ’ về, lại dưộ-c mọi điều cứu 
giúp cần kip. Tồi ngóng tròng cho ỏng giám mục lãnh con 
tin trỏ* về, cùng xin qui quốc tin tôi hằng có lòng cám tạ về 
những việc qui quốc làm on cho tôi. 

Khi chúa Nguyễn-Anh gặp củng tinh toán xong với 
đức thầy Bá-Ba-Lộc, thì người ưửm đảnh thữ mà 
lấy Nam-Kỳ lại, song rủi cho người, vi chuyến nầỵ 
gặp quân nghịch canh giữ. Ban sơ người thẳng một 
ít trận, song chẳng khỏi bao lâu người phải quan 
nguyên soải tày-sơn, là Trương-Văn-Đa, rề ông Nhạc, 
làm cho người không còn đảnb đặng nữa (năm 1783). 

Bỡi vậy, vị vương chịu gian truân nầy mới qua 
Bangkok đặng xin cứu giúp (thảng avril 1784). Vua 
xiêm cỏ xuất cấp cho ngươi (tháng juillet 1784) 
20.000 binh vó*i 300 chiến thuyền. Nhờ đạo binh 
nhỏ ấy người mới soán đặng lại Tân lần Ba-Vảc, 
Trả-ổn, Mân-Thít cúng Sa-Đéc. Người thắng trận 
tại Mân-Thít, mà người mất quan tướng giỏi hom * 
hết là Châu-Văn-Tiếp, sau người bị thất tại. Rạch- 
Gầm (thảng janvier 1785). 

Chúa Nguyễn-Ành phải trở qua Bangkok mà tị nạn 
lại nưa, thì vua xiêm có tiếp rước người cách trọng hậu. 

Sau mấy chuyện nầy thời đưc thầy Bá-Đa-Lộc 
mới dỏ*i ra khỏi xử Đông-Dương. 

Chúa Nguyen-Ành ở lại vài năm tại nước Xiêm 
với cung quyến người củng một ít quan quàn trung 
thần. Đến sau, người có dự cách thơm danh vảo 
vụ giặc xiêm đánh với quân miền-điện (1786), đoạn 
người có khữ trừ giùm quàn phỉ tặc malayủ cho 
hết phạm hẵi biên Xiêm quốc. Ta xin đễ dẹp may 



— 161 — 

việc chúa Nguyễn làm đó đặng trở lại chuyện chúa 
Trịnh mã ta đã bỏ qua lối năm 1776. 

TÂY-SƠN VỚI TRỊNH THỊ TẠI BẲC-KỲ (1776- 
1786). — Khi thẳng đặng Nguyễn rồi, thỏi chúa Trịnh- 
Sum phản đặt binh sỉ f ỏ lại Thuận-Hoả, tính sữa 
sang dất minh mới chiếm. Mà rủi bị mấy con người 
tranh giành sự nghiệp ngưòà, không đe cho có ngày 
giò* mà lo xong việc, nên người phải kíp trở về Bẳc 
rồi cách vài nàm người từ lộc (1781). Trịnh-Giai, 
là con, nhử có binh dàn tí hộ, phế em là Trịnh- 
Cán xuống mả soán ngôi, vì trước được chúa Trịnh- 
Sum định lập mà nối quờn cho người. Khi bị 
giáng xong thời Trịnh-Cán sống không dược bao ỉàu 
mả chết. 

Trong lúc ấy, quàn Tày-Sơn đã tu bồ chẳc chán 
mây tỉnh minh, rồi tính di lần lèn hướng Bẳc.Nguyẽn- 
Văn-Nhặc quyết lòng đảnh lấy Huế. Nhờ có em lả 
ông Huệ với quan tướng bắc-kỷ, Ngưyễn-Hữu-Chĩnh, 
* dã bò Trịnh qua giúp, nên ôngNhạc mới hảmđặng kinh 
đỏ Trung-Kỷ gần như không đánh chút nào vậy (năm 
1784). Vì trong lúc ấy, quan trấn thủ thành Huế 
trở phản lại với chúa mình, là ra hàng đầu quàn 
Tàỵ-Sơn. 

Nguyễn-Hữu-Chỉnh đốc ông Huệ, khi ấy làm thống 
lảnh bỉnh, lấy bốn chữ: Phò Lê, diệt Trịnh lảm hiệu 
đề cờ mà kéo thẳng ra đánh Bẳc. Bối đỏ, ỏng Huệ 
không gặp bên Trịnh chốngtrả lại bao nhiêu. Vì thiên 
hạ sợ và ghét Trịnh-Giai, khồng ai chịu theo hểt. 
Ghúa Trịnh phải bỏ Hà-Nội trốn di một minh, lại bỡi 
tim chẳng đặng người nào mà dẳc giùm voi, nên 
ngưừi tự vận (1786, t. 6). 



— 162 — 


ông Huệ, vi hiệu cớ mình, nên kính vua LẽỊHiẹn- 
Tông, khi ấy đã niên cao kỷ trưởng; vua cỏ trọng 
đải ông Huệ và phong tước quốc công(t) cho người. 
Cách vải tuần lề sau, vua lại gẵ công chúa (2) cho 
ùng ấy nữa. 

Lúc quàn Tày-Sơn tó*i thời vua Lê-Hiền-Tòng đã 
nhốm bịnh rồi, nay người ♦'•lại thấy nỏ càng mau 
nặng lắm. Khi ông Huệ nhập thảnh Hà-Nội được 
hai tháng, thi vua Lê thống hà; người đặng 70. tuồi 
(1786, t. 7) ở ngôi 47 năm, mả không dụng quờn 
trị nước chút nào. 


LÊ-CHIÊU-THỔNG (1787, nt. t. 7 -1789).- Khi 
vương lảo yến giả, người không di chỉ lập ai nối 
trị cho người, nên nhờ có ỏng Huệ bằng lòng, thời 
triều đình mới tôn Lê-Duy-Khiêm, là một vị trong 
mấy hoàng tòn, lèn kế nghiệp, ông nầy cải nguyên là 
Lê-Chiêu-Thống. 

Trong lúc ông íluệ đam binh ra đánh Bẳc lần 
thứ nhứt như vậy, thì lảm cho ông Nhạc sinh lòng 
lo sự cùng ganh gỗ, nên ông Nhạc tuốt theo, rồi 
chẳng khỏi bao lâu thấy hội nhau lai mà bàn nghị. 
Cỏ một vi quan kia, tên Vỏ-Văn-Nhàm, cảo quan 
tướng Nguyễn-Hữu-Chỉnh, là người sứ việc cho Ong 
Huệ, rằng hay chiẻu quyền vỏ lộng. Cách vài bữa, 


(1) Lả tưó-c quyền quí. Quốc — nước, công là tước 
quyền qui. 

(2) Hiền tê vua kêu là phó mả ; phò = giúp, binh vực ; 
ma — ngựa. Nghĩa hai tiếng nầy là « ngưòi dần ngưa cho vua 
ngự di, dăng phép lại gần ngựa, voi vua ». 



— 163 — 


ỏng Nhạc phụng hạ vua Lẻ-Chièu-Thống, thỉ vua 
tỉnh chia phân nữa xứ Bẳc-Kỷ cho người; song òng 
Nhạc chối từ không chịu, nói binh sỉ mình đến 
đỏ là có ý cửu vua cho khỏi Trịnh hiếp chế mả 
thôi, không phải đặng lây đất người. 

Haranh em Nhạc, Huệ đã nhứt quyết hại tướng 
Nguỵễn-Hữu-Chỉnh, nẽn một ít lâu sau, nhom dịp 
ban đêm trời tối, cả hai đem quân gia về Nam 
ráo, song trước cũng không quèn cho kẻ vô từ vua 
Lê và mật lấy hết của kho người nữa. Nguyẽn-Hữu- 
Chỉnh ơ hờ, khổng dẻ binh đi, vi trước ông Nhạc 
có bieu người lo sửa sạng mả làm lẻ thải miếu, 
nên sảng ngày thấy dàn dã hầm hầm muốn giết 
người, vi người bội quốc. Ngu yễn-Hữu-C hỉnh tả 
đục hữu xông, chạy xuống dăng dưới chiếc ghe 
kia với một ít tên thủ hạ mà thoát khỏi nạn. ỏng ấy 
riết theo, gặp binh Tày-Sơn tại Nghệ-An, thi Nhạc, 
Huệ lấy lời từ tế vồ về mà chữa sự mình quèn, 
rồi dề người ở lại lo phòng thủ tỉnh Nghệ-An. 

Ta không bỏ qua đặng tánh ý ăn ở theo người 
cảnh đòng như vậy, vi đòi phen sự bất vỉ chi làm 
cho phải sững sờ quá đồi, dầu vậy, khi đến chuyện, 
thời lại biết cách chấp lấy những lời dối trả thô 
kệch hơn hết mà không lưỡng lự chút nào. Trong 
việc nầy không ai bị gạt gằm hết. Hai bên cũng 
đông sọ* nhau. Chắc có khỉ đôi đường dùng sự giẵ 
dạn ấy đặng cho có nhiều ngây giờ mà lo, và kiem 
dịp tốt hom. Tàm tánh người Táy phương khôn hề 
chịu dặng sự chữa minh bá láp thề ấy bao giờ, vừa 
lúc ban sơ thỉ nỏ đà cả kêu rằng là bội ước, rồi 
khí trượng định số cho hai dàng. Bơi dòng dối da 
trảng lấy làm trọng nhứt về sự đanh tiếng, về lời 


i 



ừng chịu, đều ‘nhừ vậy không phải là phi'.] ỷ' đàu- 
.lại nỏ ỉả việc loại đa vảng mới thấy xoáng qua mà 
thôi. Sự thốn thiếu ý ngay thật trong việc quốc 
chánh củng binh tinh, thi sanh ra phần nhiều trong 
những chuyện ưu phiền và hoạn nạn cho bao nhiêu 
người tàu thời cũng bấy nhiêu cho người an-nam, 
rồi mấy người ấy đồ lôi lại tho người phương Tây. 
Trong khúc sách nối sau đây, ta có dịp mả nói lại 
nhiều lần về chuyện nầy, ta không bỏ qua nó dâu, 
vi chưng nỏ cho ai nấy biết bổ-i làm sao mà cỏ nhiều 
sự biến, nhiều thi thế quốc chánh như vậy, nếu như 
không nỏ, thời mấy sự đó không lý nào khác, có 
một đều lả chuyện húngảc tầm thường kia mà thòi. 

Khi quàn Tây-Sơn vừa dời chơn ra khỏi thảnh 
Hà-Nội, thi họ Trịnh đáo về. Trong hai vị vương 
là Trinh-Đệ với Trịnh-Phủng tranh nhau mà iàĩn ỉửn, 
thi Trịnh-Phủng thẳng, nên vua phải nhìn mả phong 
ấm lưu hậu cho người. 

Rủi thay, ông Trĩnh-Phủng cung không biết chế 
trị cho vừa chừng hơn chúa trước, ông ấy lại lộng 
quyền quá tước, chỉnh vi vua cũng sợ cho bỗn 
thân người, nèn người xin Nguỵễn-Hữụ-Chỉnh cứu 
giúp, ồng nầy kip dẳnmột 10.000 bình tới, ép TrỊnh- 
Phủng ra khỏi Hả-Nội. Song quàn sĩ . nhà vương 
phâi đảnh hơn ba tháng mới phá tan đặng binh Trịnh, 
từ ấy sữ mới thôi nói tỏi việc Trịnh nữa. 

Ta mới thấy tướng Nguyễn-Hữu-Chĩnh bỏ Nghộ- 
Ần mả khỏng lo sợ Nhạc với Huệ ỉà bao nhiêu, vỉ 
lúc dó hai òng nầy đang tranh quừn nhau cách cháng 
Chường. Ong Nguyễn-Hữu-Chỉnh cũng muốn tách 
lập một nước riêng trong xứ Đại-Nam cho minh nữa. 

ỏng Huệ đem binh vào váy Quỉ-Nhơn. ỏng Nhạc 
phải triệt quàn gia cố thủ Trung-Kỷ về, song bình ấy 



- 165 - 

bị thất tại Phủ-Yồn. Hai vị đồng tranh nầy đánh 
nhau một lúc dử tợn quá sức, sau mới giảng hòa' 
vả phân Trung-Kỷ ra làm ba xử. 

Nhạc xưng là hoàng đế, đặng phần đất tử phỉa 
bắc tỉnh Quảng-Nam cho tới biên giải nam tỉnh Bình- 
Bịnh. 

/ " Huệ lấy hiệu là bẳc- bình vương, trị Lử Qưảng- 

Nam cho tới cương vực Bẳc-Kỷ. 

Còn Lử tiếm xưng là đông định vương y lảnh 
phần đất tỉnh Phú-Yèn, Bình-Thuận với Nam-Kỷ. 

Phân chia vừa rồi, ồng Huệ sai binh đến soản 
Nghệ-An vả sắm sữa ra đánh Bẳc, vi trước ngưỏ-i 
có nghe tin rằng ông Nguyễn-Hữu-Chỉnh đã bỏ mà 
đi ra Hà-Nội. 

Hai tướng Huệ lả Vô-Yăn-Nhâm với Ngô-Ván-SỞ, 
tấn binh đảnh Hả-Nội (lúc cuối năm 1786), ông 
Nguyen-Hữu-Chỉnh thất thủ dường như chẳng đánh 
chút nào vậy, dầu cho khồng phải lả người thiếu 
sự từng trải binh thơ đồ trận hay lả lực lượng 
chi. 

Khi Nguyễn-Hữu-Chỉnh thua chạy, bị sa vào tay 
quân Tảy-Sơn, quân ấy dạy phân thây người. 

Gòn vua Lê-Chiêu-Thống cung phải đào tầu nữa. 
Từ đây òng Huệ mới ra Bẳc. Việc người làm 
trước hết, là xử 'tử tẳt quan tưởng Vỏ-Yăn-Nhám, 
bơi lảm cho ngưòũ nghi ngại, rồi cho Ngô-Văn-SỞ, 
là người mật cáo, lên thế quyền. 

Các công việc quan, thượng tướng tàn phong nầy 
lo lảm đều chỉ về sự tấn binh đảnh bẳt vua Lè- 
Chiêu-Thống đang chạy trốn, sau người qua ằn ngụ 
đặng tại .Lạng-Gi ang (tỉnh Bẳc-Ninh). 

Chuyển nầy ông Huệ mới tưởng hết chuyện với vua 
Lể-Ghiêu-Thống. Bẳt các qúan cựu trảo tựu -lại, 


i 



buộc ký tên vảo tờ mả nhih bĩết ông Huệ' là BẳCrKỷ 
vương (năm 1787). Đoạn người trở về kinh đô minhị 
giao quyền cai trị xử Bẳc lại cho tướng Ngô-Văn-SỎ’. 

Nhưng vậy, khi bả quốc mãu với hoàng tử nhà Lê 
chạy trốn, thi qua tới Long-Châu bèn Tàu. Quan tỗng 
* đốc hay tỉnh Quảng-Tày với Quảng-Đỏng nghê thuật 
chuyện hoạn nạn, người cụ sớ cho đức hoảng, đế 
hay, trong đó người giúp lời binh vực nhả Lê, 
nèn sau cỏ một đạo binh thanh kẻo qua loán Bắc-Kỳ 
và ép quàn Tây-So-n thối về cho tới giáp giải. Vua 
Lê-Chièu-Thống liền trở về Hà-Nội, lả nơi người 
lãnh sẳc phong An-Nam quốc vương củng kíp lảm 
nhiều đều ác đức. 

Còn ông Huệ, khi hay thì thế các chuyện như vậy, 
thi người bèn xưng đế, thâu họp đặng 80.000 binh, 
rồi kéo vào đất Bẳc. Binh thanh thua, phần nhiều 
bị giết chết. Vua Lê-Chiêu-Thốngphải chạy qụa Trung- 
Quốc mà ở (1789, tháng giêng), sau thấy vua nhả 
Thanh lại nguôi lòng đồi ỷ, chịu thòng với sử ông 
Huệ. Cỏn vua thi đem về Bẳc-Kinh. Người thanh 
nuôi dưỏ-ng vua cách tử tế, song như một vì vương 
kia bị phế mả thôi. Qua năm 1791, người củng 
hoảng tử cẳ hai đều bỏ mình tại bên ấy. Vua Lê- 
Chiêư-Thống mất đi thỉ nhả Lè dứt tuyệt. 


NGƯYỄN-ANH (1786 — 1802). — Chủng 'ta đã 
thấy trước, khi chúa Nguyễn-Anh bại trận rồi, người 
sang qua thành Bangkok mả tỉ nạn, thi vua Xiêm 
có tỏ lòng tử tế với người. Nhưng vậy, bơi lầu 
ngày, nên các sự hảo tâm dó ra phai lợUNăm 1787, 
mấy người portugais ỏ* thành Goa có sai một 



— 167 — 


ngứời đồng hương vửi minh qua dưng công xin 
giúp Vua phục nghiệp. .Đinh thần xiêm thấy vậy 
ganh, mới quyết chắc rẳng, đề khi nào có dịp tốt 
thì chính vi minh lảnh mả -dem chúa Nguyễn-Anh 
về nước người mà thòi. 

Thuở ấy, ỏng Lử là người bất thông binh phảp và 
• • việc quốc chánh, ngưỏù quãn trị Nam-Kỷ, nên khó má 
làra cho các phó tướng nghinh ngang nghe lởi minh. 

. Vã chăng, quàn Tày-Sơn đã yểu sức rồi, bơi vụ tranh 
nhau mả ra. Vậy lúc đó thuận cho binh xiêm xuống 
đánh. Song vua xiêm cũng không lảm đều chi hết. 
Chúa Nguyễn- Anh ngã lòng, không còn trông đặng 
sự chi nữa, người mói uhứt quyết dời ra khỏi 
-'thành Bangkok, là nơi ngưỏ-i chịu cũng dường như 
giam cầm vậy. Chúa Nguyễn vửi mấy kẻ thuộc về 
người dam nhau ra Hòn-Tre mà trốn (1787, t. 7). 
Sau ngưòà chạy qua Phú-Quốc, đễ cung quyến người 
ở lại dó mà vò Hà-Tiẻn. Người có trừng trị đảng 
1 ăn cướp kia đánh phá dàn xièm, rồi người cũng 
dùng dịp ấy mả làm cho minh hoà hảo lại với triều 
dinh Bangkok. 

Chúa Nguyễn bỏ Hả-Tiẻn di qua Vũng-Tàu, đoạn 
theo sòng mà lẻn. Bạo binh người mau đông ỉẳm, 
một ít. lâu thấy nỏ nhạn trước thành Sài-Gòn, coi 
bộ đáng kinh và hung hăng lẳm. Ong Nguyễn-Văn- 
Lữ, là vua tày-sơn, đã không đánh, lại tỉnh khôn hơn 
mà thối về Biên-Hòa, giao việc cố thủ kinh thảnh lại 
cho thái bảo Phạm-Văn-Ngạn. Ban sơ chúa Nguyễn- 
muốn lấy Sài-Gòn, song bị thất, sau đánh lại nữa. Lần 
lần Sa-Đẻc, Vỉnh-Long, Mỷ-Tho, Biên-Hoà đều về 
tay người, còn Sài-Gòn thì qua thảng 8, năm 1788, 
mới lấy đặng. Đây là lần thử tư, chúa Nguyễn- Anh 



~ m — 


trơ về dinh Nam-Kỳ người. Đến sau người có ra 
khỏi nó, là cho dạng đam binh đi đảnh lấy kinh đô 
tiẽn nhơn người mả thôi, là: Huế. 

Trong lúc chiến tranh nầy, hai anh ông Lử mẳc 
phải nhiều việc, ông Huệ đang lo chống trẫ binh 
thanh xàm lấn, cũa vua Lê-Chiêu-Thổng thỉnh, còn 
ông Nhạc lo chỉnh bị nưởc Bình-Bịnh mình lại cho  
vững chẳc cùng lảm cho ông Huệ hết mơ ước. Bỡi 
vậy, ỏng Lử không nhờ đặng thân huynh người 
cứu giúp sự gì hết, nên vừa bước qua nàm 1788, 
ngưòù bỏ 'dửt xứ Nam-Kỷ, không còn tưởng tới quân 
sỉ mình dang lo chống trã vởi binh Nguyễn nữa. 

Chủa Nguyễn dã đặng sự cỏ phước như vậy, lại 
thêm một đều khác cũng đồng hữu ích cho chuyện 
mình. Là đức giảm mục Bả-Đa-Lộc đi. sử bên nưởc 
Langsa về vớĩ ông hoàng tử cảnh, cã hai cách mặt 
đẫ bổn năm. Đức thầy được vua Louis thử XVI 
phong cho người làm khâm sử đại thần chầu vua 
nước Trung-Kỷ' lại đặng cấp theo một tờ giao 
lần' nữa, song mẳi phải ý xấu quan tước bá De 
Conway, là thống đốc xứ Pondichéry, lảnh cuộc hành 
binh, vả cũng tại mấy chuyện đại biến lúc sau bỡi 
hồng loạn langsa ( Rẻooỉution Ịranọaise) mà ra 
nữa, nên làm cho việc bất thành. 

Trong sách hiệu Pigneaux de Bẻhaine của ông 
Kaure làm, thấy người cỏ lo dần giãi rẳng, như lúc 
đó mà không cỏ sai binh thì lồi đồ trọn cho Triều . 
Yersailles mà thỏi, Vì trong khi phú tờ giao.ưỏ-c 
củng quyền hành cho đức giám mục Bả-Đa-Lộc, 
thi lại tống tờ dạy -rỏ ràng ông De Conway làm cho 
hư sự tỉnh toán đi. Trong sách Mgr d , Ảdran in 
lần thứ hai, thấy cỏ đều xẻt nét trúng iỷ của ông 



— Ị 69 — 

đạc đức Loavet giải khác. Cuộc sai binh đã thật lòng 
nhứt định, lại như có lẻ thi hành nó đặng rỏ ràng, thì 
phải làm. Đó là nghĩa chung trọn lời dụ cùng nghĩa 
riêng từ lời nữa. Bức vua với các quan đại thần quấy 
dêu nầy mà thôi, lại làt một đều quấy không chế được, 
là sự phú .cho tự ỷ quan tước bá De Conway đoán 
xét mà định cuộc hành binh nầy có đặng củng chăng. 
Lúc đỏ vua quan đồng biết tánh ỷ hèn mọn quan ấy. 

Ong De Conway, thuộc dòng phiệt duyệt xử Irlan- 
de, ai nấy đều rỏ chuyện hư hốt người làm; nguyên 
trưức có đi đánh giặc bên phương Thế-Gìải-Mời, mả 
bơi hay bày mưu đốc sử cùng có tánh xầu, nèn 
người bị đuôi ra ngoải đạo binh ỉangsa. Nhờ có họ 
Brienne thân thế lo lắng, người mới đặng phục chức 
lại, sau cứ ăn ở lảm cho thiên hạ chịu không nỗi nữa, 
nên nhà nước Langsa mớì sai qua xứ Thiên-Trúc 
đặng cho hết chuyện í 

Trong lúc vua Louis XVI chịu ngự ra chôn minh 
đường đặng cho đức giám mục Bá-Đa-Lộc bải tạ hồi 
qui, nhẳm mồng 8 đécembre 1787, thi' chứng rằng 
đức vua biết rỏ lực lượng quan tưó-ẹ bá là dưòrtg bao, 
vỉ người cỏ phán như vầy : « Bức ỏng, ý đưc ỏng 
tưởng sự phải cho quan tước bá De Conway. Bức 
ông hẵy tin trám, trẵm sợ e quan ấy làm cho đức 
ông ưu phiền nhiều chuyện, cùng lảm cho các cuộc 
đửc ông tính toán về sự hành quân ra hất’ thành. 
Như trầm phong cho quan ấy làm thống lãnh bình 
gia xứ Thiên-Trước, là vi cho trám rảnh khỏi mưu 
chưởc quan ấy và dừng cho khuấy rối tại đày mà 
- thôi, bỡi chưng trẫm biết rỏ người, em ngưửi(t) với 

.• * K 

(1) Em : ong De Conway cung làm quan tưứng,- ngtrửi kết bạn 
với eittgái ổng Loméoie de Brienne, khi ấy làm hộbọ thượng thợ. 

: 12 



òng Dillonĩ(i) không dây phút nào ỏ- ỵẻn đậng. 
Nhưng vậy, muốn lảm ơn cho đức ỏng, trẫm sẽ ban 
cho quan De Conway được thượng hạng khuê bài 
củng phong tước tướng quân ». 

Khúc truyện nầy tỏ ra trong một khi cho chúng ta 
biết lòng vua Louis XVI yêu đuối dường nào, cùng - 
chuyện tầm phào, chước móc tại triều làm sao. Với 
mấy tánh V như vậy thì việc gi cũng phải hư. Dầu 
cách nào, trong mấy ngày đức thầy Bả-Ba-Lộc ghé tại 
Pondichẻrỵ trước hết, cũng thấy người với quan tưó*c 
bá De Convvay bất thuận với nhau (2). Quan nguyên 
soái lảm hết sức mình mà ngăn cãng cuộc hành binh. 


(1) « Bức ông Dillon, giảm mục nhất cai địa phận thảnh Aix,. 
là một vì ham chuyện đồi cùng là một thầy tu hay làm gương . 
xấu x>. (P. Louvet). 

(2) Xem ra cử bất hoả như vậy, tại khi ấy cỏ một bà kia, tẻn 
Madame de Vienne, là phu nhàn một quan tán lý 'của ông tưức 

bá De Conway, bà ấy tt ở tại dinh, áp tác cuộc tiệc, cùng áh t 
ĩx dường nhưxhủ nhà vậy. Cũng có lẻ theo như lòi thiên hạ 
khi ấy dồn tại Pondichéry rằng, nhơn dịp có mời dức thầy 
Bả-Ba-Lôc ân bữa,.hay là dến viếng bà ấy theo phép lịch Sự ... V 
thưò-ng kia mấ thôi, thòi dức thầy có dùng lòi tử tế theo 
phệp. song ngưò-i từ chối rỏ ràng. Đó móHàm cho quaiLtưỏ-c . : 
bá cung phu nhần quan tán ly sanh lòng hiềm khích không nguôi ; 
bởi vì mấy kẻ buông lung không khi nào mà dung cho sự kẻ 
khác chê bai tính lnv nết xấu mình ». (p. Louvet). 

Trong một cuốn sách kia in nhằm năm 1863 (dề hiệu là Onze 
mois de soas-préỊeclure en Basse-Cochinchìne, của ông 
L. de Grammont làm ra) ta thấy có câu nầỵ : « Nơi dó (chĩ vê 
Pondichéry) có mưu chưó'C Macịame de Vienne vỏ-i lòng xấu 
quan tưó'C bá Đe Convvay, là thống dốc các xứ thuộc tlịa tại 
Thiẻn-Trưỏc, nó làm cho sự vua Gia-Long ngóng trông cửu 
giúp ra huởn hết một nám, không xuất hanh dặng; rồi cbẳng 
khỏi bao làu các cuộc biến trong năm 1789 làm cho không còn 
nhó' tới chuyện tiếp cửu chút nào nữa ». 



— 171 — 

ông ấy làm cho vua và các quan thượng thcr tưởng 
chuyện xấu cho đức thầy Ba-Ba-Lộc, người cụ sờ ve 
triêu Yersailles mả táu đối các việc;- người cũng nương 
theo sẳc mạng nữa mả cáu kết rẳng không sai binh 
đặng, nhưng vậy, cách vài tháng sau, đức giám mục 
. lại lo được chuyện đó một mình. Quan tước ba 
De Conway làm nèn việc lắm, vì trong buồi nhóm 
. * Vi ẻ n Cơ-Mật, nhâm ngày mồng 4 tháng Octobre -1788 
có đức vua thị sự, m các quan đồng ưng như vầy : 

<t Đức vua thấy cách quan tước bá De Conway 
hảnh sự y theo 'mạng lệnh đã đặng và mấy lời 
truyền dụ gởi sau cho người nữa J. 

Song chúng ta hãy trở lại mà xem tờ giao ưó’c bày 
' ra sau nầy : 

TỜ' GIAO ƯỚC ĐỨC VUA Louis XVI 
. , . VỚI Đức VUA Nguyẻn-Anh nước TRUNG-K.Ỳ. 

* ; 'Lời tiên d'ân.~~ Đức Nguyễn- Anh, lù vua Tnmg-Kỳ, ílẵ bị 

loạn thần soán quốc, túng thê phải đụng sức binh khí mà khôi 
- . phục, nên cộ sai òng Pierre-Joseph'GeorgesPjgneauxde Béhaine, 
làm. giám mục Bá-Ba-Lộc, về niró-c Langsn, có ý cho dặng xin 
Đừc vua rất ái mộ đạo Thiển-Chúa cứu giúp ; và Đức vua dà 
tin thật cỏ- sự vị vinrog ấy tính là công chánh, lại bơi muốn tỏ 
dấu tinh-nghĩa vói ngưò-i, cũng như sự minh yêu chuông về dều 
chính trực, nôn nhứt định nhậm lời xin thay vì người'. Rời vàv, 

. Bức vua cho phép ông tưó-c bá De Montmorin, là binh bộ thưọ-ng 
thơ-, thưỏ-Qg thọ chư hạng bội tinh với Toison d’Or (da chiẻn băng 
v ^ể)» chư nghị sự viện đồng phái, trung tho- lịnh khâm mạng (hu 
thần, kiêm hộ bộ, lãnh ngoại bộ thượng tho , dụng phép phàn 
tính, nghị dịnh với ỏng giám mục Bá-Ba-Lộc trong việc cấp cứu 
bằng sự chi, phải bao nhiêu, cùng là cách nào, song trước hết hai 
quan khâm mạng phải làm cho minh ra chính phép, là quan tưó c 
bả cho dức giám mục Bá-Đa*Lộc biết sự toàn quyên minh, còn 
đức giám nqục chiếu ra cho quan tưó-c bá thấy ngọc an nưỏ-c 
V Trung-Kỳ, cùng là lò-i Viện Cư-Mật nước ấy bàn nghị, rồi ca 
* 



hai nhứt đinh mấy cuộc cùng mấy đi'êu sau nầỵ : 

Điều ihử nhứt. — Đức vua rất ái mộ đạo Thiên-Chúa hứa 
và buộc mình giúp hẳn hòi trong sự vua nưỏc Trung-Kỳ-đã quyết 
lòng rán sức cho đặng phục nghiệp cùng hưởng qũốc ngưồi. 

Điêu thứ 2. — Vê việc ấy, Đức vua rất ải mộ đạo Thiên- 
Chúa kíp sai qua tại bải biền Trung-Kỳ bốn chiếc tàu trận 
frégate, một dạo 1.200 binh bộ, 200 binh pháo thủ vỏú 250 
người cafre, mà sự sở tồn mọi việc minh chịu lấy. Các binh 
ấỵ đêu có cụ bị khí giải, lại thẻm riêng binh khi pháo thủ cho 
đủ mà dùng nữa (1). 

Điêu thứ 3. — Trong khi trông đợi Đức vua rất ái mộ đạo 
Thiên-Chủa giúp chuyện đại sự như vậy, thòi vua nưức Trung- 
Kỳ tùy thì mà nhường lại cho người cùng cho ngồi vưcrng dế 
mrỏ-c Langsa dạng làm .chủ .trọn và toàn quyên quản trị tại 
cù-lao, lả nơi có hải khầu chánh trong nước Trung-Kỳ, kẻu là 
Hội-An, còn ngưò i phương Tày gọi là Touron (2), lại khi binh 
langsa qua ở cù-lao ấy, thi sự làm chủ và quyền cả chẳng còn 
dược phép mà thâu lại. 

Điều thử Ặ. — Vả chăng, dã ưng rằng Đức vua rất ải mộ 
dạo Thiẻn-Chứa với Đức vua nước Trung-Kỳ cùng đồng làm 
chủ cửa biền nói trưó-c nầý, lại người langsa dăng phép Ếất 
dinh trại nào trèn đất liền mà tưởng là cỏ icầ cho minh vượt 
biền.buỏn bán cùng giữ gìn, sửa Iưửntàu mình và đóng thỏm tàu 
mới. Còn về cuộc tuần sai cữa biền ấy, thì sẽ tính toán tại chỗ 
dó mà lập ra một tờ giao ưổr riêng. 

Điều ■ thứ õ. — Bức vua rất ái mộ đạo Thiẻn-Chúa cũng 
dặng phép làm chủ và quyền thượng thủ tại cù-lao Côn-Nỏn - 
nữa. 

Điều.thứ 6. — Trong các nước phương Tây, thời trìr ra có 
một minh nhơn dàn vua rất ải mộ đạo Thiên-Chúa đặng phép 
thung dung buôn bán trong các xứ thuộc về Đức vua Trung- 


(1) Binh nầy phải rút trong hai co- Isle-de France k Bour - 
bon. Còn súng ống pháo thủ là 2 vị lòng tám, í vị bắn đạn 
trái phá, 2 vị súng coi-; và lại, cung^có kề ra sự sai một chiếc tàu 
ft'égơte, hai chiếc flúte vói một ít chiếc tàu đề chở chuyên nửa. 

(2) Cữa Tourane kim thòi. 



Kỷ mà thòi. Vì lẻ ấy, nhem dãn ỉangsa qua lại và ỏ- dó đặng 
thong thả, không đều gì ngăn trỗ 1 , không đóng thuế chi v'ê thản 
phận mình, miền là khi nào chúng nó cỏ giấy thòng hành của 
quan trấn thủ cù-lao Hội-An cho. Chúng nó dưọ-c phép dam hàng 
hoa Tày phưomg và cảc phưomg khác vào xứ, trừ ra ' vật nào 
mà có luật mróc cấm. Chúng nỏ cung dược phép chỏ- hàng hoá 
trong nước cùng xứ lân cận ra, không trừ món chi hết ; chúng 
nó dỏng các thuế nhập cảng và xuất cảng nào mà ngưòi bồn 
~ thổ phải trả trong khi nây mà thôi, lại dâu lúc nào, vã lấy 
tẽn gi. mà kéu, thì các thuế ấy- cũng không dược gia tăng, vả lại, 
hai dàng dồng ưng rằng, khi có tàu ngoại quốc nào, hoặc dến 
buôn bán, hoặc đi đánh giặc, mà cho ơ trong mấy xứ thuộc v'ê 
Đức vuạ Trung-Kỳ, thì nó phải nêu cờ hiệu langsa và có một tò- 
thòng hành langsa mà thôi. 

Điêa thứ 7. — Nhà nưóc Trung-Kỳ sẽ phù hộ chắc chắn 
nhơn dàn Đức vua rất ái mộ đạo Thiẻn-Chúa, trong sự thong 
thả, ở . an, chẳng những về thản phận mấy ngưòị ấy, mà lại 
của cải chúng nó nữa, vả như có đều gì trắc trở hay là chối 
cải chi, thì. phải lấy phép công chính mà phàn xử cho kíp. 

'Điều thứ 8. — Như khi nào Bức vua rất ái mộ đạo Thiẻn- 
Chúa phải bất kề là nước nào đánh hay là toan đánh, chỉ v'ê 
quyền cai trị hai củ-lao Hội-An và Côn-Nôn, lại như Bức vua 
rất ái mộ dạo Thiên-Chúa tranh chiến vói nưó-c nào hoặc thuộc 
phưong Tây' hoặc v'ễ cảnh Đông, thì Đức vua nưó-c Trung-Kỳ' 
buôc mình giúp binh bộ, binh thủy, lương thực, vói tàu thuyền ; 
các đeu cứu giúp ấy sẽ cấp trong ba tháng kề tử ngày dòi 
buộc ; song binh dó khòng dưọ-c dụng xa khỏi mấy chòm cù- 
lao Molluques với Sonde, và phả biền Malacca. Còn về vụ binh 
lính ản mặc, thl Bức vua nước Trung-Kỳ phải chịu. 

Điều thứ 9. — Muôn cho đối vỏi sự buộc k’ê trong điều trước, 
thì vua rất áj mộ dạo Thiẻn-Chủa ép minh giúp đỏ- vua Trung- 
Kỳ, khi nào ngưòi phải chuyện bất binh trong việc trị nưỏ-c; 
các sự cứu giúp nầy sẽ cản phân vỏi cơ quan khinh trọng thề 
nào ; nhưng. vậy, dều cứu giúp dỏ không khi nào quả đặng 
sự dả tỏ trong diều thử hai nơi tò- giao ước hầy. 

Điêu thứ to. — Hai vua .giao kết sẽ phẻ y tờ ước này, lại 
sự phê y đó sễ gỏ-i đồi cho nhau trong vòng một năm, hay là như 
có thế dặng, thì phải gởi trước ki dinh ấy. 



Vì lòng tĨD.chắc chắn sự n'ây, Chúng tòi, ià khâm sai đại thần, - 
có kí tên*vảo tò- giao ước nầy, và đóng ấn hiệu chúrìg tôi. 

Lập tò- tại triều Versaiíles, ngày.21 novembre 1787. 

(chồ đóng ấn) Tưó-C bú De Montmorin. 
fP.-J.-G., Giám mục Bá-Ba-LỘC (chồ đóng ấn). 

ỡỉêí/ riêng . — Băng tính trưó-c cho khỏi chuyện trắc trỏ' và 
hiều sái về sự Đức vua rất ái mộ đạo Thièn-Chúa được phép lập 
dinh trại tại dất liền, (lặng có ích cho sự di biền giả cùng buôn 
bán, thì đã dinh xong vón Bức vua nưổc Trung-Kỳ rằng, xnấv 
dinh trại ấy sẻ thuộc trọn về Bức vua rất ái mộ dạo Thiẻn-Chúa", 
còn quyền xử đoán, cuộc tuần sai, canh thu và các việc chì về 
quyền phép, không trừ sự nào, đều lấy tên ngưò-i mà thi hành 
mà thôi . 

Đặng tỉnh trưó-c cho khỏi sự làm quá phép,' vi có lễ tại mấy ~ 
aỏ c đav mà ra, thỏi có định riéng rằng, Không 
cho ngưò-i írung-kỳ nào phạm tội trọng bị nhả nước. “bắt 'buộc 
mà tói ỏ- dó, lại như mây kẻ nào tron đến dó đặng, thi khi . 
nhà nựó-c Trụng-Kỳ đòi, sẻ bắt giao chúng nó lại. Cũng đã tính 
xong răng, các ngưò-i langsa nào bội quốc mà trốn qúa dó, thì 
khi quan trấn Hội- An hay là quan trấn hòn Côn-Nòn đòi, sẻ bắt 
mả nạp lại. Biều riêng ụầy cũng dồng thề đồng trọng dường 
như đem nó từ tiếng vào tò- giao ước nẩy. ' 

Vì lòng tin chắc chẳn sự ấy, Chúng tỏi, lả khảm 1 ’ sai dại thần, 
cỏ kí tẻn vào điều riêng nầy, và cỏ đỏng ấn hiệu chúng tôị.. 

Lập tò- tại triều Versaỉlỉes, ngày 28 novembre 1787. 

(chồ đóng ấn) Tưửc bá, De Montmorin. 

t Giám mục Bá-Đâ-tộc (chồ dóng ấn). 

■* 

Bức thầy có ỉo cách kia thế nọ, mà sau hết ngưò-i _■ ■ 
thấy mình chẳng xin đặng sự gì cùng quan nguyên : 
soái Thiên-Trước, nên ngươi trơ về Nam-Kỷ ; nhưng • ■ ■ 

vạy không phải người trở về hai tay không. Hoặcbơi 
người thấy trưó-c-sự bất thành, hoặc lả người muốn 
làm cho thêm binh sỉ vua nước Langsa hứa, nên 
dọc đảng, người rán sức mộ người ta vả góp khi 



■ — 175 


gíới.người trả tiền đặng một phần, nhờ có gia quyến 
người cấp cho 15.000 .ỉìure (giá .bằng mộl quan tiền 
tâỵ) đề mà lo về chuyện người. 

Bởi vậy mấy tay buôn bán ở hai cù-lao Ile-cle- 
France vỏ'i Bourbon có sai hai chiếc tàu chỏ’ binh 
khí thuốc dạn qua, y theo như lời đức thầy nải xin 
khi người đi ngan qua dó (năm 1788); mấy chủ 
hảng langsa tại Ponđichérv hiều việc hơn và có 
lòng ái quốc hơn quan nguyền soái mình, nền cũng 
có cho Đức thầy Bá-Đa-Lộc hai chiếc thương thuyền 
chở vật thực, khi giái củng thuốc đạn nữa. Hai chiếc 
hãi vận sau đày có chiến thuyền Mẻduse hộ tống, 
cũng cỏ vải quan vỏ langsa đi hai chiếc ấy mà dến, sau 
lần lần một ít quan khác lại qua nhập bọn nửa. Cảc vị 
hùng sĩ nầy đến dàng tri thông hiều, lòng gan dạ và 
mạng sống minh cho chúa Nguyên- Anh, chẳc mấy 
đứng ấy tưởng khi phò vị vương an-nam, thi cũng 
như vực nước Langsa vậy. Vả chăng, sự giúp tròng 
hàng binh sĩ ngoại quốc, thì khòng lấy chi làm lạ. Vì 
theo phép cựu trào, đòi khi thấy có thói quen như vẬy. 
Vả lại, các quan vỏ nầy thuộc về ngạch binh quãn 
hạt, vì trước họ vô ngạch ấy, nên họ ra đặng đề 
lắm. Còn mấy người tinh nguyện (t) thời không 
có buộc mình phải ở bao iàu, nên dề cho họ hủy tờ 


(1) « Các ngưòi tinh nguyện trong binh thủy ló-p xưa, !à 
mấy trai tráng thuộc nhà có ăn, d5ng sự học hành thông thả, lại 
bõi hứng vui về mắt chưa từng thấy và chuyên may rủi chốn 
huyền viền, nèn họ xuống tàu nhà nưỏ c như người đặng cấp 
dưởng. Nhà nưữc ban cho mấy kẻ ấy mỗi ngày là một quan 
tiền dề trả tiền ăn. Khi vưọ-t biền dặng một ít lâu, mấy ngưcri 
tinh nguyện nầy dưọc lên 1'ẩn Tản cho tói chức học tập hay là 
thủy vệ hậu bo, chức dó có quyến quan. » (A. Faure). 



— 17:6 — 


giao đi, miền lả họ đứng mẳc nọ* nhá nước thi thôi. 

, ; Ta x j n ỉục T tén mấ y ngưồ-i ấy ra sau nầy,. lấy tron? 
r!!^*í^ Ch . C t. ÍCh ' ò 4 đạ c đưcLouveí-(La 

VỎ1 ôn ể Ã. Faure (Mqr 
cỏ một ta tiếc trong lúc 
lả , kh , ồng cỏ . cựu tícỉl dạng dẫn tự thu 

dó ĩ w mấ ỵ^^sa đạiđãm 

do, là ké nhà Nguyễn nhở mà lấy nước Đại-Nam lại. 

Về thủy binh, là mấy òng nầy : 

?!l°‘ (je ! n * rie ^’ quan ba ‘hủy thí sai tại ngạch 
■£“!" U J' k Charpentier de cLsígnỵ 

Sn!ĩwL đố ! tbuọc ^ b ™ tàu xứ 

ĩ t â ; !„ Tr ,°"? đời . ÔD ! “ây thấy bị nhiều 

drut I*f quân ẽ M ? ££ Vizan- 

C Ế a Goa c ™ Bombay, trong 
I e ĩ b ‘ đ l ngvà ! àm ttbtSn đều khồ sèr cho 

tTt^rÌ^ ĩ ốn l,“’ .8 _ n ™ập đa đoạt 
ll^uL đÌ ™ -. Tronglúc ÔD S Dayot ờ nơi đất 

KhfĩL^^Sn ki !!ií g ? .Lp ỏn , g s ặ p i 8' có phu-ưc . 

?! r." P han thật nêa thãm thiết mì. 

i ô , ng Đay °! đến giúp chúa Trun $-Kỷ nh*m 

thuv wlh°.™ỉ?f^ K-ĩĩ, ,l ác phong làm Chương 
1,- vắ ‘€ h ^ chiếc tàu, s 

rZL^Ìlỉỉ°J n ư A Ể 4 ^9-Kở (Prìnce de 

“? ch0 cã v ỉ cá"h ÍẬn-Bông 

2 vfnhVár?^^ an ,¥„ • ộ"g oáyot nĩch tử 

0ng . nam 1809 ’ khi ấy ngươi cung 
còn giúp chúa Trung-Kỷ luôn. ® ■ 

, it Mag ° n de Médine ; quan ba thủy thuộc ngạch quản 
hạt, bỏ tàu corvette Pandour mà đến giúp chua 



— 177 — 

Trung-Kỷ năm 1788. Có khi người ở đỏ không đặng 
bao lảu. Vi ta có tra kiêm trong một ít cuốn sách, 
thấy- hài danh ngươi, song không nói sự ngưòã thôi 
giúp rnà di nơi khác. 

Vannier (Philippe), về ngạch thuộc địa(i), qua 
giúp Trung-Ký trong năm 1788; người cai lan lần 
mấy chiếc Bòng-Thưởc , Bòng -Nai và Phụng - 
Phi. Đến sau người đặng chức nhửt phẫm quan, 
rồi ngưòi trở về nước Langsa nhằm nam 1825. 

Girard de Plsle Sellé (Julien), về ngạch thuộc địa, 
người cai tàu Hoàng thái từ Trung-Kỳ (Prince 
de Cochinchine). 

Guillon (Jean-Baptiste), là người tình nguvện hạng 
nhỉ, đì chiếc tà ụ írégate Dryade mà tơi 'giúp vua 
Irung-Kỳ, năm 1788, ban sơ vua phong cho người 
làm quan ba thủy, tùng ông Vannier. Người giúp 
nước đặng mười làm năm, rồi qua năm 1804, 
người trở về nước Langsa. 

Guilloux (Guillaume), người tình nguyộn hạng 
nhứt, đi tàu corvette Duc de Chartres. Yừa tói năm 
1794 thi người đà dăng ngạn tại Pondichéry. 
Người được phong làm quan ba thủy cung một khi 
vớỉ ông Guillon, người tùng ông Girard de Pĩsle 
Selỉẻ. 

De F orọant giúp chúa Nguyễn trong năm 1788. 
Người quãn chiếc Ưng-Phi (. Aigỉe ), người chết tại 
Trung-Kỷ, năm 1809. 


(1)ft Ta có kiêm trong các sồ bộ tàu thuyên nhà nưỏx Langsu, 
la không thấy có tên ông Vannier. Có khi ngưòi thuộc về ngạch 
địa Hạt cung như ỏng Dayot vói ông Girard de risle Sellé 
vậy ». (A. Paure), 



— 178 - 


Chaigneau (Jean-Baptiste), quan hai thủy ở tại tàu 
Plữưie, khải sự giúp chúa Nguyễn trong năm 1794 
mà thòi, là lúc tàu người bị thải binh, tại cữa Ma- 
cao. Ong nầv cưới vọ- trong xứ an-nam — người 
an-nam kêu là Nguỵễn-Văn-Tbẳng — sau sanh ra 
được một người con trai, là ỏng Duc Chaigneau, làm 
chủ bút sách Souvenirs de Huế. Bến sau đức 
hoảng đế Gia-Long cho phép người về nước Langsa 
(1820), rồi người trở qua, dạng dừc vua Louis 
XYÍil phong lám lãnh sự cúng sai dam quí vật 
đến dưng cho dức hoảng dế Gia-Long. Rủi khi ấy 
đức hoảng đế mới bảng; nẽn qua 1824, ông Chai- 
gneau phải bỏ dứt xứ nầỵ mà di, vi đức vua Minh- 
Mạng không còn muốn cho người phương Tây ỏ* 
lại triều minh nữa, nên nói đặng rằng ông Chaí- 
gneau cũng như bị xua đuoi vậy. ông ấy trơ về 
nước Langsa với cả gia quyến người. 

Tardivet (Emmanueì), lả người tinh nguyện ỏ- 
chiếc corvette Pandour. 

Malespĩne (Etienne), làngưòà tinh nguyện hạng ba' 
ở tảư* Pandour. Trong năm 1788, khi còn ơ tại 
củ-lao Ile de France, thi ngưò-i đã dặng chức cai 
một chiếc tâu riêng kia, tên lả Capỉtaine Cook , chở 
khỉ giởi, vât thực cho chúa Nguỵễn-Anh. 

Desperles (Dominique), chánh ngoai khoa điều 
hộ cũng đi chiếc Pandour mà lại nữa. 

Thuở hai ông Tardivel với Desperles dèn giúp chúa 
Nguyễn cỗ lẽ định đặng trong năm 1789-1790, lả lúc 
chiếc Pandour ở tại Trung-Kỷ. Ta không kề đặng 
năm nào mà mấy òng nầy thòi giúp, cũng như hái/ 
ông Girard de risle Sellé với Guillòux vậy. 


1 r * 



Về binh bộ, là mấy ông : 

Olivier de Puymanel (Victor-Joseph-Cyriaque- 
Alexis) là người tỉnh nguyện hạng nhì ỏ- tàu írégate 
Dryade, đến giúp chúa Nguyễn, nàm 1788. Người 
cai một thứ diền trường kia, nhứt là đề mà lập 
* ngạch, cùng tu thành đội 'ngũ cho_ dạo binh trung-kỷ 
vì người là quan tham tản. Trong sử gọi ông 
nầv lả cai cơ Olivier; người an-nam lấy nhiều tèn 
mà dặt cho người, trong mấy tẻn đỏ thấv kêu 
là ông cai Tín. Phần nhiều trong các đồn bẵo lập' 
tại Trung-Kỷ tĩều là của người xày theo cách ông 
Ỵauban bày. ông Olivier qua dời khi được 31 tuồi, 
tại cữa Malacca, là chồ người qua dó trong năm 
1 799 mà đương bịnh . 

Le Brun (Thẻodore), là người tình nguyện hạng 
nhứt, ở tàu írégate Méduse, lên cữa Macao ngày 13 
tháng janvier 1790, rồi qua giúp Nguyễn chúa cõng 
nội nàm ăy. Người lãnh làm quan bác vật củng ve 
họa đồ địa phộn Sải-Gòn (1); song người ở giúp chúa 
Ngu-yẽn đặng chừng một năm ba tháng mà thòi, vi 
người thấy nhà nước trả tiền còng không bao nhiêu, 


(1) Trong sách Mgr d'Adran, in lần thứ hai, năm 1900, 
ông đạc dửc Louv.et quyết chắc là ông Le Brun ra họa đồ thảnh 
Sài-Gòn. Õng Trưo-ng-Vỉnh-Ký lại kề khác, ngưòi nói là ông 
Olivierde Puymanel xây thành ấy trong nám 1789. HọadồSài-Gòn 
vẻ trong lúc* đó xem ra tất giải chuyện nầy. Vã chăng, ta có 
thấy mỏt b’ôn họa do sao nhỏ lại, cỏ hiệu đề như sau nay : Họa 
dò thành Sài-Gòn cũa TỊuan cai cơ V. OlỉvÌ£r tu hảo 
trong nãm 1790. Sao nhỏ lại y theo họa đồ cữa đừc vua 
... , ' Trung-Kỳ dạy quan bác vật Brun vẽ trong năm 1795 
• • Bày giò- còn có một d'éu, là truy ra năm nao mà ông Le Brun lấy 
... họa dồ ấỵ cho minh bạch, vì nó không hiệp với lúc ngưòi 
:&■ giúp chúa Nguyễn. ■* 



- 180 


vã lại, người ít muốn <a tùng ỏng Olivier, lả người 'V 
tinh nguyện nhi hạng mà thôi, song khi ấy làm 
tham tán dại binh trung-kỷ, vì chức dó cho ông 
Olivier có quyền trện kẻ đồng liêu với mình ®. 

Theo họa đồ vẽ nhỏ lại mà đẵ k’ê tnrức nầỹ, thì thay thành * 

Sâi-Gòn xảy-vuông tượng, có mang cá, phía ngoài (từ góc 
nầy cho tói góc kia) độ chửng đặng 500 ihtrớc langsa, bề 
ngoài xem ra kỳ lắm, bằng chẳng thì là sắp đặt trúng cách, 
song, dầu lẻ nào, nó cung không theo kièu ngưò-i ta da dùng- 
Ta nhò- sự biết rỏ tích hon, nên ước -trông một ngày kia thuật 
lại chuyện xây thành dẳp lủy khi xưa lạ kì như vậy. 

Cũng phải dịp cho ta kề ra đày sự ông Trìro-ng-Vỉnh-Ký nói 
về cựu thành Sài-Gòn trong sách Soavenirs historiques sar 
Saigon et ses environs, nó không giống chút chi vói hoạ dô 
ta thấy, mà nhưng vậy nó hiệp lý hơn vó i các lời truyện đễ 
lại chỉ về địa cuộc và bề rộng lỏ-n thành nay : ■ . 

(( Theo hoạ dồ cũa đức hoàng dế Gia-Long truyền vẻ, thỉ 
thấy hình nó gần như bát giác, nó cỏ tám cữa theo bát quái, 
chỉ bốn hưcrng chảnh và bốn hướ-ng nhánh. 

« Thảnh cùng Ịà hào vói mấy cái cầu nỏ dều xây bằng dá 
ong Biẻn-Rõa. Bề cao vách đặng mưỏ-i lăm thưó-c rựôc 
(7 thước 5 langsa). 

« Trung tim thành có dựng một cột cờ, lối nhà thờ chánh 
Sài-Gòn lúc nầy. 0' xa lắm ngưòi ta Cung còn thấy đăng ngọn 
cảy đương. Nó ỏ- trải dài : từ Nam chi Bắc, ẳ từ dương 
Mac-Mahon cho tới vách thành mà trước bị phá di, sau ngươi 
langsa đắp đất sữa lại ; còn từ Đỏng qua Tây, thì từ dường ' 

Espagne cho tóã dưòng Moỉs. • ■ : . 

« Phía Bòng có hai cữa tiền. Một cái kêu là Gia-Dịỉìh ỉiìổn 
ngó ngay dồng lạc viên và kinh chợ Sủi-Gòn ; còn cữa kia thòi 
đặt tổn là Phan-Yèn môn ở phía trại lính pháo thủ, tại đưÒTig 
di xuống theo Kỉnh-Cây-Cám. ' ■ ■ ;; ; 

« Mặt hậu, lả phía Tây, thì cùng có khai hai cữa Vọng- ' ' - 

Khuyết môn vói Cọng-Thìn môn, tại hưóng Cau-Bông vói 
Cầa-Xóm-Kiêu. " ••• 

« Phía tả, là hướng Bắc, có hai cữa Hoài-Lai môn và Phạc - 
Viễn môn day ngay xuống rạch Thị-Nghè (lối cầu ThỊ-Nghè). 


% 


I 



181 — 


Laurent Barỉsy ( 1 ) lảnh nhứt lả việc đi qua xử 
ngoại quoc mủ vận hoả thực. Người cũng lo việc 
lập binh sĩ an-nam, vì là người làm đầu' một trại 
kia gọi là trại ĩ lính mới ». 

Despiaux (Jean-Marie), là ngự y chúa Nguyễn- 

* Anh. Khi đức giám mục Bá-Ba-Lộc thọ bịnh lần 
sau hết, thi ông nầy cỏ lo lắng cho ngưừi cách 
tận tinh lắm. 

ồng đạc đức Louvet với ỏng Faure nói các quan 
vủ dó có 350 linh thủy, pháo thủ, cai đội, v. V. 
theo giúp, là mấy kẻ bỏ làm tôi nước Langsa mà 
đên phò tá đức giám mực Bá-Ba-Lộc. Ong Faure 
lại thêm rằng, các bạn tàu ỏ- mấy chiếc Revanche , 
Espérance , Arieỉ và Flavie đã thải binh tại cảng 
"khằu Macao trong năm 1794, đặng cho khỏi người 
Anglais lấy, thi cũng có nhập vò bọn linh ấy nữa. 

« Mặt hữu thành thời là Định-Bién mỏiĩ vói Tuyên-Hoá 
môn, nó ỏ- tại dường Mac-Mahon ; hai cữa ấy, một cái tại 
đưò-ng stratègique , cái kia tại dường trẽn di Chợ-JL,ó-n. » 

Qua đòi vua Minh-Mạng, sau lúc ngụy Khói, thì tới phièn 
thành cũa.ông Olivier xảy, thế cho thành cùa ồng Bàm, cũng 

• bị phá đi. Sau cỏ xảy một cái khác thế lại, là cái bị người 
langsa lấy trong nám 1859. 

(1) « Ông Laurent Barisy nầy phẵi là người langsa chăng? 
Danh tánh ngưòi thòũ chỉ là người langsa, song s’á bộ nhà . 
nưó'C không có nói chút chi về quê hương người là đâu, mà 
còn mấy quan khác gốc langsa, thi thấy cỏ ý hài nó ra. Ta có 
kiếm trong các ngạch binh thuộc dịa xứ Thiên-Trước vả cù- 
ỉao Ile de France, lại vó i các S(5 tẻn bạn táu giặc của chúng ta, 
song luống công, vì không thấy tện Laurent Barisy viết vào . 
Còn sồ bộ trung-kỳ,khi thì gọi người là chúá tàu, khi lại là phó 
quãn cơ B.arisyman, tùy theo lúc người quãn đốc trưòmg « lính 
mới » hay là cai một chiếc tàu trận; vl xem ra ngưài có khi 
ĩr thủy,, có khi theo bộ ». (A. Faure). 



— 182 - 


. Ta xem ra mấy số nầy kề. quá mực. 

Theo cảc sồ Bạn tàu ở dưới mười hai chiếc 
chiến thuyền thuộc về nhà nước Langsa mà đã 
châu lưu tại' -,Ân-Bộ dửo-ng với Trung-Quốc hải, 
lừ nám 1785 cho tới 1790, thi ông Faure tính 
đăng cỏ 369 thủy binh xin thải ra hay lả dào biệt 
trong lúc vượt biền mà thỏi, lại người lấy số đó mà 
kẽ. 

'Bều bẳt lý thử nhứt về chuyện nầv, lả các chiếc, 
tàu trận nói trước đảy ghẻ tại nhiều cữa biền, + 
nên ngưòă ta không dính đặng râng hết thảy ỉíuh 
đỏ đều tới giúp tại Trung-Kỷ (1). Điều thứ hai, 
đức thầy có quyền trên bạn bè củng cảc quan, ỉà 
khởi sự khi người về ngang qua củ-lao.»Ile de 
France trong năm 1788 mà thôi, lại xem ra sự* 

(1) Trong tử điều trần của quan cai tàu Pandour (là ông 
Gras de Préville) thấy nói rằng : « Số lính thủy nưức^ta mà 
dụng tại mấy chiếc tàu ngoại quốc, thòi chưòng tỏ rỏ rằng*- 
như muốn giữ mấy kẻ ấy lại trong tay nhà nưó-c là đứng 
sinh chúng nỏ ra, lại là nhà.nưỏ-c chúng nó mền yêu cùng 
lấy lảm vui ma phú dâng tài nghề minh, thi phải cho chúng 
nó cỏ phưo ng mà bảo mạng. Như vậy ngưòi ta mửi không 
còn thấy chúng nó đi Ịùm giàu cho dân kinh địch mả sự phứ- 
quí dân ấy làm cho chúng ta thêm nhiêu đều sỉ nhục khác 
mà thôi. » 

Mấy hàng nây lãm chửng minh bạch về sự lúc trước binh 
thủy chúng ta muốn qua giúp tầu ngoại quốc lắm, nèn chắc họ 
có trả cho chúng nó khá tiền hơn. ông A. Faure nòi quan cai 
chiếc Pandour lầm, vì tưởng rằng 31 tên linh bỏ tàu ngưòi mà 
đi trong lúc vưọ-t biền, thi hết thảy dều qua tàu angỉạis. Ta 
cùng bằng lòng chiu theo ý ông Faure, song tỏ- cấp bảo òng 
Gras de Préville cũng dồng cho ta có iý mà quả quyết rằng, 

- khòng phải hết thảy mấy tên linh đào tản dó màdến giúp chúa 
Nguyễn, vi sự sang qua tàu ngưò-i anglais cũng' có quyến dụ 
họ nữa. 



— 183 


đỏ cung không láu đặng hai năm. Ẩy vậy, chính 
vỉ ông Faure có kề mầy số binh ra như sau nầy : 

Chiếc írẻgate' Résoluíion khai hành tại cưa 
Brest nhằm ngày 13 mai 1785, sau thải binh tại 
củ-lao Iìe de France, ngày 16 íẻvrier 1789; tàu 
nầy cổ đi qua cữa Quảng-Đông vỏỉ cữa Malacca 
trong năm 1787, rồi trỏ* lại lần thứ ba, là lần 
chót, tại thảnh Pondichéry lối giữa hai tháng mai“juin 

1788, nghĩa lả lúc đức giám mục vừa đến đỏ. sồ 
bạn tàu Rẻsoỉution khai 33 tẽn lính thủy đã trốn 
hoặc lả lảm cho người - ta bải đì trong lúc vươt 
biền, lại .trong mấy người lính thủy, dó, thấy cỏ bon 
ngưò-i anglais, một người portugais với hai tên 
bạn còn nhỏ, lả mấy kẻ không phải là đề mà 
giụp đực thây. Muon cho khỏi nói rằng không âi 
bết,- thi córlẽ mà tưởng cỏ một ít tên trong đám 
dó tới giúp chúa Nguyễn mà thôi. 

Chiếc frẻgate Vénus dời ra khỏi cửa Brest nhằm 

sau bị chìm mất về người 
' A ê của tại vịnh Perse, hay là nơi bãi biền phương 
Aírique. Chiếc ừégate ấy có qua Pondichẻry loỉ 
thán ễ ịnin cho tới ịuillet năm 1788, nó không co 
Ĩ” Trung-Quốc hãi. Bơi vậy, trong 54 người linh 
rá ch ? ngày ấy, thi tương co một ỉt 
ké đên giúp chúa Nguyễn mả thôi. 

Chiêc írégate Dryade ở tại cữa Lorient mả khai 
hành nhằm 27 décembre 1787, sau trở về hãi khằu 
Brest ngày 23 aoùt 1790. sề tèn bè bạn khai co 
21 người binh thủy bãi đi hay là đáo tán trong ỉuc 
biền, trong số đỏ cổ một tên lính nhỏ tuồi 
^ ba đứa^bạn tàu nhỏ. Từ năm 1788 cho tới 

1789, táu nầy cỏ đến cữa Cavite, Macao, Cữa-Hản, 
cù^lao Phú-Quốc, hỏn Côn-Nôn vả cữa Ponđichéry. 



— m - : * V' 

về chiến thuyền nầy, thì người ta cỏ )ế chịu đặng '•••:• 
rằng cỏ mười ỉâm ngưòù tỏâ giúp trong xứ Trung- 
Kỷ. 

Chiếc írégate Méduse ra khỏi cữa Lorient ngày 
27 décembre ì 787, rồi trở vềBrest ngày 27 octobre 
1791. Theo sồ bạn tàu, có 126 người lính thủy 
.đã bỏ nỏ mà đĩ, trong đó có một người lính nhỏ 
tuồi với một người thòng ngòn trung-kỷ. Ta nói 
đặng đày cỏ một phần nhiều, cỏ lể cho tới trót 
trăm người, đã qua Trung-Kỳ, lại người ta không 
lấy làm lạ về đều như vậy khi nhứ lại rằng đức thầy 
Bả-Ba-Lộc đi tàu Méduse mả trử về Trung-Kỷ. 

Chiếc corvette Subtiỉe ở cữa Lorient mã thượng 
lộ nhằm ngày 30 tháng septembre 1784, sau. trở 
lại hãi khàu Brest mồng 2 avril 1788. Lớp binh bãi 
di và lớp trốn trong lúc quá hãi làm cho tàu 
corvette nầy mất hết 48 người, song cỏ lẽ không 
cỏ ngưòù nào tới Trung-Kỳ. - 

Chiếc írẻgate Astrée khai hành tại Brest ngày 
13 dẻcembre 1786, rồi trở về dó ngày 25 íẻyrier 
1790. Nó cáo báo rằng thiếu hết 15 người, song 
ta không đoán đặng mấy người ấy về đâu. 

Chiếc corvette Duc de Charires , từ ngày sẳm sữa 
nội vụ cho nó đi tại cù-lao lle de France, là mồng 1 
janvier 1 784 cho tới 20février 1 786, thi nó mất có một 
người tỉnh nguyện tèn Guiỉloux (Guillaume) mà thôi. 

Chiếc ílùte Nẻcessaire sắm sữa đồ cuộc xuất . 
hành tại Lorient nhằm mồng 1 janvier 1788, sau • 
trở về đó là ngây 27 aoùt 1789. Nỏ không qua 
Trung-Quổc hãi, -có 4 ngưò-i lính thủy bỏ nỏ mả ■ ’ 

thôi, trong số đó kề lả một tên bạn nhỏ với hai 
ngưừi binh thùy espagnol. 


' : * 



485 — 


Chiếc corvette Pandour ra cữa Brestngảy 12 juin 
1787 (òngFaure không nói đến sau chiếc corvette 
nầy ra thề nào), nỏ bị 81 người bỏ mà đi, trong số dó 
có một người thợ đóng thùng, một tén hoả đầu với 
một đứa đầy tớ. Tàunầy cỏ ghẻ Macao với Còn-Nôn. 

Chiếc ílùte Mulet bỏ cữa Brest mả đi nhầm mồng 5 
avril 1788, sau trở về đó ngày 1t> juin 1789. Nó 
không có qua do thám Trung-Quốc hải. Nó mất 
1 2 người, trong số kề lả hai quan ngoại khoa điều 
hộ phụ (lả ông Georgault vói òng De la Chaussẻe), 
một tèn cai dẫy tớ cùng hai người lính nhỏ tuồi. 

Chiếc ílùte Marsouin ở cữa Bayonne xuất hành 
ngây 6 avril 1788, rồi trở lại Brẽst nhảm mồng 1 
aoùt 1789, kề có 8 người lính thủy. xin thôi hoặc 
trốn đi trong lúc vượt biền. 

Xét ra một chút, thấy cũng chưa được nữa số 369 
người kề trèn dày mà đến Trung-Kỷ. Vã chẳng, chúng 
ta hãy tinh theo mấy sơ sau nầy cỏ lế chịu đặng, 
dầu cho chúng ta tưởng nó cũng còn quá sự thật: 


Chiếc Résoỉutỉon 

.. 4 

người 

CL 

Vénus 

.. 4 

» 

c< 

Dryade 

.. 15 


« 

Méduse 

.. 100 

» 

« 

Subtile 

» 



Asirée 

. . 10 

» 

<t 

Duc de Chartres . . . 

.. 1 


« 

Nécessaire 

.. 4 



Dromadaire 

. . » 



Pandour 

.. 20 



Muỉet ; t •. 

. . . ' » 

» 


Marsouin * 

... 2. 

3 


Hiệp nong! 460 ngươi. 


V 


13 



sổ 16(Nhõy thủ ta kề đày ‘thiệt không trúng, song 
chẳc nỏ tùng tiệm sự thật hơn là số 369 người của 
ông Faure khai. Vã lại, ta xin hỏi một" đều thường 
mà thói, lả lục đó chúa Nguyên cấp dừởng cùng 
ban bồng hường cho 369 ngưòi phương Tày đó 
thề nào?! 

Chúa Nguỵễn-Anh khi ấy không của đủ mả chịu 
đền ' như vậy, lại ví như mấy ỏng Dạyot, Chai- 
gneau, Vannier vửi một ít người khác mà ở lại, lả 
có khi bởi minh lảm quan cai tàu, nên đặng thong 
thả buôn bán mà giữ lợi cho minh, vì thuở ấy chuyện 
đỏ không cỏ luật nào cấm, nên thiên hạ thường 
kèu nó là châu luu hàng hoả mà bán. 

Về chuyện nầy, chúng ta hãy nhớ lại rầng, ông 
Le Brun bỏ Trung-Kỳ mà đi, là bổi người ta trả tiền 
lương cho người ít; chúng ta củng hãy nhớ lại tờ 
điều trần của ông đạc đức De la Bissachère gởi dâng 
cho quan ngoại bộ thưcmg thơ trong năm 1807 mả 
ta xin chiết ra một đoạn như sau nầy : Cí Mấy người 
phương, Tây nào mới lên bờ theo đức giám mục Bá- 
Đa-Lộc, thì gần hết thảy phải vươnglấỵ các bịnh bỡi 
phong thồ nê khí hoá sinh, lại thèm bị sự ăn uống 
thuở nay chúng nó chưa quen đủng nữa. Có nhiều 
kẻ phải bỏ mạng; còn phần dư lại thời lãnh bồng 
không đặng bao nhiêu (vỉ vua chưa có huê lọà cho 
chắc chẳn), nên có một phần bỏ trốn đi, cùng sang 
qua tàu buôn portugais mà ở ». 

Dầu đức giảm tíiục Bá-Đa-Lộc có tài phép làm 
cho thiên hạ mè lời iiói người, thì một minh sự 
khoa ngôn ngữ người khồrig quyến dụ đặng họ 
tới ở vả cầm lại mấy kẻ nào trước tưởng chắc khi 
qua giúp chúa Nguyễn, thì minh se đặng đều thạnh 
lọà hơn là lâm tòi nước Langsa. 



— í 87 — 


Một đều khác nữa chủng ta hãy nhớ, là -các quan 
bền lòng hêm nghịch củng người phương Tày — diu 
cho là ngầm, hoặc khó ỵễm kín hay là chán chường — 
thi trước hết phảiđỗ sự ấỵ cho bốn lánh khỏng muốn 
thù tạc với người ngoại quốc, lả tánh các sẳc dàn dẵ 
tập luyện hoặc nhiều, hoặc ít, lại nay nỏ cung còn 
thạnh lẳm nơi phần nhiều trong những người da 
vàng, sau lại cung phải đỗ cho sự khác tàm tánh hai 
loại, vì nó có sức đủ mà chống lại mỗi chuyện nào 
lo tính toán thật lòng. Một đàng thi kiêu căng vò độ, 
mưu kế quỉ quyệt nan tri, toàn khiếm sự kính vỉ lời 
ưng tiếng chịu, đàng khác thời thiếu thốn lòng nhịn 
nhục, bồn tính nóng nảy, cả tiếng, tàm tánh ngay 
thật dộc địa, nên it khi mà hòa hiệp đặng với nhau. 
Nay chẳng phải là còn như vậy sao? Lại người ta có 
gặp một ít vị não khác mả thòi, mà cỏ tánh ý riẻng 
hơn đặng ăn ở hoả nhả với người phương Bòng 
chăng? 

ỏng De la Bissachère, là thầy giãng, thế quyền tạm 
cho đức thầy Bá-Ba-Lộc khi người cảm mạo se da, 
có thuật chuyện nầy cho chủng ta rỏ tâm tánh các 
quan vậ chính vi vua lúc trườc ăn ở thề nào, cùng. . . 
ngày nay làm sao nữa. Chiếc corvette Đòng-Nai, 
thuộc về ông Dayot coi, bị một trận hảo kia và dựa 
vô bải, nó gần bị hư mất. Các quan liền tàu vỏ-i chúa 
Ngụyền rẳng sự thiệt hại như vậy lả tại tánh xấu, bơ 
thờ cố ỷ quan cai tàu. Tức thì chúa Nguyễn dạy đóng 
gông ông Daỵot. Ai nấy hiều sự quan vỏ langsa bực 
mình thề nào khi chịu hình khồ như vậy, lại phải lấy 
cả quyền thế dức thầy , Bá-Đa-L&c mới làm cho ông 
Dayot ở lại mả giúp chúa .Nguyèn-Anh nữa. 

Vừa đến năm 1 791 , thì tựởng khòng cònèaọ nhiẻu 
kẻ ỏr lại. Vã chăng, người ta đoâj& nghiệm đặng sự 



— 188 — 


như- vậy, vi nhờ có bức thơ của quan lãnh s$chúng ta 
ở tại cữa Quảng : Châu gởi cho quan ngoại bộ thượng 
Ihơ, trong thơ ấy nói rẳng : «Tại Trung-Kỷ còn có 
một minh ông Ọlivier ở lại mà thòi, ông giám Bả-Đa- 
Lộc khen người lắm ». Như hiều theo nghỉa một, thì 
sự quả quyết nầy sai lầm, song tri tưởng chủ thơ 
minh bạch, là nói: phần nhiều Irong những người 
langsa thỏi giúp Nguyễn chúa. 

Còn bạn bè ơ dưới mấy chiếc tảu dã bị thải binh 
tại Macao trong năm 1794, thi chảc không có bao 
nhièu người đến Trung- R-ỳ. Là hỡi, trước hết, họ dã 
nghe biết chuyện mấy kẻ trước họ liều minh thề nạo, 
sau lại là vi qua năm 1794, chúa Nguyễn-Anh ra gần 
tới Qui-Nhơn. Vậy khi ấy chúa Nguvỗn biết minh dắc 
thế, ít cần dùng hơn lúc trước về thầy dạy việc binh 
tùm thường. Sự người sở ước nhứt. là mấy quan cai 
thủy nào có tài mả làm cho minh dạng sự thong thả 
Ihiột nơi biền giả, và cũng cho thạo chuyện buôn bún 
dàng biền đặng thêm bề tư lợi; vỉ như không nó, thi 
người không mua và thay đặng đồ cuộc binh khí yếu 
can đề dừng trong lúc chiến tràng da niên như vậy. 

Khi tra kiếm cựu tích mó'i đày tại phòng thơ 
trường tu thuộc về hội sai di giảng dạơ nơi ngoại 
quốc (Sẻminaire des missions ẻtrangeres), thi có gặp 
ba cải thơ của đức thầy Pigneau de Béhaine mà ong 
Faure khòng biết. Bức thầy Mossard có làm ơn mà 
cho ta coi mấy bền sao bên Paris gởi qua, lại với một 
bức thơ của đức giám mục Bả-Ba-Lục viết khi trước 
mà hãy còn giữ tại tòa giám mục địa phận Sài-Gòn. 
Các sự tích rất hữu ích cho sử ký đó dều có in trong 
nhựt báo Courrỉer Saigonnaỉs, lúc hành lễ khánh 
táng bia hỉnh đức thầy Bá-Ôa-Lộc (số 1307, ngày 14 
ma-rs 1902). Ay vạy, trong mấy bức thơ nầy thấy có 



— 189 


một cải, đề ngày 18 juillet 1792, trong đố có nói một 
doạn, làm cho sự xét nét ta (lặng ỉỷ trọn, chỉ về số 
369 ngirò-i phương Tày mà ông Faure đã khai rầng 
đến giúp tại Trung-Kỷ. 

Khoản đó nói như vầy : « Người (là chủa Nguyễn- 
Anh) dem có nữa dại binh theo mả thôi. Trong binh 
bộ dược 40. người tày mà cỏ một vị quẫn đặng một 
Cơ 600 quản. Trong dạo thủy có hai chiếc tàu tây 
tri khí giải nhiều lẳm ». 

Vậy, trong năm 1792, số người tây định là -10 
vị về binh bộ. Còn tại thủy, ta biết CÓ mười ông quan 
giúp chúa Nguyễn, lại ở dưới thủy đày thì mấy quan 
ây cần dùng mà thòi. Hai số nầv hiệp đặng có 50 
ngưòù tày, trong lúc chúa Nguyễn mới tu thành dại 
hĩnh người và gần dãn di đánh quyết. Sau hết, 
nếu la gia bội sổ Irẻn dày dạng lỉnh về mấy người 
đã bỏ minh vi phong thồ, hay lả lìa ra khỏi xứ 
trước khi trở nghịch lại cách cã thề, thi người ta 
cũng đặng chừng 100 người Tày mả thôi. Chúng 
ta còn xa số 369. 

Nhờ có mấy điều cứu giủp mới đến cho chúa 
Nguyẻn-Aoh, nén người sẳm sữa binh sỉ, dồ cuộc 
đấu chiến mạnh mẻ nhiều hơn là người có bấy lâu. 
Quản Tây-Sơn p hái đề cho ngưò-i làm như vậy, vi 
chủng nỏ đã yếu sức rồi. 

Năm 1789, dức hoàng đế Trung-Quốc nhin phong 
ỏng Huộ làm vua nước An-Nam. 

Trong ba nám, là 1790, 1791, 1792, đề sắm sửa 
binh gia khí trưọ-ng và còng' việc ngăn ngừa. Vã 
chăng, lúc ấy khỏ mả giáp trận lại tức thi, vi nhơn 
dàn dã mỗn sức, nỗn không cho bèn Nguyễn, cũng 
như bện Tảy-Sơn khiêu chiến. Chúa Nguỵễn-Anh có 



saỉ một ít bình đi đảnh vải lần, song mẩy khỉ hảnh 
quân như vậy đều đề mà lảm cho binh ra raạnh dạn, 
hcm là cho đưực thẳng quần nghịch. 

Năm '1790, thánh đảng ông hoàng tử Đảm, đến sau 
gọi là vua Minh-Mạng, người sinh ra tại lảng Tân- 
Lộc, lõi hậu diện nhà trường Chasseloup-Laubat (Sàỉ- 
Gòn), lại lả nơi lúc sau người lập ra một chùa, gọi lả 
Khải-Tường tự. 

Năm 1 791 , hai quan chưởng thủy Dayot xờì Van- 
nier hủy tan đinh trại nhà cữa tại cảng khẫu Qui- 
Nhơn với đạo chiến thuyền Tày-Sơn đậu đỏ. Đây 
là lần thử nhứt trong mấy lúc chúa Nguỵền-Anh hầng 
năm tấn binh đánh những kẽ tiếm trị, người ta kêu 
nỏ lả giặc mùa. Cũng nội năm dỏ ông Huệ thăng 
hà, ông nầy là người thù nghịch đảng kinh hơn hết 
của chúa Nguyễn, trưó*c người cỏ rao truyền cho 
dàn người hay và sẳm sửa binh gia vào đánh chúa 
Nguyễn-Anh. Ong Nguỵễn-Quang-Toản lả con, lên nối 
trị, song không biết làm cho quân Tây-Sơn vâng phục 
mình la bao nhiêu. 

Năm 1792, ông Nhạc bị Nguyền đuồi ẻp, xin cháu 
mình lả Nguyễn-Quang-Toản cứu giúp, thì ông ấy cỏ 
gởi binh vô. . .đặng soán ngôi người. Con ồng Nhạc, 
tên là Tiều-Triều (Hoàng-Thùy) muốn chổng lại vói 
Nguyén-Quang-Toản. Ong nầỵ phong Tiều-Triều làm 
tước hiếu-công và cho ăn thuế huyện Phù-Ly. Tiễu- 
Triều chịu đi, không nghe lời mẹ khuyên thả chịu 
chết, chẳng thả lảnh phận sự hèn hạ thễ ấy. 

Ồng Nhạc qua đời rồi, thi còn ông Lử. Đứa cháu 
hung độc dạy giết người đi đặng cho rảnh việc. Vậy 
cỏn có một minh Nguỵễn-Quang-Toản làm chúa Trung- 
Kỷ với Bắc-Kỷ, một mình người ở trước mầt ông 
Nguyễn-Anh mà thôi. 



m — 


. Các trận đánh trong năm 1793, 1794, 1795, thỏ-ỉ 
dề dúng mả tấn binh lần tới Qui-Nhcrn, thành ấy canh 
giữ chặc chịa lầm, nên chúa Nguyễn lập nhiều phương 
thế mà đánh không xuễ. Nhưng vậy chúa Nguyễn không 
phải chỉ lo. lẳng nơi đỏ, vi tàu ngưỏâ cỏ quan langsa 
đốc suất, dều đi qua xử Thiên-Trưỏ-C, cữa Manille, 
Macao với nước Tàu, vả buỏn bản trong cẵ và cảnh 
Đông cách phấn chấn lẳm. Chúa Nguyễn-Anh cung 
có một chuyện bất binh với quan TỒng-ThốngThiên- 
Trước. 

Người anglais đoạt lấy chiếc tàu Armìde (cỏ ông 
Barisy cai quản) tại An-Độ dương. Chúa Nguyễn-Anh 
viết thơ đòi ỉạỉ (1) mà nói như vầy : 

Tôi lấy làm lạ khi nghe tin chiếc trégate anglais, hiệu Nom- 
Such, có ông Thồmas quẵn đốc, lấy lẻ nghịch cùng luật chung 
trong thièn hạ mà bẳt chiếc tàu Armide, có một quan vỏ tôi 
cai (tổn Laurent Barisỵ) mà tôi sai qua mấy cữaxứ Thiên-Trước 
dặng mua khi giải thuốc đạn cho tỏi, ông chúa tàu Thomas ngở 
làm dăng mọi sự mà không hề gì, vi tưỏng rằng minh mạnh 
hcm hết, nên hạ cò' tôi xuống mà thưọ-ng cò- nưỏ-c Grande-Breta- 

gne Sư ăn ỏ' bất công dường ấy không ai trị lòi 

Tỏi không cần chi cho ngài biết về sự tôi chẳng dè chuyện làm 
như thế. Vậy tòi xin hỏi ngài cố' nào mà cho phép chúa tàu 
Thomas ăn ử theo quàn ăn cưỏ'p dỏ. Tỏi xin ngài dền bồi sự sỉ 
nhục cho bồn quốc kì tòi theo luật anglais buộc ừong lúc như 
vậy 

Cuối thơ thấy nói giọng gần nhưngăm đe, lả :« Ngài 
phải biết, như tôi mà muốn làm cho đền bồi, đặng 
tôi hết thiệt hại, thì đe cho tòi kiếm cách lẳm.» Người 
anglais chịu thua. Chiếc Armide đem trở về Sài-Gòn 
cùng phạt tạ dều sỉ nhục cho thủy ki an-nam. 

(1) Quốc tho- của vua Trung-Kỳ gửi cho quan Tỗng-Thống hay 
các xứ thuộc địa anglais tại Thiẻn-Trước, viết tại Sài-Gòn nhằm 
ngày 20 tháng novembre 1798. 



- 192 - 


Năm 1796, chúaNguyẻn-Anhtrởra đảnh Qui-Nhợn 
nữa. Người lảm khờng xuễ nên phải trở về Sải-Gòn. 
Song khi qui phục đặng một ỉt lâu, thi thấy Tiều- 
Triều, con ông' Nhạc, xin người cứu giúp, ông Tieu- 
Triều inới hảm lấy đặng thinh' linh Qưi-Nhơn và xin 
hàng đầu chúa Nguyễn, vì sợ cự khống nỗi đạo 
binh con chủ minh. 

Chua Nguyễn vội vả sai binh tiếp cứu. Song binh 
tải trề lắm, vua kinh thảnh Huế đã lấy lại Qui-Nhơn 
rồi, và giết Tilu-Triều đi. Chúa Nguyễn cũng cứ tấn 
binh tới, nhưng vậy, trong lúc hành quân lần thứ 
tư nay (năm 1798) mà đánh Qui-Nhơn, thi người 
cũng không cỏ phước hơn mấy chuyến trước. 

Sau hết, qưa năm 1799, mới thành công. Lấy 
đặng Qui-Nhơn củng cho binh soán. Song hại thay 
cho chúa Nguyễu-Anh, vi người bị một chuyện buồn 
thảm khôn xiết kế nối với sự người thẳng trận. Là 
thượng sự Bả-Đa-Lộc, bạn thiết cùng sử việc cho 
người, đã từ trần.' Hức thầy triều thiên tại Binh- 
Định nhằm mồng 9 octobre 1799, khi ấy đặng năm 
mươi tám tuồi. Xác người chở về Sài-Gòn, là nơi 
chúa Ngúỵễn-Anh tống táng trọng thề lắm, lại chính 
vỉ chúa Nguyễn có đọc bài vàn tế mả tặng phong 
cho người; vậy ta xin dịch bồn chánh ra như sáu 
đày : 

Có sac răng: Ngưò'i hiền ngỏ tôi đã quen biết xưa, chẳng nại 
đàng xa ngàn dặm mà tói. Bang hội giao rắt tốt, mà sao lại 
no - một buổi mà mât di ! Tưửng den dức cu nèn rử ra OT1 Nưó’C 
Langsa phong chức: Riêng sai thông lịnh , sữa sang theo ỷ 
mình tàu chiến, thủy bộ binh giúp, là Giám-Mục Ba- 
Ba-Lộc, là thầy cả ló-n quàn bẻn đất Tay, là khách nhứt hạng 
trong nưó-c Việt-Nam. 

Ngày mỏi khải cầm quòn dã may gặp bạn rất lành, tin tưỏ-ng 
nhau lúc ban đầu còn u ám. Ta dả kề tiếp đức ảm người ma 



- 193 


hỏi han, thi thật đã nhò- lắm, trong C 0 'n nhà nưó’C mắc nhi'êu 
hoạn nạn. Ta khi ấy cực khồ trèo non vượt núi cũng như đòi 
nhà Hạ vua Thiếu-Khưo-ng. Vậy dã khiến trử trò-i bièìn chia hai 
dàng. Õng Ta tin nghe theo khác nào chức A-Bảo của thải tử 
đời nhà Hán. Tuy lời qua tỏ dã yẻn vóũ nưóc tồ phụ, lấy binh 
đến giúp. NỮ4 chừng việc vói lòng trái nhau, song ngưòi đồng 
cừu thi tinh làm theo ngưòũ xưa, .thả vì ngãi mà tói nhau, đều 
tụ hội lo mưu theo dịp dấy loạn ấy. Năm Mậu-Thân trỏ- về • 
nước cũ mình, thì rất trông tiếng tốt. Năm Canh-Tuất thì gỏi 
thuyền lại chốn Bông-Phố. Khi ấy càng hậu lòi giao ưó-c hon, 
thật rất phải .dạo thầy dạy nuôi trẻ tho ấu. Thưòng ngày tiếp 
rưó-c, nên hằng bảy ra mưu lạ mả yên trong CO’11 loạn roi. Việc 
đạo đức trong lòi nói, tiếng cưòi, và ngải nhon đã họp nhau 
như trâm vói tóc vậy. .Việc kinh luản ngoái phong trần tình 
rất tin nhau khi liền dày cưong. Trước sau một lòng ngay thật 
không hai. ■ Sinh ra mà gặp d'êu lạ thì dồng vui. Những trông 
bọn trai qua năm tuồi tác làu dài má vui vầy cùng nhau. Ai đè 
bui tro lại lấp chôn cây ngọc 1 Ta thảm tưỏng toi dỏ mà tăng 
phong làm chức Thái-Tử, Thái~Phó tưó-c Pi-Nho, Quận-r 
Công. Lại thêm tặng hám ân rằng : Ngay Thái, Tốt Lành. 
Cho dặng tỏ mùi thơm dức lón ke dã khuất dò-i. 

Và ngỏ nêu còng nghiệp cả kẻ khách lành . Hỏ-i ôi ! cái sao khách 
đêm sa! đi chốn thiên đàng khôn cầm lại. Một chữ tặng khen 
thì rất lịch sư như là mặc áo cẫm bào cho vậy, bởi tinh la 
chăng nguôi. Hối ! ỏng thiêng liêng đã gối nhuần ta on sáng. 

Nay sắc phong. (1) 

Ngày 12 tháng 1 1 năm thứ 60 dối vua Ki’ên-Hưng(2) trị nước. 

ơ) sẳc viet : Triết nhon ư tri kĩ, cố bất viễn thiên lý nhi 
lai, hảo hội chánh tưong thân, hựu hà nhìn nhứt triẻu nhi thệ ! 
Biễn tư cưu dức, tải bí tàn ân, Phú Langsa quốc cô : -Đặc saỉ 
đạt mạng, đỉều chê' chiến tàu , thủy bộ viện binh, Giám- 
Mục Bá-Ba-Lộc thưọ-ng sư Tây thỗ vỉ nhon, Nam triều thưọng 
khách, tỗng giác nhựt hạnh phùng giai khế, chi khí giao phù. 
Thảo muội SO- cận tiếp dức 'âm, tuần tư thật lại, ngẫu nị quốc 
gia đa nạn, đư thì dinh Hạ Thiêu chi kì khu. Phiên giao thiên 
hải lương ki, cóng doản dịch Hán trừ chi A-Bảo. 

Tuy vảng tố ngôn hài vu tông quốc, dặc dỉ binh lai viện, bán 
đ'ô nhị sự dữ tám vL Nhiên dồng cừu nghỉ tác vu cồ nhon ninh 



- m — 


Chúa Nguyễn có truyền xây một cải lăng trên phần 
mộ đức thầy và dựng một tấm bia đá cằm thạch — 
nay cũng còn luôn — có thích chữ thếp vảng, nghĩa 
nó như vậy : 

Có ngưò-i thầy cả lổn quòn ỗ • bẻn Tày, tén là Pi-Nho, hiệu 
/à Bá-Ba-Lộc, tliuỏ- bé tho- đẵ học hành đạo lý trung quốc, 
thông SUỐI các kinh văn thánh hiền toàn hảo. Đến tuồi khôn 
qua nưóc Việt-Nam Ta, nhằm khi trong nưức Ta đang phải đa 
đoan. Ngưỏ-i là khách tha bang, mà đã làm thầy trong nưức 
Ta. Ngưòi có tỏ bày tài văn học minh ra mà làm việc. Vậy dã 
chung- cùng ưu tư vó-i nhau trong co-n nhà' nưó’C loạn ly hồn 
dộn, Lại dã đành nấy phú việc dại Sự cho' ngưòi làm thầy nhà 
nưó-c má đi viện binh giúp nưó-c. Thật ngừừi tận tàm tần lực 
mà di qua lại ho-n hai năm, gian nan cực kho. 


vị ngãi tưcrng qua cọng hội, nhi mưu thừa hấn, phảtMậu-Thản 
phản cố bang chi phế, chánh vọng hảo âm. Canh-Tuất phù Đông- 
Phó’ chi cháu, di đòn tính ưỏ-c tốn ngòn, thì phục chảnh dưửng 
mông chi sư dạo vưu nghiêm. 

Tấn tiếp nhựt thưò-ng long, chân hoán chi ki mưu lủ xuất. 
Bạo dừc trung đùm tiếu, ngãi kí khế vu hạp tràm. Phong trần 
ngoại kinh dinh, tình doản phù vu liên' bí. Chung thỉ chi cho-n 
tàm bất nhị. Binh sinh chi kì ngộ quàn hoan. Dản kì lịch quá 
niên hoa, vỉnh vi hảo đằ.Thùy liệu trăn mai ngọc thọ, tịnh ngôn 
tư chi, viên tặng vi Thái-Tư , Thái-Phó, Pi-Nho Quáa-Công. 
Thị viết Trurtg-Ỷ, dí chưang thạc đức chi u hĩnh, dỉ biễu gia 
tàn chi vĩ tích. 0 hô ! khách tinh dạ vẫn, thiên đàng chi khứ 
nan lưu, hoa cồn vinh bao, ngụy khuyết chi tình hạt khánh. 
Ê ! công linh sẳng mộc ngã sủng quang. 

Cố sắc. 

Kiễn-Hưng lục thập niên, thập nhứt ngoạt, thập nhị nhựt. 

(2) Vua Kiền-Hưng, hay là Lê-Hiền-Tông, lthỏ-i sự trị nưóc 
năm dầu hết, là năm 1 740, ngưòi băng nhằm năm thứ 47 trong 
dòi ngưòi trị, là 1786. Chúa Nguyền-Anh không ke tưi sự 
ngưò-i khuất trần và dấng nối trị cho ngưòi, lù vua Lê-Chiéu- 
Thống, lại lấy năm thử 60 đừi vua Kien-Hưng (1799) .mả dề 
cho bài văn tế mình, dưòng như vưa ấỵ còn tại vị vậy. 



— 195 — 


Ngưòi đã bày về việc binh cơ đồ trận, chỉ cảch xây thành 
lập trấn. Nhứt thiết các việc chỉ khỗi bày gầy dựng, thì nhỏ- 
có ngưòì bày biều mà truyền dề cho dòi sau. Bổi đó nưức Ta 
dân dần đã đặng nhiêu cách thế mà thạnh, vl có người làm 
thầy có tài sửc lắm . 

Nám Kỉ-Vi, ngưỉri đã theo việc binh niả tới thành phủ Qui- 
Nhơn. Sang tổ-i ngày mưòi một tháng chín thi ngưởi đã tạ 
the tại đỏ, là nơi bên cữa Thị-Nại. Khi ấy ngưòù dã đặng 57 
tuồi. 

Qụa mạnh đóng (tháng 11), thi đặng sắc phong lảm Thái-Tử 
Thái-Phó Quận-Cóng. Bã chọn chôn xác ngưòi tại phfa bắc 
thảnh Gia-Định. Vậy nơi xây dẳp nầy là chốn nghĩ cho đấng 
thây nhà nước dã mạng cố. Nầy thật là dấu tích muôn dời. 

Năm Canh-Thân, trọng thu tháng tám (1), ngày lành dựng 
bia (2). 

Lăng cỏ tường bao vòng với năm mươi lính canh 
giử. Khi đức hoàng để Gia-Long thăng hà, ngưcri 
có biền con người, lại là đấng nối trị, là đức vua 
Minh-Mạng, đoan thệ cấp dưởng quán mộ phu ấy. 
Vua Minh-Mạng eiử lời thề cho tới khi ông Lè-Văn- 
Duyệt, tồng trấn Nam-Kỷ, qua đời (năm 1832). Tại 

(1) Tháng nầy nhằm thảng septembre 1800. Xin coi chuyện ấy 
trong sách ỉnstitutions annamites, cuốn thử 11, trương 265. 

(-) Sự dại Tảy-Đưong quốc nhon, Pi-Nho thị hiệu Bả-Bạ-Lộc, 
thiều phụng dạo giáo nhi trung quốc, thánh hiền thơ tịch mị 
bất giảng quán. Bãi tráng nỉèn, lai ngẫ quốc nội da có Sư Vị 
quốc chi tản, thố sở học VU sở hành, tương dữ châu triền, vu 
diên phải lưu ly chi tế, ký hựu ưng trọng thác, xuất viện Sư, 
lai vãng gian quan, bất di dư lực, nhị thập dơ nièn chi gian, 
tản hoặch nhung trừ, tham tài trấn vụ, chư kì hưng kiên hiền 
thiết giai túc, dỉ truyền chi hậu, ngã quốc xâm xâm hồ, hữu 
trung hưng chi thế, sư chi lực vi đa diên. KỈ-VỊ tùng chinh 
Qui-Nhơn phủ thảnh, cữu ngoạt thập nhứt nhựỊ dĩ chánh chung, 
vu Thị-Nại hải môn tân thử, thọ ngủ thập hữu thất ki niẻn, 
dỏhgmạnhsẳc táng Thái-Tử Thái-Phó Quận- Công, bốc táng 
vu Gia*Bịnh phủ thành chi bắc. Sư cố sở trúc tinh xá đã, thi vi 
cỊù. tuế thứ Canh-Thàn trọng thu ngoạt cốc đản thụ. 



nước Bại-Nam, nào vua, nào nhơn dân cũnglkhông 
biều rỏ cho lắm về lời ưng chịu, thề thốt thề nào, 
nèn cỏ cần chi mả phải nhẳc lại đều ấy. 

Khi người ỉangsa chiếm cứ xong xứ nầỵ, nhà nước 
cỏ nghị định ráng lăng cùng đất xổng quanh thuộc 
về cổng thồ. Như ta tin theo lời sách La Cochin- 
chìne Franẹaìse en 1878 nói (trưomg 73 với 74), 
tỉù là quan tliũy sư Charner ra lòi nghị ấy (tháng 
aoùt 1861), đoạn có chỉdụdức hoàng dế Napoleon ỉ 11 
ra trong năm 1863, song nay tại Sài-Gòn không, 
còn dấu chi làm chửng về sự tích công văn dỏ; 
kế quan thũy sư Duperrẻ cĩing nghị (lịnh một cách 
(số 106, ngày 16 avrii 1875). 

Khi chúaJguyền-Anh lia chon ra khỏi Qui-Nhơn, 
ngưôũ cỏ dề lụi dó một dạo binh, cỏ ỏng Yo-Tánh 
quan xuất. Chầng khỏi buo làu quan tưómg nầy 
Ị) hải- quan Tày-Som trở lại vây đánh (lúc cuôi num 
1 799). Song thảnh ấy. dự bị hoẳ llụrc rất nhiều, 
làm cho chúa Nguyền không lo SỌ' chút nào. Qua 
năm 1800, lối mấy tháng dầu, người mó*i ra tiếp 
cửu. Dau vạy, quàn Tàv-Sơn đã tích trử nhiêu đô 
thê mà chồng trả lại, cho đến dồi chúng uóVngăn 
khòng cho người xáp lại đặng gần. ! v' 

Trong lúc tranh chiên nầy có hai chuyện bi ái khác 
xảy đến làm cho chúa Nguyền-Anh ưu sầu. Lả ông 
thái tử dỏng cung Cảnh qua đời (tháng février 1801) 
rồi, cách bốn tháng, òng hoảng Hi (Chị-Báa), la 

một vị^khác ti’ 0 ng hàng con người, cung khuất 
tran nữa. 

Chúa Nguyền-Anh chịu sầu bi khôn xiết về sự 
mat con va đanh khỏng núng Qui-Nhơn, nên có một 
khi kia người thối chí. Người viết thơ cho yèn 



497 


hùng Vỏ-Tảnh cự thủ thành bị vây, khuyên ôrig ấy 
bỏ thành, phá Vày mà ra cho đến người. Song quan 
tướng Vỏ-Tảnh có lòng tinh trung báo quốc vả hiều 
sự binh cơ đồ tràn dáng lấy làm lạ lắm-, là người 
xin chúa Nguyền đề cho ngưòã giữ thảnh, như cần 
phải thí người di, thi cũng không hại gi, xin vua 
kéo thẳng ra Huế mả đánh, vi khi ấy nỏ dường như 
không ngăn ngừa. Sự hành quàn như vậy, thi hoặc' 
là người, là ông Vỏ-Tánh, cầm dạo binh Tây-Sơn ở 
lại đóng chung quanh Qui-Nho-n, hoặc dại binh ấỵ 
phải bỏ vây mà về giữ Huế, nèn trong hai cách đó, 
cách nào chúa Nguvền cung đẳc thế. 

Chủa Nguyền-Anh nghe theo lời khuyên. Người 
đánh soán Cửa-Hản vả hảm lấy Huế (ngỏỵlổjuin 
180-1) ■ Vua Nguyen-Ouang-Toản cố thủ thành uầy, 
phải chíịY trốn, bỏ hết mọi sự... trừ ra vàng bạc 
củng quí vật minh mà thòi. Song thương ôi, Qui- 
Nhơn tân lương cũng kế, phải sa vào tay giặc. Tưỏ-ng 
Vỏ-Tánh viết thơ gỏâ ra cho quàn Tày-Sơn mà xin 
dong mạng cho quàn sì mình, rồi người vầy thuốc 
súng đốt cho nó nồ mà tự vận. Ong Ngỏ-Tùng-Chàu, 
lã phò tướng , uổng thuốc độc má chết. 

Quận ? Tày-Sơn kính vi lời xin đấng yên hùng, lại 
chồn qâT.thàĩi thề người cách sang trọng lẳm. 

Ấy vạy, Qui-Nhơn dã về tay quan Tàỵ-Sơn một lần 
nữa, song, khi nhập thành rồi, quàn ấy làm thi 
thế cũng gần giống như quan quần nhà Ngụyền thủ 
thành lúc trước vậy, nghĩa lả vò vạt thực. Bởi dó 
một í t làu sau, khi chúa Nguyền-Anh trở về, tới phịèn 
người vây, thỉ người cung làm như qụàn nghịch lúc 
trưỏ-c mà thôi, là chờ đợi. Người làm dặng sự ấy 
khá hơn, nhỏ- có xử Àỉ-Lao sai binh xuống phụ lực, 
vó-i ốSơO quàn xiêm đi ngang qua Lào quốc mà dến 



198 - 


nứa, lòm cho cuộc vây ra chặc chỊa hơn. Qua thảng màrs 
'1802, bỉnh thủ thảnh phải bỏ nó ban đêm lên Lảo mả 
Ỏ-. Vậy nay cả xứTrung-Kỷ đầtrừsạch quànTây-Sơn rồi. 

Sau lúc lấy Ộui-Nhơn lại, thi chúa Nguyễn-Anh đẵ 
thâu phục các tứ tồ phụ ngưòá lưu hậu, người lấy 
tước hoàng đế, xưng là Gia-Long (tháng juin 1802), 
nghĩa tượng tự nó như phước thạnh (gia = ỉỗt, 
sang, vui mang ; long = lởn, cao , thạnh). 

Dầu vậy, người cũng chưa phỉ lòng tham. Vi còn 
Ịấy xứ Bằc-Kỷ nữa. Họ Trịnh đã dứt tuyệt rồi, vua 
Lê quĩ thứ bỏ mình bẽn Trung-Quốc, Nguỵễn-Quang- 
Toản còn một ít binh tàn mà thỏi, không sức nghinh 
chống mạnh mẻ cho lẳm. Vừa tôn xong, đức hoảng 
đế Gia-Long thân chinh xuất trận nhằm tháng juin ;■ 
lại, qua lối giữa tháng juillet, người nhập thành Hà- 
Nội. ông Nguyễn-Quang-Toản bị bẳt được và chịu 
gia hình tử mẵ, còn ba chục người thàn thuộc ông 
ấy đều bị xữ lăng trì. 

Nội loạn đã hết rồi, lạì sự làm khồ sở cho người 
cỏ đạo cũng dứt đi nữa, vi tại các xứ phục quân 
Tây-Sơn, thi thấy mây người ấy -mảng chỊuhẳtbớ 
luôn, ông đạc đức Louvet nỏi rằng, lúc sau đặng 
ba mươi năm bình an về sự đạo, thi đề cho Hội- 
Thảnh Đàng-Trong cỏ ngày giờ mả rịt thương tích 
mình củng sẳm sữa chống trả các trận khác. 


NHẢ NGUYỀN 

GIA-LONG (1802-1820). — Vừa tức vị, đức hoảng 
đế tân phong nầỵ xuống chiếu ân xá cho hết thảy^uân 
Tây-Som nào ra đầu thú trong năm ngày. 



— 199 


Con cháu nhà Lê với họ Trịnh cỏ đến lạy mầng 
đấng đại quốc quán, thì ngưcri có phong tước và 
cấp điền thồ cho mấy ông ấy. Vua nước Cao-Man 
sai sử đến, còn chinh vỉ vua xử Nam-Chưởng 
cũng xuống nữa. 

Bức hoàng đế Gia-Long cầu phong với Đại-Thanh 
cũng như các vì vương đế trước người vậy ; song 
người không chừ đợi vua Thanh phúc thơ, người 
lại ỉo chấn chỉnh đại quốc minh mà thòi, Người 
làm như vạy phải lẳm, vì qua năm 1804 triều đỉnh 
Bẳe-Kinh mới nhìn phong cho người! 

Trong mười túm năm dức hoàng đế Gia-Long 
hưởng quấc, thấy đặng thái binh. Trong mấy còng 
việc trọng hơn hết mà người dạy lâm, ta xin kề 
ra : Tu bộ đinh chung trong cả Nam-Kỷ. Sữa luật 
lệ trong nước lại (là thứ hãy còn thông dụng trong 
lúc nầỵ). Khai quan lộ thông qua các tỉnh thảnh, 
nó kề tử noi giáp cảnh Trung-Quốc mà chạy dẫn 
cho .tửi biên cương Cao-Man cuốc. 

Từ năm 1810 cho tới 1813, nước Cao-man bị 
quàn xièm loán đất, cỏ xin đirc hoảng đế cứu giúp, 
thì người sai binh lẻn. Binh xiêm rút về khòng đảnh 
hai lần. Năm 1813, lập tờ giao hòa tại La-Bích 
mà nhìn biết thật nước An-Nam có quyền bảo hộ 
nươc Cao-Man, thì mới hết các sự khuĩíy rối ấy. 

Trong dời đức hoàng đế Gia-Long, thì người an- 
gỉais có ướm thừ mà .giao hữu với nước An-Nam, 
song không xong việc. Nảm 1804, quan sứ anglais, 
tên là Sịr Roberts, phải ra khỏi xứ mả chẳng xin 
được đều gi. Nàm 1808; có một đạo phiến thuyền 
anglais đặng bảy chiếc chạy lèn cho tới Hả-Nội, nó 
Ệỷị;ji'. : bị đốt đi mà nước Grande-Bretagne không báo thù 

|p§£: sự sĩ bĩ như vậy. '  . 




Qua 1818, quan tườc bả De Kergariou, quản đôc 
chiếc ữẻgate Cybèle đến, vi cỏ vua nước Langsa, 
Louis XVIII, saĩ qua mả xin thi hành tờ giao ưó*c 
ìập trong năm 1787, chỉ về Cửa-Hản và hòn Côn- 
Nôn. Quan nầỳ đặng tiếp rước cách tử tế lẩm, song 
chẳng đặng sự chi ráo. Khi ấy đức hoàng đế Gia- 
Long không còn cần nưửc Langsa nữa, sự như vậy 
không chối cãi được; song, nướcLangsacóphẻpbuộc 
phải thi hành lòã giao ước mà, trước hẽt, minh không 
kính giữ chàng? Các quan langsa theo đức thầy Bá- 
Đa-Lộc mà đến nước An-Nam, là tùy ỷ riêng minh 
mà thôi, không lảm cho nước Langsa mẳc phải trách 
cứ chuyện chi. Tò* giao ước năm 1787 (lấ ra như 
không rồi, lại đức hoàng đế xem nỏ đường thế thật 
rất nên còng chánh. Ong Chaigneau dừng dịp nầy xin 
phép đức hoàng đế đặng về viếng nước Langsa, thi 
ngưòi nhậm lời. ông ấy cũng- có phụng lãnh đi sử 
về với vua Louis XVIII. 

Khi đức hoàng dế Gia-Long gần thệ thế, người 
chọn đấng dễ sau kế vị cho người, là ông hoàng tử 
Bảm, con bà thử phi. Người không nghe theo lời cảc 
quan tướng lảo gián khuyên rẳng, theo phép ngôi càn 
phải đễ cho nam nhi ông đông cung Cảnh. 

Đức hoàng để Gia-Long băng nhằm ngày 25 jan- 
vier!820. Đại quốc quân nầy là một vị trong mấy . 
đấng cỏ danh tiếng hơn hết trong sữ Bại-Nam. 
Người ân cần lo lẳng luồn, không thối chí bao giỏ", 
bồn tánh đầm thấm, mực mẹo, người lại đặng tư 
chất nầy nưa, làm cho sanh nên các đấng thượng 
trí, lả biết phân biệt người đời cùng tủy theo tài 
năng mả cử dụng. Không tin đạo nảo hết, chẳng lảm 
thiệt hại cho con dân giữ đạo Thiên-Chúa, song người 
cũng khôn thi àn cho mấy kẻ ấy, như người làm đặng. 



• . — 201 — 

Về sự đoái xem người phương Tày, thi nó theo 
cách dân cảnh Đông thuở' đỏ và lủc nầy cũng còn luòn 
như vậy. Lại ví như đức hoàng đế Gia-Long ít có 
í: tánh định chừng trước, bỡi dòng dỏi mà ra, hơn các 

'i.;í V . kẻ đồng loại với người về quàn Tày-Di, ỉà vì người 
;/ậ ' cân quân nầy hơn các kẻ ấy. Mà khi đặng trở nên 

V; ; chúa tề thật, người lại làm cho tận tuyệt lần lần 

người langsa, là kẻ lấy nước lại giùm cho người. Lời. 
người anglais xin thời bát đi. Còn quan sứ nước 
Langsa đặng trọng dải mà không được đều gì hết. Khi 
phải lập sự kế đại cho kiên hảo, thi người lại chuộng 
con thứ hơn đấng đăng quang chỉnh phép, là đích 
tôn người, vi cỏ khi sợ trí ỷ vẻ vời cùng linh khí đức 
thầỵ langsa, là thái sư ông đông cung Cảnh vô đạo mà 
chết, có lưu truyền cho mấy con òng thái tử ấy chăng. 

. Dâu. vậy, người cũng cỏn cỏ lòng vỉ đến những kẻ 
L • làm tôi mạnh đạn nầy một ít, là mấy vị laogsa làm 
cho người đặng khởi hoàn, còn đẩng nối trị cho 
“ỉ; . n £iròị> lả, đức vua Minh-Mạng, thời không còn vi vỏi 

chuyện như vậy nữa. Bồn tánh kiêu cang, sự tối mát 
theo người cảnh Đòng đến sau lướt đặng. 

Thường khi ngưòá ta nói các dàn da vàng định 
chừng trưcrc, là tại tư cư làu dời, bỡi cách giáo huấn 
riêng, tại bậc học hành cao xa, việc dạy dồ về cách 
vật, cùng các đều làm cho dân ấy không ganh gồ đều 
gi với chúng ta hết. Trí sọ* người phương Tày ỉoán 
đất, lấy gương xứ Thìèn-Trước làm bẵng, thì chắc 
cỏ khi làm cho mạy dân đó phòng hậu thủ thế lắm 
và ít xiêu lòng mà tinh toán, phải cho cách nào di nữa 
cũng mặc dầu. Song, ngày nay sự dòng dỏi da trắng 
thẳng trồi hơn đã chỉ ra cho chúng nó thâv, ngày nay 
ráệc chánh chúng nó có phép lo đặng củng 



chăng, là tại ý chư đại quốc mà thôi, nèn sự cảc dân 
đó ghen ghét chẳng còn lấy mấy lẻ ta mới tỏ ra đày mà 
giải dăng nửa. Cho đến trong mấy xứ thuộc về rigười 
phương Tày chiếm, thỉ hội người tâu củng còn lấy 
iò-i nay mà làm hiệu <t hết thãy đề cho người tàu 
và bơi người tàu mà ra ì), đều nầy như lấy mấy 
lẻ trước mà thuyết lý, cung không hiều dược. Người 
nhựt-bồn, khi lảm cho minh ra giống chủng ta trong 
sự thông thái, sau khi thẳng đưọ-c binh khí russe, 
thi nông sức làm cho minh ỏ- riêng ra và dóng bít 
mình lại nữa, chuyện như vậy cũng chẳng hiều đặng 
hơn. Trong việc ngăn đón khòng đề cho người Tày 
phương thấu vào xử minh,chẳc cỏmột đềukhảc, không 
phải mọt mình sự sự chỉ về việc quốc chảnh mà thôi ; 
trong dỏ nó tỏ ra trọn tánh ỷ riêng theo dòng giống. 
Người đa vàng thì khiêm nhượng, phủ phục tnrở-c 
mặt quan thầy mình, còn kiêu ngạo, dễ duôivới kẻ 
dưới tay ; không kề tới chuyện từng trải đã rẳn dạy, 
cứ quảng mẳt một thế luôn, chẳng chịu cho chúng ta 
có trí hoá trồi hơn, mả nhưng vậy mỗi ngày chúng ta 
thường cho thấy cớ đì vi bằng. Sự thần thề và linh 
tính đã chế tạo loại da vảng trong -bốn ngàn năm', thì 
không hủy tuyệt hay là sữa nó lại trong một dôi năm 
đặng. Có khi cần phải nhiều đời mởi cải được tảnh 
người phương Đông, lại xem ra sự dời đồi ấy mà có 
viên thành, thì phải bị dều hung dự, chiến tranh mới 
đặng. Ngày hậu lai còn dành dề cho chứng ta nhiều 
cơn đấu lực gửm ghiếc với người cảnh Đông, việc ấy 
khòng lế nghingỏr được. Đó lả đều cần kip nặng 
nề cho chuyện tấn ích, khi hai cuộc giảo hoá hai 
dòng giống chúng ta khảc xa nhau dường thế mà xáp 
đụng với nhau như vậy. 



— 203 — 


MINH-MẠNG (1820-1841). — Khi lèn ngai, đức 
hoàng đè tàn phong nầy khòng tỏ điềm chi cho thiên 
hạ biết đến sau người ra the nào. Ban sơ người do 
theo việc trị nước nghiêm từ ngưỏl cách trí ỷ cùng cân 
phân. Người thù tạc chuyện buôn bản với các xứ 
thuộc địa liền cương ; song bởi sợ tánh tày nhơn 
muốn loán, hay lậm liều, nên ít khi người cho vào 
nước An-Nam. Đến sau, dửc hoàng dế Minh-Mạng 
lèn án tử cho nhừng người phương Tày nào vò trong 
xứ. Người rước dải sơ sài quan sứ anglais, John 
Crawfurd, cũa quan tồng thống xử Bengale sai qua. 
Nám Ị 821, ông Chaigneau thọ chức lẵnh sự cùng 
khâm sai vua nước Langsa, người trỏ- lại nước An- 
Nam mà tính cho xong tờ thương ước, song không 
đặng dều chi hết. Năm 1822, ông Courson de la Ville 
Hélio, quản đốc chiến thuyền írégate, hiệu Cléopá- 
ỉre, qua đậu tại Cữa-Hản, thi đức hoàng đê Minh- 
Mạng không chịu liếp rước. Lối tháng décembre 1824, 
ông Cbaigneau với ông Vannier„lá hai quanlangsa ở lại 
sau hết tại Trưng-Kỳ, mâc phải ý xấu dức hoàng đế 
và tánh ganh gồ ghen ghét các quan, nên phải bỏ dứt 
xứ nầy mà về, là chốn hai ỏng ấy đã thi liều sức lực, 
sự thông hiều cũng mấy năm xuân thời minh hơn hết 
mả giúp. Vậy, khi ấy còn mấy thầy giảng đạo, kề là 
người Tây phương ờ lại mà thỏi. 

Nẳm 1825, chiếc tàu Thétis, cỏ ông De Bougain- 
ville quản suất, qua tại Cữa-Iỉản. Đức hoảng đế sai 
đem lễ vật mả cho, song không chịu lãnh tho- vua 
nưó*c Langsa gởi, lấy cở rẳng « không ai diền dặng 
nghỉa nó 

Năm 1831, quan thủy sư Laplace, đi chiếc Faưo - 
rite , cũng có đến tại Cữa-Hàn nữa. Sự người tỏ ra 
.ý mình ao ước dó không đủ, vì' nỏ chẳng lảm cho 



— 204 — , 

đức hoàng đế cãi tâm chút nào. Người 'phẳi trở ỳề, 
không xin đặng đều chi hết. 

Về vụ chấp chánh, thi đức hoàng đế Minh-Mạng 
muốn tóm hết mọi sự về một mối. Người khồng sá đến 
ỷ ao ước, tánh, rièng mỗi loại, sự nho-n dân trung-kỳ 
với bẳc-kỳ khòng ưa hạp nhau, người dạy khâp nơi 
dừng cũng một cách cai trị hả khắc và ép uồn chủng 
dàn. Nước Cao-Man phải sữa lại làm hai tĩnh, là 
Nam-Yang (Pnompenh) với Gò-Sặt (Pursat). 

Sự lo sợ về chuyện trong nộí nay dã đến hiệp củng 
còng việc sẳp đặt nầy. Vi mấy người con trai ông 
dọng cung cảnh có thế mà lảm cho minh trở nên kẻ 
tranh quờn.Nén mới nhứt quyết hại mấy vị công tử 
ấy. Người ta nói rằng : « đức vua Minh-Mạng co tư 
thông với chị dàu và làm cho bà nầy cỏ thai. Khi 
mang mền lộ trần, vua bèn xử tử bà ấy với hai con 
người, là cháu vua, về tội loạn luán. Nhưng vậy, vua 
có ban ơn cho ba mẹ con chọn cảch chết (1). »(P. Ký). 

Chuyện hai cháu xong rồi, ngưòi lại tính cho khối 
hai quan khi trước xin đírc hoàng dê' Gia-Long‘ lập 
một vị trong mấy hoảng tòn người lèn mà nối ngôi. 
Vã chăng, hai tướng lảo của vương phụ người khi 
ấy thong . thả trong lời nói, việc làm, khỏng đễ cho 
người yên tri. Vậy cã hai khi ấy có mặt tại Huế, ông 
pẻtrus Kỷ nói lả nhẳm dịp vua Minh-Mạng tức vị, 
nền hai quan tướng mới về đó. 

Một người, là ỏng trung quàn Nguỵễn-Văn-Thiềng, 
cai trị Bầc-Kỷ,bị cáo gian rẳng muốn dấy giặc, nên chịu 
xử tử. Một người nữa, )ả ông tả quàn Lê-Văn-Duyệt, 


(i) ơn ấy kêu là tam ban triều điên, aỏ chỉ -về sự gỏú 
ba vật cho người bị án cỏ . phép riêng dì mà giết mình, 
là : Ba thưỏx ỉụa điều, một chén thuốc độc vói môt cày gưom. 



— 205 — 


khixử tử oan ông Nguyẽn-Văn-Thiềng, thì cũng cỏ mặt 
tại triều, người có phước hơn òng ấy, vi người bẳt 
đặng anh kí lục lãnh làm tho* dễ mà hại người. Tèn 
khốn kiếp nầỵ bị xét, gặp tho* trong minh với ấn của 
quan thầỵ nó nữa . » 

Quan tướng quàn dạy chém quách tèn đó liền, 
rồi xin đức hoàng đế Minh-Mạng cho minh về xứ 
Nam-Kỷ, là nơi người lãnh chức tỗng trấn(t) mà 
quản trị. Bức hoàng đế biết quan ấy hiễu ý minh, 
nèn không dám từ chối, ồng Lẽ-Văn-Duyệt tiên du 
tại Sài-Gòn nhằm thảng aoùt '1 832, lại cho tóù giờ 
lâm chung thì -quan nav mới hết binh vực người 
langsa cùng con nhà có đạo. 

Củng trong lúc đó, chiếc tàu Favorỉte có òng De 
la Place quản xuất, dem một quan lãnh sự ra Huế, 
tên là Chaigneaụ, là chảu người chủng ta đã biết rồi. 
Sự người lo lẳng ra vô ích. 

Khi đức hoàng đế măng tin òng Lè-Văn-Duyệi 
khuất trần, người bèn bỏ chức phận quan ấy di, và 
chia xír Nam-Kỷ ra làm sáu tỉnh phàn biàt nhau (2) 


(1) Hai tiró-c tong trấn vói tòng đốc dèu có dùng, chức 
thư- nhức chỉ ve các quan tỉnh xứ Bắc-Kỷ, chửc thứ hai v‘ể các 
quan tỉnh xứ Nam-Kỳ. Đòã vua GÍa-Long thi xử Trung-Kỳ đích 
danh có chinh vì triều đình Huế quản trị, ỏ- đó chầng cỏ chức 
tồng đốc. Vậy ông Lẻ-Vản-Duyệt không có tu-ó-c như các quan 
tĩnh xứ Nam-Kỳ (nếu như lúc dó mà cỏ tưó-c ấy), vả chăng, 
quyền ngưò-i thật là quyền quan thống đốc. 

(2) . Các tĩnh dô là: Biẻn-Hòa (Bồng-Nai); Giu-Bịnh (Phan- 
Yên) ; Mỷ-Tho (Bịnh-Tưò-ng) ; Vĩnh-Long (Long-HỒ), trưóc hết 
tỉnh nầy kêu íà Vĩnh-Thanh ; Chảu-Đốc (An-Giang) ; Hà-Tiên 
(Gan-Cao). Lúc sau có một it.tỉnh hiệp tạm lại vỏi nhau dề 
cho một vi quan coi mà thỏi, khi ấy sự cai trị như vậy lấy 
tên mưọ-n trong mấy tên tỉnh nhập lại dó mà kèu. Thí nhtr 
quan chủ trị hai tỉnh Chàu-Bốc vói Hà-Tiên, thì gọi là An-Hà 
tòng .đốc, nghĩà là quan hay tỉnh An (-Giang) -Hủ (-Tiôn). • 



- 206 


mà cho sảu quan tỉnh trị. Quản tỉnh ở tại Sài-Gòn 
có lạp ra một tỏa hinh, chinh vi người làm . đồng lv 
đạng vấn tội đấng đã từ trần. 

Sự giảo nhục nầy lảm cho các quan phò tá quan 
tướng lảo rất đồi đau lòng; lại may quan ấy cảng 
căm giẠn hơn nữa, khi thấy mấy kẻ dua nịiìh tiễu 
tàm của dírc Minh-Mạng xem ỏng Duyệt cùng bộ' hạ 
ngưò-i dường như muốn tách lạp. Quan bo chánh 
Sài-Gòn, tên là Bạch-Xuàn-Nguyên, cáo nhứt là ông 
phó^vệ húy Lê-Hựu-Khôi (ì) rằng dong tình với ong 
Lê-Văn-Duyệt đễ cho đăng lâm mà giục lợi. 

Lê-Hựu-Khỏi, bị cách, đặng tờ đòi người về Huế. 
Đó lả hiệu lịnh dậy giặc ('năm 1833) (2). Tạì sự cai 
trị bạo ngược, lòng độc dữ đức hoàng đe Minh-liíạng 
mà ra, làm cho tâm trí nhơn dân không còn men 
người nữa. Bỡi vậy ông Khôi không thửa mạng, lay 
khỉ giái mà cự lại, người làm cho nhơn dân choi dậy 

D) ỏng Trưo-ng-Vĩnh-Ký gọi ông này lả Lè-Văn-Khôi trong 
sach Cours d’histoire annamite ngưòi, song trong đại pho 
Vỏ công bài không phải kêu ten như vậy. 

(^Truyện Ngụy Khỏi cỏ thuật lại trong vỏ công bài , cupn 
thứ *6e, dồi Minh -Mạng thập thất (1836), tại chương Thau 
phục Phart-Yẻn áư&Ị chuyện ông Trưong-Minh-Giảng, là 
người đẹp loạn. Còn về truyện ông Khôi, ta gặp cố hai cách 
thuật lại như sau nẵy : 

Ông- Hà-Băng-Bâng, là ‘thầy giáo chữ nho ở tai Bến-Tre, 
nói ông Khôi không phải là người an-nam, nguyên thuộc về moi 
Đá-Vách. ỏng ấy còn nhỏ tuồi mả dã bị quan tướng’ quân |J 
Văn-Duyệt bẳt đặng, khi ngựòi đi đánh với mọì Đá-Vach, ngưòi 
đem lòng thương, nuôi dương, cho nhập vô họ Lẻ va dăt tên 
ông ấy là Lê-Văn-Khôi. ■ 

Khi loạn lạc nồi lên tại Nam-Kỳ, thi em ỏng Khỏi, tên là Bế- 
Văn-Vân, cũng dấy giặc tại Bẳc-kỳ nữa. Ngưòi em duỊc quan 
trung quản Nguy?n-Văn-Thiềngcho làm dưởngúr,quan ấy lailấy 
họ Nguyên mà đặt cho, bởi dó mỏi kèu là : N gay I q- V án- Van. 



- 207 


dề lầm Nội vài tuần lề thấy xứ Nam-Kỷ phục người. 
Quan tong đốc vó-i quan bố chánh Sài-Gòn dều chịu 
chết mả đền về sự tố cảo ô danh mình. 

Ô " g Khỏl làm sự n ể hỉch Ỷ cùn ể đức vua 
Mmh-Mạng. Người phù hộ con nhà co đạo, nẻn nhiều 
ke nhập vảo phe, lại sai người dến cúng dức thầy 
Taberd, khi ấy ở tại Chantaboun, mả thỉnh người ve 
Sai-Gòn Bọn phái nhơn ấy bị bẳt dạng và giết chết - 
tại Hà-Tiêm Ông Khôi bèn day qua phía Ông Mar- 

giẫng đạo ’ khi ây ãn dật tại Mặc-Bắc 
(tinh Tra-Vmh). Có sai một tốp bon đạo đến đem 
ngưới vế Chợ-Quán, ông Marchand ử đó hơn mấy 
tháng, làm lề, luần phièn viếng các họ ở chung quanh, 
giúp mọi noi tủy theo phận sự mình. 

Nhưng vậy, phía ngụy đảng đẵ chia phe rồi. Là có 
một người trong chư tưởng trở lòng, còn đạo binh 


Theo lò ị ông Jrưọ-ng-Minh-Ký, thản thuộc quan thống đốc 
ỉnro-ng-Minh-Giẵng, lại là ngưòi biết chắc chắn vừa đù một ít 
chuyện v'ỗ thuỏấỵ, thì nói rằng : có lẽ ỏng Khỏi lả người bắc- 
kỵ vajàni phó móng cũa cỉầư dang giạc Ba- Vãnh. Co một lúc 
kia, đâu đãng ấy soán lấy đăng trọn địa phận trấn Son-Tày. 
Vua sai ỏng U-Văn-Duyệt đi dẹp, lần lần dụ đặng ông Khỏi ra 
dầu thú, lại bỏ-i ông nầy dỗ không dược tưóng minh, nên giết 
ngưò-i di, rồi đem quàn linh minh dến lai hàng, òng Duyệt bèn 
cho theo ngưòi, ban cấp nhiều sự và ăn ỏ- dưỏng như VOI 
con ruột ngưòi vậy. 

Dầu cho cách thuật chuyện thử hai nầy xem ra có lý nghe 
dưọ-c ho-n, tưởng phải kề lại cả hai, dặngcho dến sau ngưòi 
chép sử nối theo dề tim sự thật hưn mà viết trong lúc roi tri 
về các chuyện thuật khác 'nhau mà ta hằng gặp hoài. Một bài 
giải kia tưởng khỏng hửu ích lả bao nhiêu, cũng có khi sái nữa, 
song dến sau có lẽ nó ra quí lắm, vi vậy, theo phép, khi ta dặng- 
mấy bãi giãi nào mà chưa ai biết, thì ta dem nó vào, dau cho 
ý ta cọng không tin nó cho thiệt. 



208 — 


nhả vương cỏ ông Trương-Minh-Giẳng thống suất, 
đi thủy bộ vào man lẳm. Ong Khôi dạy đem ông 
Marchand vào thảnh Sài-Gòn, thời chẳng khỏi bao 
lâu nó bị vây. -Người xiêm xuống đánh phá làm cho 
sự lấy thành ra trễ tràn. Sau hết, ngày mồng 8 sep- 
tembre 1835, binh vua mới hãm đặng nó. 

Trong lúc chịu vảy (-1) ông Khôi thất chí mả bỏ 
minh. Phần nhiều trong những người thủ thảnh đều 
bị giết chết. Cỏn òng Marchand với mấy tướng ngụy, 
hêt thảy là sáu vị, đều bị bỏ vô củi, diệu về Huế mà 
chịu hinh khồ về tội loạn thần, lả xử lăng tri (2). 

Bơi đức hoàng dế Minh-Mạng cố thủ ông Lê-Vàn- 
Duyệt khôn nguôi, vi quan ấy thường khi ngăn trở 
các việc độc ác người toan tính, nên- cách ba năm 
sau khỉ binh loạn rồi, thì người làm mợh chuyện rất 
nên dở dang mà báo oản, là người dạyn án cựu 
tướng quàn, rồi truyền pbá lăng cùng đánh rằặt trăm 
trượng trên mồ quan ấy. Trồng trên mả một t có 
vấn xiềng; cột dó có thích càu chữ nầy : Quiên yầm 
phục pháp xứ, nghỉa là nơi tên bộ nắp bị xỉầngS 
theo luật phạt (3). 

Phần việc mấy thầy giảng trong cơn dấy ngụy ấy 
thề nào ? Lời nhơn dàn thi nói các ổng nầỵ theo vụ 

(1) ỏng tồng Trắm nối quyền cho ngưòi mà cai thảnh. 

(2) Hình lăng trì, lả rứt từ miếng thịt, cho đến khi chẳng 
còn chút thịt não nửa ; đoạn, phải là đàn ông, thỉ ngưòi ta cắt 
dưong vật; còn dàn bà, họ lấy một miếng vãi mà che àm hô, 
rồi mồ bụng, rút ruột cho tói khi tắt hoi. Sau lại họ phân riêng 
các phẫn thản thi, cắt mấy lắt léo cùng bẽ gảy xương di. » 
(Luật an-nam). 

(3) ỏng Trưo-ng-Vỉnh-Ký lại dề chuyện biến nầy trước giặc 
ngụy Khôi, và kề nó như một cớ trong các cớ làm cho sanh 
loạn lạc. 



giặc giẵ, còn hội giảng dạo lại chống cải lời nói như 
vậy cách mạnh mẻ lẳm. Theo ỷ riêng ta tưởng, ta 
xin ai nấy ý chỉ sự nầy, là thuở đỏ ỏng Marchand 
đưọx thong thả cho tới khi người nhập thành Sải- 
Gòn ; lại, nhứt là lúc ban sơ, tại người mà thôi, là 
người đừng đến Chợ-Quán, hoặc trốn đi và bắt chước 
trong đều nầy theo các thầy giảng khác rỏ chuyện 
hơn hay lá ỉt gan dạ hơn. Đấng chép truyện ông 
Marchand, là ỏng đạc đức Louvet, thì lại quả quyết 
rằng thầy ca ấy hằng từ chối luôn về sự lấy quyền 
thế phần hồn mà giúp ngụy đảng. Ta khổng muốn 
cải lế về đều nầỵ lảm chi, dầu cho nhơn phẳm ông 
Marchand khoản trước cũng có nghịch lỷ một chút, 
song ta xin ai nấy xem xét lại, là thế sự nước Nam lúc 
ông K hôi giống tợ như thể sự thuở chúa Nguyền- Anh 
vậy. ' 

Ong Khỏi cự dịch củng quỏ-ạ phép trào Huế không 
khác nào như chúa Nguyễn-Anh. Ong trước chiếm 
soán Nam-Kỳ một thề với ông sau, mả nhưng vậy 
chúa Nguyễn-Anh cũng khòng biết giữ xử ấy nữa. 

Ông Khôi tìm nơi thầy giảng làm như một hiệu lịnh 
kia đặng đề cho con nhả có đạo hiệp nhau, lại đến 
sau, có lẽ làm người sử việc và giúp lời với nước 
Langsa mà xin đại quốc ấy cửu giúp. Chúa Nguyễn- 
Anh gặp nơi đức thầy Pi-Nho lả người có quyền t 
thê ló-n. Còn ông Khổi thì không tìm đặng như vậy. 

Ví như lúc ấy mà chánh ngụy đảng lảm nên việc, 
thi ông Marchand sẽ trở nên một « đấng vực nưửc 
hết lòng, đấng sang trọng quá đồi ». Song bỡi ông 
Khỏi thất thủ, thời thầy giảng phải chịu « lữ hình 
vi đạo?. Theo ỷ ta tưởng, ông Marchand ỉà mộ.t. 
người lưởng lự, bởi vi người làm nhiều quá, hoặc 
ít quả; Ịỉay là khi mới khỏi việc, thì phải trốn đi 



210 — 


cùng bỏ hết mọi sự, hay lả người phải nhơn danh 
đạo thánh và phép chung mà liều mạng sốug lăng 
vảo sự dấy loạn. Hai phía, phía nào may rủi cũng 
dồng, lại cũng tỉ ích cho đạo nữa. 

Bang khi đức hoàng đế Minh-Mạng lảm cho loạn 
tặc tại xử Nam-Kỷ phải đồ íhảu chỉnh ghè, thì lởi 
phiên năm tỉnh Bẳc-Kỳ lại chồi dậy. Mấy tỉnh nầy có 
một người con cháu nhà vương ló-p trước lảm đầu, tên 
là Lê-Duy-Lương. Đạo binh hoàng đế thẳng dề lẳm. 
Vị tranh quờn nầy với một ít người cỏ danh tiếng 
bị bẳt bỏ vảo củi, điệu về Huế mà xử tữ. 

Sau có nùng Văn-Vàn (t), lả vi vương thế ấp Bảo- 
Lạc (2) nồi dậy làm loạn, đánh phá mấy tỉnh Thái- 
Nguyên, CaO“Bằng với Lạng-Sơn.ồng ấv cũng. bại 
tích vả chịu đốt sống trong rửng là chồ người ằn 
thân tị nạn. 

Trên Cao-Man, vua Nẻăc-ông-Chăn bị binh xiêm 
đảnh, nên phải trốn đi (1834). Quan thống đốc Nam- 
Kỳ (3) Trương-Mfnh~Giảng đem người về nưỏ-c mả 
lập lại. Nam-Yang có một cái thành -gìn giử nỏ, binh 

(1) Ồng Pétrus Ký gọi vị vương nầy là Nùng- Văn- Vân, ta xem 
ra không trúng cho lắm. Bỏi vi Nùng là tưóc, cũng như kêu 
ông , đức ông> V. V. 

(2) Bảo-Lạc là tiếng tàu, nó chỉ ve tên đất Luỏng-Brabăng. 
Xử nầy, cũng như nưỏ-c Lào vỏ-i nước Cao-Man vậy, là khi thi 
chư. hầu Đại-IN'am, lúc lại chư hầu Xiêm quốc, tùy theo nhà 
nước thạnh suy thề nào. 

Người an-nam kẻu nhon dàn xứ ấy iả Mường-Trắng. 

Xứ Luông-Brabăng là một nơi đề cho các vị vương, các dầu 
mục phe nào bại tích dến đó mà ụ nạn, nó cũng là một dàng 
de thối lui đặng mà trốn lên cho tới nưóc Miền-Điện, bỏ-i dó 
mới ra tôn Sanh-LỘ một hai khi dùng mà kèu xứ ấy. 

(3) Ta dụng cách kêu là quan thống dốc, không phải là điền 
nghĩa một tươc não ra, song cho đặng chĩ rỏ phạn sự mà thỏi. 



— 211 — 

thú an-nam ở tại dó. Nước Cao-Man chia ra làm ba 
mươi ba phủ củng cai trị như Nam-Kỷ. Năm 1836, 
ông Néăc-ỏng-Chăn qua đời. Công chúa thứ hai 
người, tén là nàng Ngọc-Vân, lẻn lảm vua. Bả ấy 
hành chảnh, còn quan an-nam thi cầm quyền. 

Đã chịu các sự đại lao nhưvậy, lại thèm thi cơ cẵn, 
dịch khí nhập vào nửa. Nhiều đều tai biến làm chỏ 
đức hoàng đế Minh-Mạng lo sợ. người cầu đảo và 
cáo rằng tại minh làm cho nhơn dàn chịu khốn khó 
như vậy. Song các cuộc lề nhạc phạt tạ nầy, các việc 
thống hối ngươi thành hành đó, cũng không ngăn trở 
đặng trong sự người làm khồ sở cho con nhà cỏ đạo. 

Từ khi cỏ ngụy Khôi, lỏng đức vua Minh-Mạng ghét 
chung người phương Tày, và nhứt là các thầy giang, 
thì cảng thêm hơn nữa. Từ năm 1833 cho 1838, có 
bảy ôngđạcđửc bị giết chết, nhiều người có đạo chịu 
trảm quyết, cầm ngục họặc phải ản đày. Lại kẻ nào 
hay suy tưởng mà không vực đàng nào, thời có phep 
trộm nghỉ rằng, khỏng khá hơn cho đạo, cho nhơn 
loài mà các ông dạc đức dinh việc giảng dạy cho qua 
thi tôt hơn sao, hơn lả làm cho chịu giết chết biết 
mây nhiêu ngàn người vô tội như vậy. 

Lế chơn thật có đũ ngày giờ, lòng khâm mộ đến 
theo lúc, lại ví như các nhơn hội làm cho máu dồ ra 


Ông Trưo-ng-Minh-Giảng dưọc phong làm thống quãn binh sĩ, 
lảnh nhậm hai tỉnh An-Giang (Chàu-Đốc) vói Ha-Tiẻn, tước 
ngưòi là tướng quàn An-Hà Công dốc. Chĩnh thật, ngưòi cat 
trị cả Nam-Kỳ, cảc quan tồng đốc trong xứ d’êu dưỏi quyền 
ngưò-i. Bến sau, câc quan kinh lưọ-c (của vua Tự-Bức iảp ra) 
Cũng dăng quyền hành như vậy. Quan kinh lược hay sáu tỉnh 
(xứ Nam-Kỳ) thì ử tại Sài-Gòn cùng trị tỉnh Gia-ĐỊnh, lả địa 
phận không cỏ quan lồng dốc, tuần phủ nào hết. (Xin coi chuyện 
nầy trong sách Ịnstitutỉons annamites , cuốn thứ 1 , trương 
259 «— 260, và 289 — 290). 



— m — 

• 

cuộn cuộn trọn mấy đời đặng mà vực những đều tin ' 
xưa mình, thi chẳc là các nhơn hội ấy không sẫn 
lòng mà lảnh các lế tin mới. 

ồng đạc dtrc Launay nói trong sách Histoire de 
ƯAnnam của người làm mà rằng : « Xem ra đức vua 
cỏ thề lòng hủy tuyệt dạo Tbiẻn-Chúa trong nước, 
song người không làm nẻn việc toan tính dó, chẩng 
hơn chư tiên vương,, không trỗi các hoảng dế đời 
cựu quốc Home; xong rồi Hội-Thánh nước Đại-Nam 
phải máu rơi thịt nát, song thẳng đặng trận cả thề ấy, 
gớm ghiết hơn hết, thuở nay chưa hề đấu bao giờ. » 
Lời thầy giãng Launay vỉ đó xem ra không trúng 
là bao nhiêu. TạiRome, công cuộc đã sẵn sàng: lương, 
tàm nhơn hội hư rồi, càng ngày càng thèm vữa rả 
hơn nữa. Bạo Thièn-Chúa đến đó phải giờ, lại nhò’ 
cỏ lòng sồt sắng mấy kẻ tử dạo giúp. Còn tại xử Việt- 
Nam, nỏ lại đến trải thi nghịch lúc. 

Không phải ta tưởng đều chi bất thuận cùng đạo 
Thiẻn-Chúa; đã vậy, ta lại chẳc rẳng, người an-nam 
vả các dàn thuộc loại da vàng cần mà đến cho tới 
đạo ấy, vì là bậc thượng trong sự mở mang việc thờ 
phượng và phong hoá vạn dồn. Khòng phải ta muốn 
cho hội thầy giảng mạnh dạn ấy bớt liều mình, giãm 
chi khí, bơi gần cả thảy đều chịu chết vì phận 
sự mình, lại dầu vậy, nỏ cũng làm cho lòng ta chua 
xótđỉ hơi mà than rằng : <L Biết bao nhiêu huyết đồ, 
biết bao nhiêu máu rơi! » (1). 

(i) Việc giang đạo tại Tnmg-Kỳ làm cho mưòi lám thầy cả 
tàỵ phải chịu chết. Số ngưò'i an-nam lử dạo mà đã biết đặng 
thi chừng hai trăm. Số mấy kẻ bị hình hliồ mà bỏ minh tại 
xóm làng cùng làbị lưu, thờbkhông xiết ke. ông đạc đức Lọuvet 
nói rằng, từ năm 1858, cho tỏi 1862 mả thôi, « số người giữ 
đạo Thién-Chủa chịu thiêu dốt, trấn nưó c, chém giết, hay là chết. 



Lúc dức vua Minh-Mạng gần lìa thế, người lại lấy 
làm cần sự mà sai sứqua nướcLangsa. Biết phải người 
sợ nhà nước Langsa xen vào bỉnh vực sau khi giết 
mấy ỏng dạc đirc, hay là người muốn cho biết sức 
binh sỉ xứ chúng ta xuất ra đặng bao nhièu chăng? 
Ta tưởng -một ngày kia sự tích đề tại Huế sẽ minh 
giải chuyện nầy. Dầu ìẻ nào, dức vua Louis-Philippe 
cũng, bẩt khấng tiếp rước các quan khâm sai an-nam 
■ rỏ ràng'. Khị trỏ’ về nước An-Nam, thì sử mới hay đức 
hoàng đế Minh-Mạng đã từ trần. Vua mình bị tẻ ngựa 
mà chết (ngảy c 2i janvier 1841). Người đặng năm 
mưo'i tuồi, trị nưó'c hai mươi mốt năm. 

THIỆU-TRỊ (184-1-1847). — ồng hoàng tử nối 
quờnchocìức vuaMinh-Mạng là Nguỵễn-Phước-Thi, 
trong sử gọilà vua Thiệu-Trị, ngưòi có đủ các nết xấu 
cha, mả không dáng một tư chất tốt nào hết. Khi 
mủn quốc tang rồi, thi ông Thiệu-Trị xin cùng đặng 
sẳc Trung-Ọuốc phong cho làm vua. 

Trong các việc làm trước hết nơi dời người trị, 
thấv có triệt binh an-nam thú tại nước Cao-Man về. 
Quan thống đốc người, là ỏng Trương-Minh-Giãng, ve 
tóũChâu-Đốc bỏ mình tại dỏ (tháng octobre 1841). Vậy 
mới khởi sự đánh với quân xiêm đến xâm lấn nước 
Cao-Man, bởi nỏ lấy có- rằng đến giúp ông Nẻảc-Ong- 
Duòng ỉà ngự đệ cựu vương. Bà hoàng hậu Ngọc-Vân 
với mấy chị em người chạy qua Chàu-Đốc mà tị nạn, 
còn quân xiêm với binh an-nam dấu cường với nhau tại 
đất cao-man. Tranh chiến như vậy trót đời. vua Thiệu- 

đói cùng bị hoạn nạn trong chốn lao tù, tính ra đưọ-c chừng 
10. 000 ». Lại sự nầy thuộc về xứ Bàng-Trong mà -thòi- ;■ còn 
- vụ bắt đạo -tại,Bẳc-Kỳ càng chĩnh ghẻ hon nữa. 



- 214 — 


Trị, cho tửi nảm 1847 mỏ*ỉ*đửt mả lập tò* giao hòa. 
Ong Néăc-Ông-Đuông đưực tôn vưcrng, còn xiêm quân 
lại đặng xứ Battambang, Angkor cùng Lào-Hạ. 

Như đề-ọuộc giặc Bầy ra ngoài, thi mấy chuyện đại 
biến khác trong đời đó đều chỉ về ngưòi tây mà thôi. 

Năm 1843, ông chúa tàu Levêque, cai chiếc corvette 
laugsa Héroỉne , đến tại Cừa-Hàn mà đòi năm thầy 
giãngbị cầm tại Huế. Khi làm nhiều đều gay trở vả tri 
huỡn thật theo thói Đổng phương, thì mới giao mấy 
ông đạc đức lại cho chúa tàu gan đỡm ấy, vì có một sự 
ngẫm đe mà thòi làm cho triều đinh bả quan phục ỷ. 

Năm 1845, có một chiếc írégate américain, hiệu là 
Constitution, di tuần tiếu tại Trung-Quốc hảij mẳng 
tin đức thầy LefèbvreJ)ị cầm tại Huế, nên đến mà xin 
tha người, ồng quan năm thủy amẻricain -đặng rước 
tư tễ mả không xin đưọ*c, ìại củng không nghe dặn 
bảo phải làm sao, nên trở về. Song, cách ít làu, quan 
thủy sư Cẻcile sai chiếc Aỉcmène , cỏ ông Fornier- 
Duplan quản đốc, qua Cửa-Hàn mà đòi quyết, vua 
Thiệu-Trị phải chiu lòng. 

Năm 1847, hai chiến thuyền langsa, tèn Gloỉre 
(òng Lapierre cai quản) với Viciorieuse (ông Rigault 
đe Genouilly đốc xuất), tỏ*i gieo neo tại vũng Cửa- 
Hản. Hai quan ấy đến, thay vi nhà nước mình mà -nài 
xin sự an cư cho những người langsa, củng cho con 
dàn giữ đạo Thiẻn-Chúa tại nước Bại-Nam đặng 
thong thả trong việc thờ phượng. Vua Thiệu-Trị nghe 
đều qui gián như vậỵ thi noi xung, mứi quyết lòng 
lảm một việc cả thề mà đứt tuyệt chuyện ấy đi. Sự 
ngưò-i định lảm, là mời các quan tàu dến dự yến mà 
giết hết, đoạn đốt củng làm cho chìm tàu. Nhờ cỏ 
một người an-nam kia có dạo mách tin, nên ông 



— -215 — 

Lapierre, thống quấn hai chiếc tàu ấy, mới phòng . 
thủ vá xin dự kiếu. Các quan thấy phần thứ nhứt bài 
bẵng minh bất thành, thì sang qua khoản thử hai. 
Làm như vậy rối quá, đảnh nhau vừa đặng hai giò* 
đồng hồ (nhằm 15 avrìt), thì đạo thủy an-nam (kề 
cĩưực năm chiếc tàu đóng theo dáng tảỵ và trót trăm 
hải thuyên) còn lại tính cây ván hư rả, troi lẻnhđênh 
theo sóng gió mà thôi. 

V ua Thiệu-Trị thấy thất trận thẹn thuồng như vậy, 
cẫ giận, ra chỉ dạy xử tử tẳt cảc người tây ở tại 
nước An-Nam. Trong một cơn bảo thủ theo tiểu nhi 
kia, thấy ngưòi đi phá hủy cho tởi đồ tày trong đền. 
Vua Thiệu-Trị băng nhẳm mồng 4 novembre 1847. 

' (1348,. t. 9— 1888). — ồng hoàng Nhậm 

lèn nối ngôi cho dức vua Thiệu-Trị, cải nguyên lả 
• Tự-Bức, người là con thứ hai vua ma thôi. Trưởng 
nam, là òng Hoàng-Bào, bất bình, mới ướm dấy loạn 
thử. Bị bẳt cùng cầm ngực, người ta nói rầng đến sau 
ông ấy tự ái. Thói tục cho vua chúa có phép chọn lựa 
đấng nối trị trong hàng hoàng tử người thề ấy — bơi 
vậy bỏ ra không cho đăng quang vị nào bất tài hoặc 
chẳng xứng đáng — lại xem ra nó có ý vị củng phải 
phép lẳm, thì làm cho sanh nhiều cơn loạn lạc gớm 
ghê hết sức và tỏ ra trong sử thua sút xa cảch chọn 
hoàng thái tử theo thử. 

Vua. Tự-Bức xỉn nước Tàu (t) phong vương cho 
mình, cung như vua trưởc vậy. Người tái lập cảc 

(1) Nho-n dịp tôn Vircrng nầy, chúng ta hảy nhó- lại rằng, các 
quan sử tảu đệ săc hiệu an-nam quốc vưcrng qua cho l&i kiiih 
đồ Huế, chỏ- các đò*i vua tnró-c, thl mấy quan ầy den tại Hà-Nôi 
mà thôi, là noi vua ngự ra tại đó mà nghinh tiếp. 



quan cựu tồng trấn đời đức hoàng đế Gia-Long, song 
có sữa phầm trật lại một ít. Bấc-Kỷ, Naĩữ-Kỳ đeu 
có một quan kinh lược, dường như chánh sứ vậy, là 
chức ở giữa các quan tồng đốc vợi triều đình Huế. 
Quan kinh lược Nam-Rỷ pr tại Sải-Gỏn ; người cùng' 
quan phó sử, cả hai làm nhiều việc đại sự khị binh SI 
langsa đến chiếm xử nầy, nên dáng cho ta làm một 
bài riêng mà nhẳc lại. 

Hiệu Tự-Bửc, năm thứ tư, tháng hai (mars 1841), 
ông Nguỵễn-T ri-Phương đặng' phong làm chánh sử 
(kinh lược), gồm hay sáu tỉnh ; còn quan phó sứ, là òng 
Phan-Thanh-Giãng. cả hai nguyên sinh tại Narn-Kỷ. 
Hai người đều tài năng xuất chúng, trồi xa hom các 
kẻ đồng thi. 

Gốc ong Nguỵền-T ri-Phơơng là ngưò-i ỏ* tỉnh Gia- 
Bịnh, xuất .thân vi lính, sau lèn lảm thơ lại, Nhờ trí 
hoa tư nhịèn và sự thông minh bởi chuyên học hành 
•mà đặngỉ làm cho người tấn tước ỉần lần. Ong ấy 
không lằnh tước văn nào hết, và tỏ ra mình là một vị 
trong mẩy người ngoại trừ, rất nên danhvọng vô cùng 
cho những kẻ nào biết cử dụng, cho những- kẻ nào 
kính trọng sự thông thạo, dỗu cho, lại nhứt ìả khi 
người không cỏ bằng cấp. 

Ong Phan-Thanh-Giảng sanh tại làng Bảo-Thạnh 
(tỉnh Bến-TreX 1 ) là con người thòng lại bị ản đồ. Ong 
nầy còn thơ ấu mà xin theo cha, thi nhà nước cho. 
Chẳng khỏi bao làu các quan thấy tâm tánh, trí huệ 
nam nhi nầỵ, thì ép học hành. Tèn học tro trở nên y 
nhưlòng trong ước các quan ; người thì do các khoa 

(1) Muốn cho đặng đề kiếm trong bản đồ, thi từ riây sấp lẽn 
ta xin đẹ tẻn tỉnh kiêm thời sau mẩy tên chồ nào ít' biết mà 
ỏ- tại tinh ấy. 



lại đến sau, nhờ sự thòng biết và tánh ỷ cao dày, nên 
được phàm trật thír nhirl trong nước. 

Lúc vừa có giặc, hai quan đại thần nầy, là người đức 
hoảng đè' tin cậy - lầm, đều triệu về Huế hoặc 
lưực, hòặc kế nhau, mà binh vực kinh thành. Bỡi dó 
qua lối cuối riătn 18150, quan kinh lượ-c Nam-Kỳ mởi 
trử lại Ổài-Gòn, còn quan, phó kinh lược trong năm 
1862 mậ thòi (i). Khi hai ông ấy về tới Huế, thi 
công việc Nam-Kỳ đều giao lại cho òng tôn thất Hiệp. 

Lòng cường đám bất gián òng Nguyèn-Trị-Phương, 
tánh đhí khí ồng Phan-Thann-Giáng, sự thỏng đạt 
chung cả hai, lảm cho mấy ông nầy, sau dức hoàug đế 
Gia-Long, nèn hai đấng oai nghi bưn hết -trong sử 
fiại-Nam kiêm thời. Sánh vửi mấy ông đó, thời xem 
vua T.ự-uức ra nhỏ, lại người ta càng ít sẳn lòng mà 
xá lồi vị vương ấy làm. Vua Tự-Ưức hành hải nhứt 
là con dàn có đạo, lại vỉ như trong đời vua cha mà 
sự bắt bớ có dung thứ một ít, thi qua lúc người trị 
nó trở lại như thuở đức hoàng đế Minh-Mạng vậy. 
Sau hết, những việc độc dữ nay đồn thấu về tóà bèn 
phương Tày. Lác nước có đạo mới giận phải lẽ lắm, 


7> 



(1) Băng chứng về sự hai quan này cỏ ỏ- tại Nam-Kv trưỏ-c 
hai năm đó, chúng la hãy xem. to Chỉ dụ đức vua Tự-Bức nàm 
ihứ bảy (1854) nói về dồn điền, trong đó có hài lèn quan, kiiứĩ 
lược Ngu.ỵên-Tri-Phương (xin coi sách íiistitutions anna- 
mites, cuôn thứ ỈI1, trưo-ng 70 và mấy trương kế). 2° Bồn sao 
tò- só" của ỏng Phan-Tlianh-Gìãng, nám thứ 13 đời vua Tự- Bức 
(1860), gởi xin 14 nTâu đất (là 8 hect. 78 a. 16 cta.) dề cho láng 
ỏng Lè-Văn*Duyẻt tại Gia-Bịnh. Chắc có lẽ nghiệm rằng ông Phan- 
Thanb-Giãng viết số- nầy tại Huế, sau khi ra khỏi Nam-Kỳ. Bồn 
sao tà thấy nhằm ngây mồng 4 septembre 1865 tại trưỏ-ng bố. 
tỉnh Gta-íHnb, thi có dóng ấn òngVÊoresse (là quan ba thủy dến 
Mam-Kỹ, *^hịếc Prmạịtgttet có. ộng d'Ariès quàn dốc) làm 

'ỹổặ ' Í P ỐC sv vỹ). . - 



• — 218 — . 

- * « 

lại lúc đỏ đức hoàng đế Napolẻon III đấ kiếm cách 
mà mở mang quyền thế nước Langsa tại cảnh Dông, .ỉ v.|; 
nên người mói nhứt định nói quyết. 

Ong De Montigny, thọ sắc phong khâm mạng toàn 
quyền, đi qua cho đặng xin triều đinh Huế nỏ-i tay 
cho các thầy giăng và người bồn thồ giữ đạo Thiẻn- 
Chúa, sau cũng ưởm bàn lính thữ về tờ giao ước 
lộp tại thành Versailỉes. Chiếc Catinat di trước, có 
ông Lelieur de Yiỉle-sur-Arce quản đốc, dam lề vật ' 
qua dàng cho đức hoàng đế Tự-Bức, mà nhứt lả một . 
bửc thơ; trong đỏ có các điều nhà nướclaDgsa xin. 

Chiến thuyền nấy đến tại Cữa-Hàn nhằm ngày 16 
septembre 1856. 

Bơi đức vua an-nam tưởng sái lại bị Đại-Thanh 
sử quấy hơn nữa, nèn người mới ra lịnh nghiêm 
cấm khỏng cho tiếp rưó-c quan langsa lại, theo lẻ chung, 
chẳng cho thù tạc với quàn Tày Di. Quan cai tảu - • 
Catinat phải các quan an-n<fai chọc giận cho đến đồi 
chịu không nồi, lại hăm dùng mấy hàng súng đại bác 
mình mà hại nữa ; nẻn òng Lelieur bẳn phả các đồn •; 
Cữa-Hàn, đoạn độ một đội quàn người lên bờ, dụng 
lưởi lẻ mà a đến đánh binh thủ, rồi đỏng bít lồ ngòi 
sáu mươi vị súng cùng nhận nước hủy một phần thuốc 
súng nhiều lắm. Như vậy người mới làm cho các thơ 
minh đem về Huể được. 

Mà rủi nhằm lúc dòng gió nhiều và có c4c chuyện 
biến dấy ra tại Trung-Quốc, làm cho chiếc Catinat 
không chờ đặng- quan sứ, bỡi chính vì người cũng 
bị bảo mà chậm trề. Tàu ấy qua Hương-Cảng. Gách 
mộl tháng tới phiên chiếc corvette Capricỉeuse mới . 
sang đến Cữa-Hàn. Khcri chuyện tính toán lại, .song 
mâc quan khâm mạng khiếm diện, nên không bản ' 
luản được. Tảu corvette nầỵ cũhg đi qua Hương- 



cảng nữa. Nhưng vậy, quan cai tảu, lả ỏng Collin, 
đặng quan an-nara tiếp rước « cách lịch sự ữ và 
cũng có mời người với các quan tàu đến dự tiệc tại 
dinh quan nhàm Cữa-Hàn. Nhờ người ta mách bảo 
kịp, nên. các quan langsa không đúng tới món nào 
hết : bởi nó có tra độe dược. Ta không kễ thèm 
lại mấy chuyện như vậy làm chi, vì nó bởi .tàm 
tánh riêng kia và đời đã qua rồi mà ra. 

Sau lại, cách ba tháng, ông De Montigny mới sang' 
tới (23, janvier 1857), đức vua Tự-Đức khi ấy đã 
hồi tàm, nên càng không muốn nghe chi hết. Đang 
khi chúng ta mất ngày giò’ về chuyện bàn bạc vò 
ích như vậy, thì đức vua truyền trí nhiều dảy súng 
đại bác đài theo sông Huế, hàn nhiêu chặng và tụ 
hội binh giỏi hơn hết tại Cữa-Hàn. Vua Tự-Bức 
sẳm sửa chống trả tận lực, bởi vậy chiếc tàu nhỏ 
dem quan sứ ỉangsa qua phải chở người trở về (13 
íévrier 1857), không tfhh đặng đều gì hết. 

Các chuyện dem tấu trận nhạn như vậy mà không 
nhẳm lý, chẳng theo ỷ muốn cho tới cùng, thi làm 
cho người an-nam chác rằng chúng ta yếu sức. Tánh 
kiêu hẵnh, ý khinh khi bá quan với Tày Di, thòã là 
vò ngằn vò dộ. Khi ông De Moatignỵ về rồi, lịnh trên 
dạy dán yết thị mả báo râng : (í Quàn langsa sủa 


như chó, chạy trốn như dê ». Cuộc bắt đạo đã ngưng 
được một lúc, nay khởi sự lại củng tỏ ra nhiều 
đều hung ảc hơn trưửc bội phần. Dầu vậy, giờ 
công binh hòng đến ; mảu biết bao nhiêu kẻ tữ oan 
đã kèu van động thấu thiên cung mà xin báo oán, nay 

rĩino* cr5 n lănơ 




Bại-Nam, thì người tưỏ-ng phẫi về Bại-Phảp, ỵ thèo 
lời bàn ông pe Montigny, mà tố trần thế sự nguy 
hiềm con đàn giữ đạo Thiên-Chúa cho đức hoàng 
dế tường tất, củng xin người cứu giúp phấn chấn, 
hầu - sau có thế mả xin cho các thầy giảng và những 
ngưừi mới vào đạo đặng thong thả trong việc phượng 
thờ. » (P. Louvet). 


Muốn cbo chuyện sau đày dê hiểu hơn, ta xin 
chép bản tèn sáu tỉnh Nam-Kỷ củng tánh danh các 
chủ tỉnh hiện tại trong lác người langsa mới qua. 


Tỉnh chảnh 
có quan tồng đốc trị 

GIA-ĐỊNH 

Phạm-Thế-Hiền 

VỈNH-LONG 
Trương- Văn-Huyen 

AN-GIANG 

Phan-Khẳc-Thận 


Tỉnh tùng, 
có quan tuần phủ trị 

BIÊN-HOÀ 

Nguyễn-Đức-Hoan 

BỊNH-TUỬNỔ 

Nguyễn-Đuĩh-Tân 

HÀ-TÍÊN 
Nguyễn- Bỉnh 


Vậy các tỉnh nhập lại với nhau cử hai tỉnh hai tỉnh 
thời lảm ra mấy tỉnh lớn Định-Biên (Gia-Bịnh với 
Bièn-Hoâ), Vĩnh-Tưừng (Vĩnh-Long với Bịàh-Tưửng) 
và An-Hà (An-Giang vói Hà-Tièn), mỗi tĩnh lỏm 
ấy cỏ quan tồng đốc làm dầu. 

Khi trải xem truyện nầy, chúng ta hảy nhớ lại 
quan tồng đốc Phạm-Thế-Hiều mới lảnh quyền trấn 
nhậm mà thòi, thế cho ông Vỏ-Duy-Ninh qua đời 
một ít làu trước khi ngưộ-i langsa đến. • 



KHOAN THƯ IV 


lSTOXJ’Ò , X LAISTGSA. 

CHIEM cxí’ 

Chuyện nước Tàu. — Soán lấy Coa-Hàn. — 
Sai hĩnh đánh Nam-Kỳ năm 1859—1860. — Sai 
binh đánh Nam-Kỳ năm 1861. (Hảm lấy đồn 
Chi-Hoà ■ — Điỉôi theo đại binh an-nam — Qui thuận xứ 
chiếm đặng.— Lấy thành Mỷ-Tho).— Thì sự trong xử 
sau khi lạy được Mỳ-Tho. 

CHUYỆN NƯỚC TÀU . 

Cuộc sai binh làm cho chúng ta dến tại Trung'Kỷ 
và Nam-Kỳ củng cách ăn ở (lức hoàng dế Tự~i3ức 
trêu thách chủng ta hành quân, thì nó ăn thuộc với 
các chuyện biến ra trong lúc ấy. tại Trung-Quốc cách 
chi thiết — vi nguyên cớ cung lả tại thất ước và khinh 
khi những người thuộc dòng dỏi da trắng mà ra — 
nên phải cho ta nói dón một dòi lời về truyện ấy. 

Năm 1840, người anglais phải đấy binh đánh Trung- 
Quốc — Giặc N ha- p hiển (1)- dày dưa cho tới nam 

(1) Lúc ấy bén Tàu có cấm á-phiện, đó là cách thế có nhản, làm 
phước, phải phép, thom danh tốt tiếng cho nhà nước táu. Mả bỏ i 
tật xặu dã thảm căn cố dế cho dến dồi sanh bán thuốc lảu cả thề 
lắm. Khi dó cỏ một cửa Quảng-Chảu mỏ ra cho ngưòi anglais 
dến buòn bán mã thôi. Thượng dụ ngày 18 mars 1839 truyền 
%£&!••*•’ tịch kt hết thảy nha-phiến tại các chiếc tàu đàu noi hải khau ấy 
lH^ V Ịdurợc 80*263 thùng, giá là hai triệu mĩn ỉivre sterling, hay là 
||pl> ' - 25.060.0®) ^og bậc) và lỀn inứt cho nhữjỉg kẻ ựào ừhảp lài nỏ. 

fp- ■ 

-yVư; ■ ự. • ■ # 



1842. Trọn lủc giậc nầy, đức hoàng đế Dạo-Quang ra 
' chỉ -không dứt mà truyền sảt tuyệt <r quân hong mao 
di tặc », nói rằng lủ ây bị bắt đặng tại Ninh-Ba như 
trong lưới kia vậy và không lánh khỏi oai thạnh nộ 
lộnh Thiên-Từ. Chúng ta dã thấy, lại đến sau chúng 
ta còn Ihấy đúc hoàng dế Ôại-Nam cũng dùng chư 
nghĩa công văn tương tự như vậy nữa. Thay mav 
M tr ậ thô kệch thề ấy mà nó không phỉnh đặng 
ai hêt, thi người ta hỏi được minh rằng, một là vua 
với bá quan đặt bảy các chuyện đó ra, hai là dân. sự 
chấp tin nỏ, mà ại ngu si hơn hết. 

Nhưng vậy, như không ngở các việc ấy lả thật, thỉ 
ít nữa phải tin cớ tích chắc chắn của sir Henry Pot- 
linger cai đạo thủy (dăng 35 chiến thuyền và 75 
chiếc hải vận) bẳn phá vả hảm lấy Tschapu (mai 
•1842) Thượng-Hải (19 Juin 1842), sau thẳng trận 
Lảnh-Giang nơi sông Dương-Tử hao binh gia nhieu 
lắm. Binh anglais gần lên bắn phá thành Nam-Kinh; kế 
đặng tờ giao hòa (89 aoùt), theo tờ ấy Trung-Quôc 
buộc minh thường bồi, trong ba năm, là 21 triệu 
nguyên bạc và khai các cữa Quảng-Chảu, Hạ-Mỏn, 

Mấy người anglais buòn bản thấy minh ở tại Quắng-Châu phủ 
kỉiông còn an tâm đặng nữa, bỏ trốn qua Áo-Mỏn. Chuyện thmh 
lình mà sinh thù nghịch. Là cỏ một ngưừi thanh kia bị một ít thủy 
J ủ anglais giết chết mà không ni bắt buộc, sau rồi ngư 01 
tl j a , nh , 1 ĩ ỏi đê " đánh các tàu an giai s (2 novembre 4840), song 
phải thối về. Bức hoàng dế ra chiếu chỉ mói (5 janvier 1840) 
má rao rằng, ngưỏ-i anglaỉs không còn xin đặng luật nưó-c ủng 
hộ minh nữa, cấm chẳng cho buôn bán vói dân ấy, lai đe báo 
thù dửtọ-n nưức nào mà chỏ- thủ- hàng hoá angĩảis vàò xứ. 
Các điêu như vậỵ, dẫu cách nào, cũng nghịch vói lẻ chung 
trọng thiên hạ, lại nỏ là việc làm kẻ man dí kiêu hảnh, V the 
mà thòi. Bó là một dêu ô danh cho nưỏ-c Tâu, vi phai chiu 
gĩạc gia va khâm phục luật ngiròí chiến thẳng 



Pbưỏ-c-Chảu, Ninh-Ba củng Thưọmg-Hải cho người 
anglais tới buòn bán ; còn củ-ỉao Hương-Cảng thì bỏ 
cho dàn ấy lãm chủ trọn. Năm cửa biền đó cũng đè 
cho các nước khác đến thương mải nữa ; vã chăng, 
Đại-Thanh cỏ kí tên vảo tờ thương ước với nước 
Hiệp-Chúng, nhằm mồng 3 juillet 1844, vả vói nước 
Langsa, ngay 23 octobre 1844, mà cho lưởng quốc 
nầy đặng chuyện ích lọâ cũng như nước Angleterre 
vậy. Tử giao ước lập trong ngày 23 octobre dó có 
một điều chịu cho chầc chẳn các ngườỉ thanh đặng 
thong thả trong sự thờ phượng dạo Thièn-Chúa. 

Dầu vậy, bởi tàm tánh nho-n dàn không thuận 
với người Tày phương, nền nhà nước đại-thanh 
.tưởng chẳng cho phép đặng nhơn dân ngoại quôc 
•đến lập nghiệp tại cữa Quảng-Chàu. Bã nhiêu phen 
nước Grande-Bretagnc có trách cứ nặng lời vỗ 
chuyện ấy mà không dược. Thế sự như vậy xem ra 
bất tân; vừa đàu qua nảm 1850, cỏ một chiếc tàu 
kia nêu cờ anglais bị người thanh bẳt, làm cho sanh 
kinh địch lại nữa. Người anglais buộc bồi thường, 
mà bởi. không chịu, nẻn đánh soán các dồn tại sòng 
Quảng-Bòng và thành ấy nữa, bẳn phá dinh quan 
tồng đốc Yeh, đốt tièu một phần thành và, qua 
mồng 6 novembre 1856, hủy tan dạo chiến thuyên 
hoàng đế đi. 

Nhưng vậy, binh anglais khôhg dòng dủ mà làm 
cho minh thằng trộn toàn còng. Trung-Quốc — cũng 
một cách với bại-Nam — lấy thì sự tạm ấy làm như 
dấụ yếu sức. Đức hoàng clế xuống nhiều chiếu chỉ 
giục dàn khử trừ các ngưòà ngoại quốc, các lịnh ấy 
truyền ra nhằm dịp nhơn dản ìau có nhiều đều p.hiẹn 
trách người tây (nhứt là chuyện buôn bán ác dức 
ngứòị cooỉie lả kẻ .làm mướn). 



. — m — 

Sự chém giết người tày củng con dàn có dạo khồn 
dứt, làm cho hai nước Angleterre vói Langsa hiệp lực 
nhau mả dánh. Hai nước sai mấy (lạo chiến thuyền 
qnaHương-Cậog có quan thuy sơ Stíỵmour vỏâ Rigãult 
dí! Genouilìy quân suất, lại cũng một khi gởi 8 000 
bỉnh bộ nữa. Có tính toán thữ Irườc với quan tồng 
đốc Yeh, mà quan ấy không chịu tự thuận. Nên còn 
một lẽ khai chiến mà thôi. Quảng-Cháu phủ bị bắn 
phá (28 décembre 1857) một cách dử tọ-n, cho đển 
dồi 40.000 binh tàu ở trong đỏ mà giữ nó đều vở 
chạy hết, qua bửa sau phảrnộp thảnh lại ông Yeh bị 
bảt, đem qua kinh thành Calcutta, sau người sinh 
thi tại đó. 

Trong lúc ấy, hai quan sứ hai nước giao làn, là 
Ịord Eígin với quan tước nam Gros, co hai quan 
khâm mạng toàn quyền nước Russie với Hiệp-Chủng 
CUÔ ? hiệ p ìại nừa ’ đ * u có ểỏ*i thơ tại Thưựng~Hải 
mà lên O^c-Kinh. Song không thấy trả lời, nên tháng 
avnl 1858, cảc quan sứ mới đi với dạo chiến thuvền 

đ í n l Ông *ỉ ạch '? à ' và ’ c ỉ ua 20 mai, soán lầy cac 
đồn Hại-Cô. Bởi chẳng được diều chi hết, mấy ông 

ấ L dÌ J! ở Ì thủ y lèn cho iời Thièn-Tàn ; 'khi đo 
tneu đinh Bẳc-Kinb mới chịu phép cùng lập bốn tờ 
ước, nhẳm ngày 26 với 27 jũin, ban sơ với hai quan 
khâm mạng vồ dự vảo cuộc giặc, sau vời hai sứ 
lưởng quốc giao lân, theo tờ ước, thời kễ từ đó về 
sau cho phép các quan khảm mạng đến ở tại Bẳc- 
Kinh, cho giao đạo Thiên-Chúa thong thả chắc chẳn, 
nưởc Grande-Bretagne lảnh 80 triệu quan ìien làv! 
cỏn nưửc Langsa 15 triệu về phần tồn phỉ giặc Sa.’ 
Đoản tàu trận hai nước rút về. 

Cung như thường lề vậy, là nhà nước tàu cỏ ỷ 
xâu, tim các cớ mà trì huởn sự phê y tờ giao, cũng 



— 225 — 


một khi, dạy sữa các dồn bảo theo dọc sòng Bạch- 
Hả ỉại cho vững chẳc. Khi các quan sử trỏ* qua hộ 
giao tờ ước, thời phải sủng dại bác bẳn mình. 

Khi dỏ quan thủy sư anglais Hope có một đoản 
tàu nhẹ ỏ* tại Đại-Cô mà thòi, dầu vậy, người cũng 
quyết lòng hủy mấy đồn ấy đi, vả phá bốn khúc hàn 
trong lạch màvô (24 juin1859). Ngưò-ilướt qua đặng 
khỏi mấy đồ cuộc ngăn trỏ- nầy, song không làm cho 
các đồn thôi bắn đưọ-c ; chiều ngày đó, quan chương 
thủy cỏ độ thữ binh lèn, mà nhẳm chồ đất lầy, chẳng 
đặng bao lâu người hao hết phân nữa binh sỉ. Ngưừi 
phải thối về, mất 464 người. Trong số binh hâm đồn, 
cổ 75 lính thủy langsa mượn tại hai chiếc tàu của 
chúng ta đậu trong vùng mà khòng dự vảo trận, là 
chiếc Diichayla vởi Norzagaray. Tốp binh nhỏ ấỵ 
bị giết hết chừng một phần năm. 

Khi bại tích rồi, thì phải cứu danh tiếng binh khi 
lưỡng quốc giao hữu lại. Nén có nhứt định và sảm 
sữa mà sai cíại binh. Nước Angleterre xuất 12.600 
người, trong số ấy có 4.800 linh Ihièn-trúc, CÒ11 nước 
Langsa sai 7.500. Các binh nầy có hai quan tướng 
sir Iỉope Grant với Cousin-Montauban thống quũn. 
Lối tháng juillet 1860, quận sỉ tày di tại Bại-Cò mà 
lên sông Bạch-Hả, cỏ tàu trận hộ tống và diệu lương 
theo, đánh lấy các đồn hai bèn bò' sòng, chiếm soán 
Thiên-Tàn. Người thanh tinh ngăn trở thữ dặng binh 
tày đừng tấn tó i, là cho kẽ tới cầu hòa mà đến sau 
triều đinh Bảc-Kinh chối từ không chịu. Ngày mồng 9 
septembre, qưàn sỉ tóù Thông-Chầu, .cách Bắc-Kinh 
chừng ba mươi ngàn thước tày. ỡ.đỏ, binh lưỡng 
quốc đời quyết đặng cho cảc quan sứ nhập kinh thành 
vợỉ 1000 lính hộ vệ. 



cỏ sai quan binh anglais vói langsa đitiẻn phuỏng 
mả phân tính với quan tàu về sự nghinh tiếp các sử 
cùng chồ cho binh gia ở tại Bẳc-Kinh. Mấy ông ấy 
bị quân mãng-châu chận đảnh thình lình cách dỏ* 
dang lẳm (18 septembre), nên cỏ người tử . tại trận, 
cỏ người bị đem cầm tù và phải người ta khảo kẹp 
hành hình quả sức mà chết. Trong lúc ấy, trại binh 
hai.nướcđóng tại Thông-Châu bị quàn thanh vày, song 
cỏ dạo mả kị xốc ra đánh cách gan đởm lẳm mà phá 
đặng binh vây đi ; nỏ thầu nhau hiệp uũ Palikao, và 
qua 21 septembre đại bình thanh đông được 50.000, 
trong số có 30.000 quần kị, phải 7.000 binh ạnglais 
với langsa, có quan tướng Cousin-Montauban đf>c 
chiến, đánh chạỵ tan tác. 

Đàng lênBẳc-Kinh khòng còn chi ngăn trỏ* nữa, nên 
qua mồng 5 octobre binh giao hữu mới đi luôn. Viên- 
Minh viên ỏ* cách.dô thành một ít, bị người langsa soán 
lấy mà không đánh chút nào và đoạt thâu của cải, 
chuyện như vạy sử kí chê bai nhiều ; saư một ít láu, 
đền ấy bị đốt đi mà báo thủ chuyện tiền sử hâu binh 
rất nên hề thẹn trong ngày 18 ^eptembre. Trong lúc 
dỏ, đức hoàng đế Hàm-Pbong trốn ra khỏi Bẳc-Kinh 
mà chạy qua xứ Mảng-Châu. Người ta khổng còn biết 
lấy ai mà tính toản nữa. Xem ra grặc muốn thế the bất 
cùng. Nên đã biện nhiều cách đặng binh trú tại Thỉên- 
Tàn và tại Đại-Cô cho qua mua, đòng. Nhưng vậy, 
chuyến nầy tánh kiêu căng người thanh dẩ phục rồi, 
nhò* cỏ nưức Russie vi lợi mà trao lòi hom thiệt, nên 
òng hoảng Kong, lả ngựđẹ, xin lảm hoà(l) Giaọ một 


(t) Ông Pallu de la Barrière nói rằng: «Quan tướng russe 
ignatieírià ngưò-i làm đầu trong cuộc giao hoà nhằm 25 octobre 
1860 mà có quan tưóc nam Gros, ỉord Elgin với ông hoàng 



227 — 


cữa thành Bẩc-Kinh lại cho binh sỉ lương quốc, nước 
Langsa được bốn triệu quan tiền tày đễ cửu cấp gia 
quyến các người bị thác oan trong ngày 18 septembre. 
Lord Elgin với quan tước nam Gros vảo Bắc-Kinh 
cỏ trống giỏng nhạc ca đi trước, mồi ỏng được 1 .000 
iính hầu. 

Mấy tờ giao ước lập trong năm 1858 tại Thiên- 
Tân đều y phê tại Bắc-Kinh (24-25 octobre 1860). 
Ẹinhgiaohữu ra khỏi đò thành lối đầu tháng novembre. 
Thièn-Tân với các đồn theo sồng Bạch-Rà còn chiếm t 
thủ một ít lảu nửa mới thôi. 

SOÁN LẰY GỪA-HÀN 


Các chuyện sứ sự chúng ta mà đa bất thanh và 
cuộc thủy binh hành sự hở khoản làm, dược việc 
xảy qua, thì giục lỏng người an-nam ra dạn dĩ hơn 
mà thòi, nên làm cho chủng ta sám sữa clúnh giặc 
hẳn hòi hơn, cho chuyển nầy chủng ta-dặng phỉ chí 
thật củng lâu đài. 

Mà thiệt người ta muốn đi gi ? Có phải dỏ là bườc 
thứ nhứt tấn vào‘ trong việc chiếm trị nước Dại- 
Nam, chẳng kiếp thì chầy hay là cho dặng một bến 
tàu, jmột ít điều thong thả cho dạo ThiOn-Chúa và 
- cuộc thương mải langsa chảng? 

Kong kỉ tẻn. » Lẻ gì ngưò-i phải thèm như vầy, trong việc giảng 
hoà đó, nước Russie thạnh dưọ-c sáu trám sáu mươi millc 
' ; đất dài theo bải Thái-Binh dương. Tò- giao ước lập tại Aignn 

:'X- vó-c Trung-Quốc (1858) có nhưòng cho người russe trọn dịá 

phương mãng-chàu cho tới dại giang Amour ; qua năm 1860, 
'ịềằ}H- báiỊgc Ịại dài cho tỏi Oussouri. 



Bều giác thế thử hai 'xem ra trứng bơn, đầu cbo 
người ta chưa hề biết đặng bao giờ tới đẳu inình 
mới ngưng trong các chuyện tính toán về xử thuộc 
dịa như vậy. Bời Cựu trào langsa thật có kí tèn vào 
tờ giao ước, trong đó thấy cỏ nói về bến tàu, việc 
buỏn bán thong thà inả thòi ; song khi đức thầy Bá- 
Đa-Lộc về nước Langsa thi người không có chiếu tỏ 
lòng trông cây ỉập một xứ thuộc địa quảng đại bơn, 
phú cường hơn, hữu ích hơn là xứ Thiên-Trước mà 
chúng ta mới mất sao? Cảc chuyện biến bởi Hồng 
Loạn langsa và Bế quốc mà ra, mấy lúc giặc giẵ lièn 
tiếp nhau cho tới năm 1815, sự cô thế nơi biễn giã, 
làm cho nước Langsa quên tưởng tới vụ gầy dựng 
cơ nghiệp tại cảnh Bông nầy trọn ba mươi năm. 

Mả khi giao hoà rồi, thi mấy chuyện đi xa đường 
khởi sự lại, việc thống thuộc với Trung-Quốc năng 
có hơn và coi vọi cuộc thương mải dạng thạnh lắm. 
Tàn trào langsa ( Resỉauration ) muốn buộc lại chuyợn 
giao hữu mau xảy qua trong đời vua Louls XY1 với 
Bại-Nam, cũng có ỉấỵ tờ ưức lạp tại Yersaìỉles chiếu 
ra mà xin ; tân trào có sai kẻ qua Cữa-Hận ba lần, 
mà không ích gì. Triều thần vua Louis-Pbilippe có 
lo một thế kia êm ái song không viên thành chút nào. 
Bến sau, nhà nước gởi hai ĩân tàu trận mà chẳng dủ 
sức, nèn không ra sự gì hết. -Nhưng vậy, lúc đo, ỷ 
người ta tinh làm càng tố lộ hơn, nỏ dã trở nêiyvững 
vàng và hẳn chắc. Trong mấy bức thơ quan đại thần . 

. Guizot viết gởi mà dạy biều ông Lagrenẻe, làm khảm 
sai toàn quyền tại Trung-Quốc, thi nói như vầy : 

Không nèn cho nước Langsa khiếm điện tại một địa cảhb lớn 
như vậy trong thế gian, là noi các nưó'c Tày phang dã dến ở 
đó ; chẳng phải là tại địa hạt Áo-Môn portugais, tại cảng khầu 
Hưong-Cảng angỉais hav là lại đại châu Lử-iúng espagnol mà 
tàu hải chúng ta mới sửa đặng mà thôi đàu. 



nỵ — 


Thấy phía nước Ẩn-Nam có nhiều đều gay trở, 
nền người ta mới xây mặt qua một miền nào dễ 
đến hay là dễ soán hơn. Cũng hòng tính chiếm hòn 
Basilan, gần cù-ĩao Mindanao, ở mứt dầu quần đảo 
Soulou, song tại việc nhà nước bối rối năm 1845 (t), 
hiệp với các cuộc sai binh đi (lánh xứ Madagascar (2) 
và nước La Plata (3) làm cho bỏ chuyện phỏng nghỉ ấy. 


(1) Phép khán. — Năm 1831 và 1833, hai tò' ưỏ'C có cho tàu 
trận anglais vỏ-i langsa dưọ-c phép tương khản thương thuyền 
hai niróc tại một ít bải biẻ'n, díng mà khử trừ chuyện buôn 
bán ngưòù nègre (là hắc bi nhom). Người anglais tưỏmg mấy tờ 
ưó-c dỏ không dủ, nên xin dặng tờ thứ ba (ngày 20 décembre 
1841), tò- này thêm bề đài bải biền, nhiều lảm đặng dề mả xét 
tàu chúng ta. Sau phải bốn năm kêu nài không dứt, thì mới hủy 
đưọ-c tò' ưó‘C dó mà thôi. 

Chuyện Pritchard. — Hoàng nử Pomaré trị hòn Taĩti (thuộc 
về chòm cù-] ao De la Société) mỏ'i xin nhà nước Langsa bảo 
hộ mình, hay đáu có ngưửi anglais tên Pritchard, làm lãnh sự, 
thầy giảng đạo protestant và bào chế y sanh, dốc bà vua ấy hạ 
quvèn bảo hộ langsa xuống và giục dàn bồn quốc dấy loàn. 
Dàn nầy có giết vai tên lính thủy langsa. Quan thủy sư Dupetit- 
Thouars dạy bắt óng Pritchard, nên ngưò-i phải đi qua chòm cù- 
lao Sandvvich. Nhà nưó'C Grande-Bretagne có xin dên tiêng lốt, 
lại vi dầu ý chung cả nhơn dân langsa khòng chịu, tì ù ỏng 
Pritehard cũng dặng thưò-ng bồi (1843-1845). 

(2) Nữ vương Ranavalona nghịch cùng ngưòú ngoại quốc, nên 
hủy tờ thương ước mà trưửc có lập vóũ người anglais, bà vua 
này truyền bắt các thầy giảng và dạy giết nhiều ngưỏ-i có dạo. ■ 
Nưố-C Grande-Bretagne với nưó c Langsa có hiệp lực trong nàm 
1845 đặng sai binh dến đánh chung vói nhau, thành Tamatave 
bị bắn pha vã dốt đi, song hảm dồn không đặng, nẻn tàu phải 
trỏ- ra khơi lại. 

(3) Năm 1816, nước Hiệp Rỉo de ỉa Plata chư tĩnh dà lập .. 
thành ; song iúc ban sơ, có hai phe lo, yiệc chánh sự kình chống 
n^n~U : bụn nhứt thống trị vóibọn giao lán hữu. Khi bày ra 



Bỏd vua Loùis-Philíppe qua rồi mà làm không xong 
chuyện cbi'tại"cỏi Bòng nầy hết. Với dửc hoảng đề 
Napoỉéon III, việc quốc chánh lo chung trong bầu thế 
giải, túy có sải một ít mả cao kiến hơn nhiều, thì đã 
chọn lấy. Trong mấy chuyện dức hoảng đế châm chĩ 
tinh, tự nhiên thấy cỏ sự tưỏng ỉập một bến tâu tại 
Trung-Quốc hải. Trọn mấy năm dầu nơi đời người, 
bị giặc Crimẻe ngản trở không cho làm, mà khi hãm 
dặng thành Sẻbastopol, người liền trở lại lo nó. 
Cuộc giao hòa củng gần tính ( lập tờ tại Paris ngày 
30 mars 1859) thi có chỉ sai ông de Montỉgny di qua 
Huế, chúng ta đã thấy chuyện ấy trước roi. Ta cung 
cỏ nói rẳng việc sử sự người bất thanh, vả chuyện 
chém giết con nhà có đạo khôn dứt, làm cho quyết 
định cuộc sẳm sữa đánh giặc phấn chấn. Mấy thầy 

phép cai trị nhằm ngày 26 décembre 1826, thi là một sự khôi 
hoàn cho phe thứ nhứt, song không dược bao lảu, vi qua 1829, 
ông Rosas lâm cho bọn giao lản hữu tiiắng lại. Ngưò-i dặng cư 
làm thống dốc kinh thành Buenos-Ảires cùng là dau mục Hiép- 
Chúng quốc. Cách người chấp chánh mau tàm cho dân kính 
khiếp lắm lại sự ngưòi toàn quyền trị nước làm cho nó phải 
ra nhứt thống trọn hảo. Ban sư, ông Rosas biết cách ăn ử khôn 
khéo lắm vói các xứ ngoại quốc, song dều như vậy không 
dưọ-c cửu trưò-ng, vì chẳng khỏi bao láu ngưò-i bị vấn vưong 
nhiêu chuyên gay trử. Người khỏng chịu nhìn biết quvền tự 
trị hai xứ Uruguay với xứ Paraguay, nên cho binh giup đức 
giám quốc Oribe mà dánh lại với dầu mục quàn nghịch, là ông 
Ribera, mà có hai nưỏ-c Langsa vó-i Angleterre binh vực. Nám 
1845, hai dại quốc nầy gởi tho- quyết cho ông Rosas, mả người 
cũng cứ theo ỷ mình luôn. Giặc ứi lẻn, xử Paraguay, Uruguay 
cùng xứ Rrésil hiệp, vó-i hai mrức giao lân. Ngày mồng 2 aoùt 
1845, dạo thủy anglais vói langsa huy tan đoàn chiến thuyền 
argentin trước cửa Montevideo vả vây bải biền. ■ Lần hồi ong 
Rosas giao hoà đăng vói nước Angleterre (24 novembre 1849), 
san với nưó-c Langsa (30 aoùt 1850). J . 



— 231 — 


• giẵng ỉangsa đã chịu tử hình, là : Ong Gagelin (1833), 
Marchand (1834), Cornay (1837J, Jaccard với Borie- 
Dưmoulin ( 838), Delamotte (1 839), Schoeíĩler (1 851 ), 
Bonard (1855). Hội espagnol giãng đạo van trách vụ 
trảm quỵểt các linh phụ sau nầy, lả : ông Ignace 
Dalgado, Dominique Henarez, Joseph Fernandez 
(1 838) ; dửc thầy Diaz chết vi dạo tại Bẳc-Kỷ (1 857) ; 
qua năm 1858, thi tới phiên linh phụ Sampredo. 
Nước Espagne đến hiệp vỏâ nưcrc Langsa. Thi thế 
càng ngày thêm hiềm yếu lại, qua ngày mồng 4 
septembre 1857, phải sai chiếc Catinat di tới bải 
biền nước Đại-Nam mà cứu rước các thầy giảng nào 
đến đó. . 

Ngày 25 novembre 1857, quan thủy sư Rigaultde 
Genouilly, quản suất đạo chiến thuyền tại Trung- 
Quốc hải, có dạng lời đụ quan thủy bộ thượng thư 
dạy rằng, hoặc chính vi ngưòà, họặc là một quan phó 
nào của người, phải đam Làu tới nưức An-Nam mà 
trần nhạn cho hẳn hòi ; cũng trong khi ấy, người đặng 
tin báo rằng một ít làu binh tiếp sẻ đến. Vậy lúc đó, 
ai nấy đều thấy, phải ép người an-nam àn ở cho theo 
thường tình mả thôi, chớ khòng phải đặng lấy nưức. 
Đức hoàng đế Napoléon III không có lòng muốn 
chiếm cứ khách địa chút nào, trừ ra một bến tàu mà 
thòi. Khi ấy ít ai biết xử An-Nam cho lẳm, nó cỏ tiếng 
dồn Ịà chốn nê khỉ, trưỏ*c mắt nhiều lígưòd thì coi 
nhừn dàn ử đỏ dỏng cường củng hảo chiến lắm. 
Như lấy một phần đất rộng lớn hưn, thi chắc có khi 
sanh giặc bất tàn, xét ra lế nào cũng hư hại nhiều 
: :ị ; • (vi chuyện sai binh đi đánh tại xử Aigérie có gần 
ba mươi nàm trời hảỵ còn sờ sờ đó mà bảy lỏ-i 
Si -, hơn thiệt). Đức hoảng dế lưỏmg lự, người chuộng 
ỆỈJ ị ọập;<ỉ^ lảm cho minh phỉ lòng về phong hoá hơn 

SR-' . • 



là những miền qúảng 'địa mà không ai hiết"chò ch"ẵc 
nó quí cùng hậu lại nó thề nào. Về ỷ ấy, nên,;đã lập ra 
một hội c&quan tước nam Brẻuier, là khâm mạng 
toàn quyền, lảm đồng lỷ dặng tế nghiệm chuyện nay - 
và, nhứt là, xét coi như không bày ra từ giao ựớclập 
tại Versailles dăng sao; chắc cũng bởi ỷ đó, nên ông 
đạc đức Hưc dầng cho đức hoàng đế Napoỉẻon Ịli 
một bền sách luận về các phép nào dùng lại đặng mạ 
ăn thuộc với một ít chữ trong nước Ưại-Nam. 

Rủi thay, quan chưởng thủy phải triền hoẵn cụộc 
hành binh. Khi ấỵ ngưò-i ta đã gần giừ khải nghịch ’ 
với Uạì-Thanh quốc, trẻn cảnh BẨC có cần dùng binh 
sỉ langsa, cho nền khi tính toáu giao hoà tại Thiẽn- 
Tàn xong rồi, thi mới dến được tại nước Ần-Nam. 

V 

' Vv 

Ouan Ihũy sư Rigauit de Genouilly ra khỏi cưá*- .■ 
£ại-Cỏ, nhằm ngày 'il jain 185ổ, dậng _q.ua; ẹu^lao ■- 
Hải-Nam, là nơi quàn sỉ ỉangsa với espágng^Ịịạị vầy 
hiệp nhau lại. Bạo J)inh sai di đánh kầ ỊỊỊ* 
linh bộ thuộc thuỹ, một hàng súng ciặỉ bac thuộc 
thủy, một ít lính thủ bị, cả thảy lả 1.5d0 binh ìangsa 
(không tính số binh thủy mấy compagnie đã lẻn bò;), 
thêm 800 1 nh tagal ở chòm cù-lao Phiỉippiỡes, may - - 
V người sau đảy có òng quan năm espagnol Lanzarote 
cai quản* Ngay Sậ aấùt, đạo thủý kẻ lả tàu íVégate 
Chạy bườm Néỉịiésắị có nẻu cờ quan thủy suytìai; 
chiếc corvette ch^ýoỆy Phỉẻgẻton, PrlmaugueL x 
. ;năm chiếc tuần tịẩụ-Aùaỉanche, Dragonne , Ẹàsẻe~f. 

- ỆỊỊrạũle, Aỉanĩíe, bồn chiếc chõ- binh Mearthẻí " ; v 
■(ỉirồnde, Dordogne, Saône vờ i một chiếc avisổ; -1 
espagnol . tếrì lá Eí cano , rút neo đi cùng tơi tại vịnh" 'í** 
Cữa-Iĩản nhằm chiều ngáy 3Ỉ, 



rìy 



:Quandhủy sư buộc các quan aii-nam giao thành và 
đồn lại- cho ngứời, ki trong hai gịừ. Mả bơi không thấy 
trã lời, nên người bắn phá thảnh trọn nữa giờ, làm 
cho súng dồn nính, rồi sai mấy đội binh thủy (com- 
pagnie de dẻbarquement ). lên hãm -lấy liền. Thảnh 
đồn an-nam đều bị soán, qạỗ^ều mồng 1 septembre, 
cả doi đấtTiên-Chà về tay ciíung ta. cỏ lế tưởng đặng 
rằng, như qua bữa sau mà ngưòí ta dí^ên Huế, như 
trong lời. dụ cỏ/dặn bảo quan Thụỳ-sư v yậy, thi con 
giặc ấy không lặtt.quá ba tuần lễ/ Vi lònp nao núng 
quần sĩ an-nàák đang đảo tán, không tầíìg trải binh 
nghệ bao nhiêu,, rìẳỊ cho chúng ta cỏ thế mả đánh 
liềụ mạng đặng. Ngưỏv ta có.bài biếm quqn thủy sư 
Digault Ỷề/cầuvện.khồĩig.-damMùng cơ hội độc chiếc 
đỏ, song chằng .kễ tẶị^s^/nậỊựi ctó&Mểt xử ấy chút 
nào hết saỏ t'#hậl^ựặn£h|ttỊieo lời 'các thầy giảng 
lã phải ỉế lẩm/vậôấy Qĩigịỳỳữ địa cuộc thễ nào, dầu 
vậỵ moi người hay nghề mmíựịại cũng mồi người gánh 
vác thuyện minh làm. Có lẽ%ìían thủy sư thiếu sự 
dốc ctứ,jíhÔng hiẽu cho''èhẳc thi thế làm sao, song 
người không thiếu dều thòng thái củng tri hoá 
khôn 'ngoan bao giờ. 



nơi dễ dụng -binh lươhg inổ-i khai tạo. Phía biễn, dạo 
chiến thuyền chúng ta thủ hô vỏng tàu : khi ấỵ, địa thế 
chủng ta rất nên kiên cố lẳm. Nhưng vậy, mơi vửa.hết 


. • • 




triều đinh Huế ìại chẳc ỷ . về sự đàng sả trầc trỗ 1 (l), 
rỏ thấu thật cơ quan chúng ta thồ nào, biết chúng ta 
có lên tửi Huế, thi phải liều nhiều chuyện đhi sự, 
nên chờ cho khi cự lâu ngày, chính vỉ chúng ta bỏ 
không đánh nữa mà thôi. 

Mà làm chi cảc đều nông sức tồn phí lại vô sinh lợi 
đường ấy? Ta xinnhẳclại, làbởi chẳng ai biết xứ nầy. 
Chuyện người ta làm đỏ, tỉ như nắm sừng con bò đực 
kia, song không đủ sức mà vật nó xuống vậy. Xem ra tự 
nhiên muốn làm cho vuaTự-Bức với quần thần thuận 
tùng, thòi phải lên cho tởi đế kinh hay lả, ỉt nữa, phải 
cỏ thế mà làm chuyện ấy cho dề. Sự lấy đặng thành 
Thiẽn-T ân cách sư sài mà thôi, thi nó không vừa đủ mả 
làm cho triều đình Bẳc-Kinh chịu đầu sao? Lại, tở giao 
ưởcnăm 1 787 chẳng nói về <thòn Tourono sao ? (2) 

Vốn thật người ta biết có một mình Cửa-Hàn, vi 
lúc trước tàu giặc chủng ta đến tại đỏ mà thôi ; song 
sự họ biết không trúng, họ chẳng rỏ thấu chút chi 
về mấy đường hiếm yếu từ Cửa-Hàn mà lên Huế, lại 
cách thế chuyên chở càng khó hcrn nữa, họ ít tưỏmg 
tới mấy bệnh ở các miền nhiệt đạo mà khôn lánh khỏi. 
Còn phần Trung-Kỷ dư lại, thỉ họ không biết chi hết; 
như cỏ coi lại mẩy cuốn sách của những đấng chép 
truyện ra trước hết, của các người cỏ dự vào cuộc 
chiếm cử, thì mới hiễu, dầu cho mẳt thấy tai nghe 

(t) Theo đường sông, thi có một minh tàu canonniẻre* đi tửi 
dặng mà thôi, phải lưó-c qua khúc hàn, nó cỏ chửng ba thưức 
langsa mró-c bề sâu. Thiệt khỏ cho phía ấy, bởi vi chắc cỏ khi 
bạ hàng súng dại bác bẳn thấp dề mà ngăn ngừacửa biền chịu 
không đặng lâu hơn mấy đồn. Trên bộ, đường đi đầy tinh công 
cuộc chống cự dã xây đặng một phần sau khi đạo chiến thuyền 
dêh và nhứt là đã bồi bồ nó kề tử ngày ấy. 

(2) Chẳc lả nói doi đất Tién-Chà. 



— /235 — 


đi nữa, mấy vị ấỵ cung còn nhiều phen lầm lạc — 
hoặc bị. mấy người bộ hạ an-nam minh dối phĩnb, 
hoặc có ý viết như vậy hay là cách nảo khác (1) nữa. 

Lập dinh trại tại Tiẻn-Chả lả một đều sái phép thao 
lưọ-c, mà lảm sao chẳng sa phạm nỏ đặng ? Người ta 
không biết tải sản thật xứ Nam-Kỵ thề nào, nó trồi 
hơn cảc địa phương khác trong nước dường bao ; 
thật thi thảnh Sài-Gòn đặng tiếng đồn về việc thương 
mải ở tại các biền nầy, nhưng vậy, người ta không 
tương tới sự miền trung chàu thuộc sông Khong, theo 
cuộc địa dư, ở cách Triing-Kỵlàm sao, các đều trẳc trỏ* 
nào cho -triều đinh Huế khi dằn một đạo binh vào tiếp 
cứu; người ta không biết cho rỏ sông rạch trong xử, 


(t) Ban đầu người ta ít hiều đặng nhau. Có một haì ngưừi 
bôn quốc có đạo nói tiếng latin sái nát mả thôi. Thật thòi khi 
vừa chiếm, thấy có quan vỏ chuỵẻn học tiếng an-nam. Cách đỏ 
tiện, lại có một mình nó là phải lẻ mã thôi. Song trong tiếng có 
nhiều đều gay trỏ' cho người tây học nó, từ đó đến chừ cũng 
chẳng hết, lại nó làm cho hai dàng khó mà hiều nhau. Có một 
it ngưòi nói rằng, trong các quan uú, dặng vài ỏng thông ti ứng 
an-nam lẳm — là họ có dịch sách l Ta không có ỷ làm cho bót 
công danh mấy quan nầy, lại ta kính trọng chuyện họ gắn sức 
học hành, cùng những việc đã làm. Mà v'ê sự nói tiếng an-nam 
cho có văn vật, thời là một dều riùng. Diền một cuốn sách an- 
nam nào ra chử langsa mì dùng tự vị vó-i thông ngôn bồn quốc, 
ấy là một đều khác, còn như lấy tiếng an-nam mã giải ỷ mình 
ra cho trúng, thì lạt là một việc khác nữa. 

Ví như, bây giò-, người ta muốn nhập vò các chuyện mỏ-i nói 
đày sự ngưò-i an-nam bất vỉ chi mả không hìlu đưọ-c trong 
• khi cắt nghĩa, chằng hề lo lối sự gi hết, và quyết chắc mỗi 
chuyện cách 0- hò- quả dồi, thì ngưòi ta raó-i rỏ làm sao các 
tiên sanh danh vọng chúng ta đỏi phen phải thấy sái. 

Một dều sau hết chúng ta hảy nhó-, là như ngài tưỏ-ng quyết 
. chuyện chi dữ, cùng kiếm tbế, cả tiếng, mà vực nỏ, thỉri chắc 
đặng ngvỉri thông ngônan-nam của ngải chiu theo ý ngải tức thì. 



— m — 

sự dề chiếm iấy đất và ở lại đó; họ cũng không Bg& 
rằng, khi soán đặng Sài-Gỏn, thì làm cho đức vua 
Tự- Bức mất hết cách trọng thề trước mẳt nhơn dân 
cao-man củng.. người xiêm nữa ; sau hết, vua an-nam 
thàu thuế miền ấy nhiều lẳm. 

Dầu biết rỏ hơn đi nữa, cỏ khi cỏ một lẻ khác 
cung làm cho dang xa Sài-Gòn. Bướcchàn lên đắt Nam- 
Kỷ thi chắc phải ở lại dó, vi, một phần, là triều dinh 
Huê không chịu tự thuận, phần khác, họ khổng cỏ 
sức mả đuồi đặng chúng ta ra khỏi miền trung châu. 
Mả bơi mạng lệnh đức hoàng đế Napolẻon III đẵ 
ra tỏ tường, là dầu cách nào người cung không muốn 
chochuyện dài ngày tại Trung-Kỷ. Vi gần có giặc đánh 
với nước Autriche (t) mà khống lánh được, nên nó 
khuyên người đừng vào chuyện cầu may về địa hạt. 
Song mấy đều biến mạnh hơn lệnh người truyền, 
dầu cho khòng muốn, nổ cũng kẻo người vô vụ chiếm 
cử. Nếu lúc đỏ mấy quan kièu ngạo, cậy mình mà 
không thải ngu dường ấy về phương thế và ỷ nước 
Langsa làm sao, nếu vua nước Ản-Nam đừng chiu 
theo com nóng giận mình như con nít, biết hiều thì 
thế minh thễnào vả chịu thua cho kíp, thời chẳc thật 
đế quốc người sẻ còn lại cho người (2). 

Rủi thay, người ta gặp mấy chuyện tối mẳt ấy trong 
sử, song chẳng có một sự lý luận nào, một việc nào mà 

(1) Khi dức hoàag đế Napoỉéon III vứi quan tưức bả*Cavour 
gặp nhau tại thành Plombières nhằm thángjuiUet t858, thì có quyết 
dịnh Tân thử nhứt tại dỏ mà đồi việc quốc chánh các nước xứ ỉtalie. 

(2) Nầy là mấy hảng rút trong hai tích của đức vua Tự-Đức 
dạy viết ra, nó cho ai nấy biết tâm tánh và sự thông hiều cả 
và đám quan quyền an-nam dỏ thề nào ; các hảng nầy mưọm 
trong sách Cochinchine reỉìgieuse của ông đạc đức Louvet. 

Khoản thử nhứt chỉ về sự cấm thù tạc vóù tàu Catinat : 



— 237 — 


hề huốn chi đặng nữa ; những đều dó làm cho gia 
quôc ra suy vi cách chắc chán, không sữa lại được. 
Cảc chuyện biến sau dày sẽ chĩ ra cho chúng ta thấy 
việc ấy. Chúng ta ở tại Cữa-Hàn kễ ậã năm thảng rồi, 
mả không được sự gi, có một dều là thấy tài vật, binh 
gia thỏn mon lần lân mà thôi. Xét về vỏ còng, suy về 
tàm lực quản sĩ, thời thấy phâi tim no*i khác mả đánh. 


SAI BINH ĐÁNH NAM-KỲ 

NĂM 1859-1860 

Trong lúc đó quan thủy sư đề đốc Rigault de Ge- 
nouillỵ dã tường tân địa cuộc xửNam-Kỷ,vàđem lòng 
tin chác về sự lấy Sài-Gòn thì làm cho ngưò‘i an-nam 
rúng dộng bầng mưừi lần hom là chiếm soán Cữa- 
Hàn, nên cuối thảng janvier 1859, người mới nhứt 
định tấn binh xuống hưứng Nam. 

Mồng 2 février, quạn thủy sư đề lại Cữa-Hàn một 
phần bỉnh cho ông quan năm thủy Toyon cai, rồi người 

« Quả nhiẻn, quản man di ấy ngu đỘD hết sức, thói tục tôi 
bại quá dồi, chúng nó không cúng quảy ông bà; theo chuyện 
đạo hạnh, chủng nỏ khống khác nào cầu thủ ; về lòng cưò-ng 
dam, dó là mau sơn dương ; chúng nó vượt biễn như quàn 
phỉ tặc, lập hang hố ở tại mấy hỏn hoang, hoặc núp hòm tại 
bai, bỗi đó lảm cho sinh các dêu bối rối, loan lạc trong mấy 
xứ liên cương. Vậy nếu chủng ta mà rước quản đó, thòi là một 
sự sỉ nhục và tai nạn cho gia quốc. » 

Khoản, thứ hai nói về chiếc Catinat lui di : 

« Ai nấy cũng thấy trưức, quàn Tày Di qua với một chiếc tàu' 
lửa mà lẻn cho tới dồn kinh thành, song chúng nỏ trở v'ê lịền 
đặng ỉánb khỏi hình phạt chủng nó dáng chịu lắm. Vậy chẳng 
.còn chi mà lo sọ- nưa. » 



đi vô Sàí-Gỏũ vởi hai chiếc corVette chạy mảy Phlègé- 
ton , Primauguet , ba chiếc canonniẻre Avalanchey 
Dragonne , Alatme, chiếc aviso espagnol El Cano , 
ba chiếc hải vận 'Saône, Meurthe, Durance, lại thêm 
bốn chiếc thương thuyền nữa (t).Trong buồi ban mai 
ngày mồng 10 íévrier, người chạy rân vô Yũng-Tàu, 
đánh phá .hai đồn giữ nó. Ngày 11, người vảo sông, 
chiếc Phỉégéton bắn trái phá đốt đồn Cần-Giờ chảy 
di. Ngày 13, 14, 15, đoàn tàu đi lên cách cần thận, 
làm cho các đồn (Ông-Nghĩa, Chà-Là, Xỏm-Rầy và 
Tam-Kỳ) lập theo dọc sòng phải êm lặng lần lần. 
Trong ngày 15 dó, có đửc thầy Leĩèbvre đến tị nạn 
tại tàu langsa, người trốn khỏi quan an-nam tầm 
bẳt (vi họ có ra giá thủ cấp người rồi). Gảc chuyện 
đức thầy nói về xứ nầy và công cuộc thành Sàì-Gòn 



phòng thủ, làm cho chúng ta đi tới dạn dĩ hom. Chiều 
ngày 16, đoản tàu đến vừa thấy thành. 

Trước khi nói về công việc tấn binh dánh, đảng 


cho ta kề lại một đôi lời về địa cuộc các nơi củng là 
đcn lủy đề binh vực thành Sải-Gòn thề hào Phía 
Đông, thành nầy có Tân-Binh Giang, hay là Sông Bến-. 


Nghé ( Riuière de Saigorì) chạy ăn khuyết vô hhư 


(1) Ta không gặp sách nào mà nòi về số binh đem . đi được 
bao nhiêu, trừ ra' bài của ông quan hai Baulmont thuật lại mả 
thôi (trong nhựt báo « Revue Indố-Chinoise » ngảy 30 novembre 
1904, nhản dề La prise de Toarane). 

(X Bề một toán binh thú ả lại Cửa-Hàn, có hỏa thực nhiều và 
dồn lủy vững chắc lắm, còh ngưòi (là quan thủy sư Rigauit) dần 
dạo chiến thuyền vó-i 2.176 quàn, trong dó có lính thủ bị, pháo thủ 
và binh bộ thuộc thủy, mà chạy ngay vào cữa sông Sài-Gòn. » 
Ban so- dạ^o binh di dánh kề đặng 2.300 binh, vậy thòi đề lại 
Cữa-Hàn không quá 124 ngưò'i. Thật cũng cỏ một phần tàu 
trong đạo chiến thuyền ỏ- đó. Có khi người ta cũng có lập 
hai dội compagnie lính an-nam nữa, sau ta sẻ nói chuyên nầy. 


>.vyr 



hỉnh nguyệt cung. Phía Bẳc, có'ĩìgọn sôngnầy,lả Rạch 
Thị-Nghẻ, hay là Bà-Nghè — đến sau người langsa 
kèu lả Arroyo de ƯAvaỉanche — nó dồ ra sông đỏ, 
di theo hướng chung-Tày qua Đông. Phía Nam, có Rạch 
Arroyo-Chìnois, lúc ấy kẻu là Rạch Binh-Dương, 
còn ngọn -Vàm Bến-Nghé, ở cạnh Tây-Nam mả chạy 
thẳng dến, đồ ra Tân-Binh Giang lối chót nguyệt cung 
(1). Vậy. các đường nước nầy làm ra như một cái 
hào kia rộng minh mông dề mà giữ thảnh, song cũng 
một khi, nỏ là một cái đường đề đi thông vảo tiện 
lẳm, bởi vậy nó tĩ như một Iươi gươm lua hai bề 

(1) Ông chủ bủt sách Gia-Định thông chi nói rằng : ạ dòng 
nưở-c (Rạch Bình-Đưong) chảy mạnh lam, ghe thoáng lứn nho 
nào ắ ngỏ ấy, đều dụng con nước. » Theo ông Paulus của 
|ại khác, ngưòi nói nguyên rạch đó là một ngọn xẻo thường 
kia mà thôi, trong năm 1822 quan tham tri Huỳnh-Oỏng-lỷ,nhạc 
phụ đức vua Minh-Mạng, có dạy đào sàu cùng khai rộng. Bên 
sau con nưỏ-c lón nước ròng chảy xoi lấn ra nhiều. Thật nên 
nhẳc lại đ'êu nầy, là ông Trịnh-Hoài-Đức chép sách lối 1830 
mà thỏi, song, lúc dó, khỏngbiết .người còn ả tại Nam- Kỳ chăng? 
Chung ta cũng nên nhỏ- sự ủng Pallu de la Barrière tưởng mà 
viết như vầy : 4 Khi ngưòã ta nỏi về Sải-Gòn, thi có nghe hài 
tên Rạch Arroyo-Chinois nhiều phen, chắc có lẽ nó là một 
đưỉrng nưỏ-c bởi lay con ngưòi đào, hoặc ít nữa là vẻt sâu cho 
ghe thoảng thông thưo-ng. Nó ỏ tại sông Sài-Gòn mà ăn lảng 
thẳng vô trong xứ, nó dặng trăm thưỏ-c langsa bề ngang *. 

Sau hết, ta xin k£ lại một Ít hàng rút trong sách La Cochin- 
điine Franẹaise en 1878 (của Hội nông nghệ Nani-Kỳ in ra~ 
tại Paris, nhà ông Challamel aỉnẻ): Mấy ngưòi thanh khách ả tại 
Chợ-Lón cỏ giúp « một phần việc cả thề vảo vụ đào kinh đÊ mả 
nối Rạch Bình-Dương(j4/T0ỉ/0-C/ỉỉ7T0/s)vói Ruộc-Ngựa cho giáp 
tói Rạch Cát (năm 1819), chính vi Ruộc-Ngựa có vét lại trong 
năm 1772. Cũng trong lúc ấy, người ta dang khai cho hoàn 
thành Rạch Arroyo de la Postc, vì trong năm 1755 có dào so 
. nó rồL Ọua năm 1820, đàng thưong mải từ Cao-Man xuống tói 
Sài-Gốn* di ngang qua Mỷ-Tho, dã lập thành. > 



bẻn t hiềm 'nghèo hoặt cho đảng nầy hoặ&oho đàng 
Í1Ọ, tùy theo phương thế dủng mả dáĩih trtréc hay lầ 
dề cự lại. Phía Tày, có một cúi đồng đất mồ mẫ 
( Pỉaine des Tombeaux ) chạy dài xa tăm tàm ở giửa 
thà*nh Ồài-Gòn, ỉà chồ cháuh phần trị an-nam, vỏi 
thành Chợ-Lớn, là IJƠÌ thương mải thanh 'khách (1). 
Đường của quan cai cơOiivierphóngra (sau là đường 
trên di Chợ-Lớn) làm cho hai chổn đô hội ấy thòng 
thấu vớỉ nhau, không ke Rạch Arroỵo-Chinois, lúc 
đó trên mé tả đã có nhà cữa ở rải rác rồi (phần nhiều 
]ả nhả lá) lại với vườn cau. 

Sài-Gòn có một cái thành đề mà ngăn ngừa, ỏ* lối • 
góc Rạch Thị-Nghè khúc dưóá dòng với Tân-Bình 
Giang hiệp nhau, tại chề đất cao, cách Rạch Thị-Nghẻ 

Xét theọ các bài giải đày, thòi thấy ngưòi ta đã SỞTO tim 
cách thế mà lập đàng nước đi thẳng và tiện từ Sài-Gòn cho 
tới Mỷ-Tho non dư ừng lên nưức Cao-Man, lại vl ý nầỵ, nẻn 
mấy ngọn rạch chảy thông trong xử ở giữa hai thành ấy đều 
bị vét, bị nối lại vỏi nhau. Tử vàm Rạch Arroyo-Chinois tại 
Sài-Gòn cho tó-i Rạch Cát, xem ra không cỏ một khúc rạch nào 
vét hay là đào nó mà chẳng cỏ ỷ như vậy, Song nỏ mau 
quến bùn, bởi nước lón nưóc ròng giáp nhau mà ra, nèn 
không iấy chi làm lạ về sự khai đi vét lại nhiều lúc, như 
n gày nay nó cũng cỏn làm lại như vậy nữa (tại vàm sông rạch, thỉ 
thưÒTìg nõ hay khoét sảu ; còn tại chồ con nướ-e lởn nưức ròng 
dụng nhau, nó lại tựu bùn quến trịn cùng làm ra giáp nướx). 

(1) Thành Chộ-Lón khai tạo kề từ năm 1778, trước ta có nói 
rồi. Chốn dô hội dó lả của một bọn khách nhon kia lập ra, 
nguyên trưỏ-c ở tại Mỷ-Tho vói Bièn-Hoà, mà bải bị quân Tảy- 
So-n xâm lấn khu trục, nẻn v'ê dó. Chúng nó kèu thành minh là 
Ta I -Ngon (tiếng nầy bấy làu bị nhơn dản an-nam lại chính vì 
ngưò i tàu cùng kêu sái nữa); nhò- chủng nó bền chi cùng siêng 
sắng, nèn mau làm cho noi đó ra một chốn đại thương đông 
đảo, hẻ trọng hon hết trong lục tĩnh. Nhon vi sự đại ích Dầy, 
thì người an-nam mói kẻu nó là thành Chợ-Lởn. 



chửng 400 thưỏ-c lảngsa, và xa Sông Tân-Binh 800 
thước.^ Thánh ấy — nay ai nấy cũng cỏn thấy dấu 
tích tại phía sau trạỉ bình bộ — lúc trước xâv vuông 
yửc, có mang cá, cạnh ngoài độ dạc 450 thước langsa 
(mồi mặt kéo thẳng ra đo được chửng 475 thước). 
Chinh giữa bốn phỉa chồ người langsa kêu lả courtine 
thi có một cái cữa; hảo đã rộng lại sảu, cỏ bốn cái 
cầụ đá. Thảnh ĩìầy xày nhẳm năm 1837, nó thế cho 
cái của qủan cai cơ ỏlivier lập khi trưức mà đã bl 
binh dửc vua Minh-Mạng triệt hạ khi đánh lấy Sải- 
Gòn trong năm 1835, trước ta có nỏi chuyện nầy rồi. 
Tàn thành ở gần lối góc phía bắc cựu thảnh. 

Phía Nam Sòng Sải-Gòn, tại chồ hiệp vởi ngọn 
Rạch Bàn (1), phía đưứi vàm Rạch Arroy&Chinois , 
cách chừng 1 .900 thước langsa, cỏ xây hãi cải đon doi 
diện với nhau, nhơn dàn kêu là Đòn giao khằu. Cải 
ở tại Rạch Bàn, nghĩa lả bên b<y hữu sông, thì thường 
thiên hạ hay gọi nó là Đòn Cá-Trê; còn cải bên me 
tả thi ta không biết dân dã cỏ đặt tên nó chăng. Theo 
việc quan, hai đồn nầy kêu : cái ở phía Bắc lả Ta- 
Bỉnh-Pháo, cái thuộc phía Nam Hữu-Bình-Pháo (2). 

(1) Đirírữ^ nước ấy có phải kêu lả Đại-Phong như ông 
Trịnh-Hoài-Bửc nói chăng ? Vậy cỏ lẽ TCêu-Phong là ngọn xẻo 
thuộc Rạch Arroyo-Chinois mà ông Huỳnh-Công-Lý dầ dạy 
khai rộng ra. Nếu phải như vậy, thòi đề Rạch Bmh-Dương 0 - 
noi nào ? Chủ bứt sách Gìa~Định thông chi cắt nghĩa cuộc 
địa dư lộn xộn lắm, khỏ mà do theo ngươi. 

(2) Tả, Hửu nghĩa trải vỏi mặt, Bỉnh là chữ thứ hai trong 
tên phủ Tân-Bình, còn Pháo chỉ là sủng đại bác, lói, hồa phi 
đồng. Hai ông Pallu de la Barriẻre với L. de Grammont kêu 
Hữu-Bình-Pháo là Hénon-Binh. Ta có tra kiếm mả truy nguyên 
tiếng Hẻrton cho biết nghĩa chi, song vô ích. Tiết thay cho 
mấy chồ sách khồng đề chử tàu sau các tẻn riêng đặng chỉ nó 
ra f Nén sách của mấy vị ấy trử nên khó mà do theo, nay 
ngưừi bồn quốc không còn biết di gi nữa, mà nhưng vậy các 
chuyên dỏ qua 'mói đặng bốn mươi lăm nồm mà thỏi. 



Khi hiều biết như vậy, thòi cách thệ phỗng iigự 
chẳng đủ và không ra gì. 

Không đủ, là vi vàm Rạch Arroyo-Chinois, vàm Rạch 
Avalanche không có cái nào ngăn giơ, nên đễ đưửng 
thong thả cho mấy kẻ nào đi đảng thủy mả đến với 
một đạo chiến thuyền xứng đáng. Sự kiếm khuyết 
như Vậy cảng rỏ thấy hơn nữa, làbỡi : 1° vảm Rạch 
Arroyo-Chinois cách mang cá nam thành chừng 1 .600' 
thước langsa, bỡi vậy nó ở ngoài làn súng thần cơ thành ; 
2o chung quanh thành có cất nhà, lập vưòm tược, cây cối 
che khuất không cho nó thấy Sông Sải-Gòn với vàm 
Rạch Avalanche. Muốn phòng ngự thì phải cỏ súng 
ống pháò thủ nặng, bắn theo gỏc lớn, lại không phải 
thử của người an-nam có khi đỏ ; phải súng cối lởn, 
song lúc ấy cũng chẳng cổ. Trong thành thì súng đại 
bảc uyên thiên, song tinh là mấy vị bằng đồng của 
nưởc Langsacho mà thôi, với mấy vị bằng đồng, bằng 
gang đúc tại xử mà không kĩ (1), cả thảy đều lả tiều 
hạng. Ta chẳng nghe nói người an-nam cỏ súng dại 
bác 24 (2) tạiSài-Gòn, lạikhòngvị nào của họ mà bẳn 
tới 1 .500 thước langsa. Năm 1858, tại Cữa-Hàn, việc 
phòng ngự chẳng phải nhưSài-Gòn, khẵu lởn hơn hết 



(1) Các khầu nầy thảy đều đúc có cốt, nén sinh ra nhiều 
bọt hơi, mộtít cái làm cho trong lòng súng cộ lồ to, Thêm chuyện 
viên dạn, nỏ cũng đúc dối lắm, nhứt là mấy viên bông, nên 
làm cho phải lỏng nhiều. Các đều vụng về như vậy sinh sự 
giảm sức làn đạn đi nhiều cùng sai xa chồ nhắm tròng khí bắn, đã 
vậy lại bị thuốc súng ngăn trở, vi làm nó khôn thửa luật chung. 

(2) Sủng dại bác thuở xưa đêu kêu theo sức nặng viên đạn 
được mấy cân langsa (hai càn tinh ra chừng một kilogramme), 
như súng 24, thì nó bắn một viên đạn nặng 24 càn tây ; đến 
sau có một it khầu kêu theo bề kinh tâm lòng nó đo dược là 
mấy phản iangsa, nay hết thảy súng ống lại dặt tên theo lòng 
nó đặng mấy -ly bề kinh tâm. 



tại các đồn nơi vũng lả lòng '16 mà thôi. Năm sau, mới 
đam súng 24 ngoài Huế vào đặng trí mấy lủy giăng 
theo sông (xin coi bài luận rất hữu ích của ông quan 
haiBauỉmont đam vào Reuue Ỉndo-Chinoừe, in ngày 
30 novembre 1904). Ẩy vậy, ta xin tỏ ra sau đây một 
ít sổ chỉ về làn súng đại bác nặng trơn lòng của ông 
Gribeauval bày ra (năm 1775), lại đã dùng nó như 
vậy kế từ trước Hồng loạn langsa cho tới dò*i để quổc 
thử hai, ta mưọ-n mấy số ấy trong sách Mémoires 
de Napoléon (tướng quân Montholon, cuốn thứ III, 
trương 52): 

Chỏ* hề dậu tàu trong chồ nao mả phải dạn hay là ừải phả 
bẳn nó, đạo binh bộ cũng vậy, không nẻn đóng lối làn hảng 
súng pháo thủ. Mấy khằụ súng cối theo cách ông Gomer bày, 
thì đạn di có một ngàn rưỏì toise (3.000 thước langsa), hoặc 
là mấy vị 36, đề trên xe bộ, nó có thế mà bẳn cho tỏũ 17 dộ 
và cho khìùi sủng đặng một làn tám hay là chín trăm toise 
(một ngàn sáu hoặc một ngàn tám tràm thưức langsa) mà thôi, 
nên ngưòi ta không ngăn cấmđưọ-c một đoàn tàu chiến nào dừng 
cho đậu trong vỏng Hỵères, là noi nó -ả cách xa khỏi ph'ẵo 
đất chừng húÝcígản toise (bốu ngàn thước langsa). Trong lúc 
như vậy, phải dề xe súng bộ cách làm sao cho các vị bắn dặng 
tóù góc 43 dộvàbắn trái phá hay ìà dạn cho xa được hai ngàn cùng 
hai ngàn ba trăm (oise (bốn ngàD và bốn ngàn sáu trăm thựỏ-c 
langsa). Kề từ khi mấy dảy sủng thần Cữ tại Hỵères trí như vây, 
• thì ngưàTanglais không đảo lại noi ấy nữa ; cảch dó đã dùng 
cho cữa Spezzia và noi biền cả cho hòn Aix, cho sông Gironde, 
sông Escaut cùng cho các vũng cưa Brest. Mấy khảu súng tàu 
đều bẳn trẻn pháo xa thủy, nghĩa là góc 25 độ ; kbi tàu trình 
nghiêng thưcmg làm cho súng bắn tới góc 43 dộ.Vậy chẳng lấy 
chi làm lạ về sự dạn tàu bắn tói bừ, còn mấy viẻn dạn súng 
bộ bay không dến tàu; ngưò-i ta lại van trách rằng sao thuốc súng 
xấu, lảm cho sinh nghĩ sự nội còng vầ chuyện bo- thờ. Vậy 
trong mồi hàng súng thi nên có một hay lả hai pháo xa đề mà 
b ắh tỏi góc 43 dộ, dầu cho trong lúc tầm thường việc bẳn như 
vảy khỗbg chắc trũng và chằng' đưọ-c ích gỉ nưa. 



- 244 — 


€ảcb thế phòng ngự không ra gi, lả bởi chằng cỏ • 
đon hộ dực hay 'lả bảo đề binh vực lấy nhau, trừ ra 
hai đồn tậi sông mà thôi. Hai dồn nầy ỏr cảch thảnh 
chừng 3.600 thước langsa vả xa vàm Rạch Arroyo- 
Chinois được 1.900 thước; nỏ thất thề' cũng như 
thưởng các dồn lập theo sông noi xứ đất bằng vậy, 
là giặc lấy dặng cái nầỵ rồi tới cải khác, mà mấy dồn 
lập phía trên dòng khòng giúp dở nó đặng lả bao 
nhiêu, hay là lảm cho giặc đừng soán đưực nó. Cách 
thế chẳng ra chi, vi bởi thành Sài-Gòn lập ra như 
vậy thì không quản suất sự chi hết. Mạnh là^chống với 
chúng dàn dấy loạn và cung cỏ khi với kẻ nào dến 
đánh mà đi đang bộ, nó mà cỏ ra ích chi với một đạo 
chiến thuyền tày, là như khi nào nó cỏ sủng cối rẩt 
mạnh, lại như cỏ mấy đồn chắc chẳn, trí nhiều khỉ giải, ỏr 
theo nguyệt cung sòng mả ngăn cấm đặng xa lẳm j đừng 
cho tàu nghịch đậu và ép đàng tiên chiến phải dảnh 
nó trư6c hết mả lấy lần lần ; vậy thi những tảụ ấy 
lại chường cho trái phả dồn bẳn nữa. 

■ Vã chăng, mấy trận giặc ta kề ra sau đày, làm cho 
qui hữu đọc sách hầy thấy dường sức cách đỏ thề nào. 
Khi đạo chiến thuyền, mó*i có chiếc aviso Prégent 
chạy hoi đến phụ lực, thấy dạng Đồn giao khằu, nghĩa 
là tậi khúc sông quanh vả vừa làn súng, thì hai đồn 
nầỵ bẳn nó. Tức thì một cái đồn trong hai bị làm cho' 
êm lặng liền ; cái kia trí khỉ giái khả hơn, nên qua bữa 
sau lả ngày 17 "mới đảnh được hẳn hòi nó mà thôi. 
Cả hai chiếm đặng cũng trong một ngày, đồn bên bò* 
hữu (?) bỉ phá đi, cái tại mé tả phải binh soản lấy 
đặng làm cho dựa cho tàu chở binh và vận hỏa thực, 
đỏ là lòị hai òng Bouinais với Paulus kề lại (trong 
sách Ưỉndo-Chine Francaỉse contemporaine), vả 



T- 345 — 


nói rằng mình viết theo tử sỏ- quan thủy sư(t). Kế 
* cỏ ông quan năm thủy Jaurẻguiberry, ông quan tư 
Duprẻ-Déroulède với ông quan ba pháo thủ Lacour 
đì do thám thành. Rạng mặt ngày 18, thảnh phải đạo 
chiến thuyền bẳn, ban sơ nó cỏ bẳn trả mạnh mẻ-lắm, 
song chẳng khỏi bao lâu nó bớt lần lần, vì tại súng thần 
cơ chúng ta hại nỏ. Bày giờ, chớ chi biết đặng trong 
trận đó mà tàu thuyền chúng ta bị hư hao lảm sao; 
khồng có một vị nào chép sảch tưởng tới đặng- nói 
nó, lại cũng không tỏ ỷ minh luận nó dường bao nưa. 
Nhưng vậy, có ích cho đặng biết coi đạn an-nam cỏ 
sa tới tàu chăng. 

Dầu lế nào, cũng thấy binh langsa độ lẻn bò- tức 
thì, củng lập ra đặng một đạo coỉonne binh đế mà 


(1) Ta xin nhắc lại, sách Đợi-Nam quốc lược sử ta không 
cần chi tìm kiếm việc xưa ngoải noi ta chép truyện đây, lạiSài-Gòn 
gần như không cỏ cồ tích vậy. Phân nhiêu trong mấy tin tức 
đều bỏi các vị fàm sách trước ta mà ra. Tiếc thay cho những 
ngưcri nầy, nhứt lả mấy kẻ lúc khởi đầu hết, họ không tưởng 
tỏi sự hài ra các diều làm gốc cho trúng, ngày tháng cho chắc, 
cùng các tên viết bằng chử nhu đặng mà đinh các chuyện. Đồn 
nào thất thủ trước ? Cải não bị triệt hạ ? Hai ông Bouinais vói 
Paulus viết nhằm chuyện nghịch vói sự ngày nay bảy còn. ông 
quan năm Vialnói (trong sách Premières années de la Cochỉn- 
chine Ịranọaise) ià Hửu-Bình-Pháo còn giữ ỉại ; phần khác 
ngưòi lại khai — hai ông Bouinais vởi Paulus nói trưỏ-c sau 
tửi ngưíri — rằng, mấy dồn nầỵ ỏ- cách « thành tám trăm thưó-c 
langsa*, song xem xẻt bất kễ là họa dồ nảo, thì nó chi ra cho 
ta thấy đồn ử xa thành cho tới 3.600 thưỗx langsa và xa vàm 
Rạch Arroyo-Chinois í .900 thưỏ-c. Cách chép sử như vậy đáng 
ừách cứ, vì nó làm chotrỉkẻ dọc sách sơ sài ra tưởng sải và làm 
cho người chuyên học khó mà tầm tích. Chẳng ph&i coi sử kỷ 
như trnyẻn bảy đặt, tánh nghiêm nhặt nó không, cho phép 
viết theo-y minh đoán, lại khi hgưòi tạ khống rỏ chuyện oàn, 
thi phải hài nỏ ra. 



hẫnj, nhỏ - cổ 'nhẫ cưa che khuất thành. Đạo ấy cỏ lỉnh 
thủ bị (ông quan ba Galìimard cai), cỏ hai dội compa - * 
gnie binh bộ thuộc thủy, với mấy dội lính thủy đi 
len bờ ( compagnie de débarquement ) ỏ- chiếc 
Phỉégẻton, Primaugúet và Eỉ Cano. Đạo coỉonne 
nầy cỏ ông quan tư Martin des Pallières đốc suất, 
dần nỏ tỏi raang cá đông-nam thành, là chề gần hơn 
hết cùng cử bần luôn. Có một đội compagnie lính 
chasseur espaghol đề rược giặc, đi theo sau xa xa, nó 
lảnh phần phụ lực với đạo colonrte hảm thảnh khỉ 
có cần sự. Còn một bataillon cỏ ông phó quạn năm 
Raybaud cai, thi đề phòng hậu gần bờ sông. Sau hết, 
đạo espagnol của ông quan năm Lanzarote quản đốc 
với nữa batailìon lính thủy cỏ súng obusier (bắn đạn 
bộng) hờm sẳn đặng chạy đến vảch thành (1). 

Bạo colonne đề hảm thành cỏ sai lính đi tiên phuòng 
(tiraiìleur), bẳn giết làm cho binh an-nam cố thu 
phải bỏ súng đại bác, bờ lủy và thành nữa. Binh khỏi 
Sự leo lên, cỏ th'ây độỉ Martin des Palỉières (Henri), 
là em ông quan tư, dằn đầu. Đó là một đều gan đảm bất 
kề chêt, vì không ai biết có sự gì ở phía sau bờ lủy 



. ./ 



(1) Hết thảy chuyện như vậy cũng không nói .một lần nữa 
cho chúng ta rỏ số binh gia là bao nhiêu. Hai ông Boninais 
vỏ-i Paulus là ngưò-i hài mấy toán binh nây, lại nỏi rằng minh - 
sao lục nó tại Thủy Bộ thưọ-ng íhcr, nhưng vậy, hai ông ấy 
phải rỏ biết rằng, mấy tiếng hang sảng, đội compagnie, cơ 
bataiỉỉon, V. V. không chỉ nghĩa gl hết, có một minh số binh 
mửi làm cho hiến chắc chắn sức quân sĩ đông thễ nào. Bảy 
thi hảng súng đặng támkhằu, đó nỏ có bốn vị mà thôi. Co 
xứ thòi cơ régiment kễ là năm trăm người, tại xứ khác cơ 
batailion lại tính cho tới một ngàn hai, cử vậy luôn luôn. Cac 
tên kễ làm gốc mà tinh đó đêu dời đôi theo thỉ theo dân, vây 
ilàm sao không rán mà giải cho rỏ rảng, sao coi bộ cứ muốn 
gạt ngưòi nào đó vậy? 



— m — 


mà chực hờ mấy kẻ hảm thảnh chăng; bởi đó, khi thấy 
thảnh đã trống trơn rồi thi người ta lấy ỉàm ìạ quả đồi. 

Tại phía Bẳc, lối giữa thành vói Rạch Avalanche, 
cũng cỏ giao chiến nữa, )à một đội compagnie lỉnh 
chúng ta ỏ- đỏ đảnh vửi trót ngàn binh an-nam. Ong 
quan năm Lanzarote rược đuồi chúng nỏ chạy qua 
bên kia rạch. Mười giở' ban mai thời mọi việc đã 
huờn tất, qua buồi chiều, mấy đội binh thủy lên bờ 
trỏ' xuống tàu, còn binh bộ thì ỏ' tại mấy trại lóm 
trong thành, ông quan năm thủy Jaurẻguiberry đặng 
phong làm quan cai thành. 

Khi lấy Sài-Gòn, chúng ta đặng đồ vật rất nhíềù. 
Hai trăm khẫu súng bằng clồng với bằng gang, một chiếc 
corvette, tám chiec thuyên chiến đề trên xưởng, 

20.000 cây gươm, giảo, súng tay vả súng đoản mả, 

85.000 kiỉogramme thuốc súng, bì, hoả phi đồng, 
đạn, chi khối, đồ cuộc binh, gạo lúa quá nhiều, vả 
một kho bạc nén vóù tiền quan của nhả nước giá 
chửng 180.000 góc tư tây. 

Hảm^đặng Sải-Gỏn như vẠy, thỉ người ta ỉấy làm 
vinh hiền và ngợi khen nhiều cách. Báng lẽ nó khỏ, 
hiềm nghèo, làm cho chủng ta tốn hao nhiều, nhưng 
vậy không -có chi hết. Từ mồng 10 chi dĩ ngày 18, 
chẳng cổ một ngưòâ lính thủy nào ỏ* tại đạo chiến 
thuyền đến Sải-Gòn mà chết; trong sồ biên tên mấy 
ngựò-i tử trận mả ông Pallu de la Barrière in ra phía 
sau sách người (Histoire de VExpédỉtion de Cochin- 
chìne en 1861), thấy có một tên lính bộ thuộc thủy 
.chết nhầm ngày 17 tẻvrier với hai người khác ngày 
18 mả thôi. Còn về mấy kẻ bị thương, tưởng chẳc 
củng cỏ, lại cộ khi một ít người bởi vít tích mà bỏ 
minh, .s.ỌDg hai số trên đây đủ mậ chỉ ra rầng, ví như 
trong những ngày đỏ mà có máu đồ ra, thi máu langsa 



— m 


khộflg_mấy ckúrt. kt thật chẳng cổ một ai ngở là được 
việc dễ đường thế, còn còng nghiệp cảc người đáhh 
giặc lại đặng toàn, song cũng nên nói rằng, sự khắc 
thiệp đưọ*c đỏ thiệt rẻ giá. Binh sỉ chúng ta có đủ đều 
vinh hiền, đến sau chủng nỏ đồ máu tại Nam-Kỷ •' 
cũng nhiều — không kề các bệnh hoạn hại trong đạo 
binh nhĩều hơn lả đạn tạp nạp— nên chẳng cần chi 
mà làm cho các việc ra đại khái hay là — chúng ta 
hảy nói cho chinh tiếng — đi bồn nỏ đi. 

Sự chiêm cử đất Gia- Bịnh lả một đều khai quang 
thật, nơi đỏ đảng ỏ- mà lập nghiệp củngphòngthủ, nơi đỏ 
dầu cách nào cũng phải gìn giử mà đội chờ các chuyện 
biến phải đấy ra, cả thảy đều khiếm thuận, lả: giặc 
nước Italie gần nỗi dậy (1), còn triều đỉnh Bắc-Kinh 
đang lo phương thể hủy tò- giao ưức lập tại Thièn-Tân 
mà không phê y (2). 

Trong lúc đức hoàng dế Napolẻon III đặng tò- cấp 
bảo về sự lấy đặng Sài-Gòn, thì ngiròà cũng chưa quyết 
bề chiếm cử đất lạ. Song bước thứ nhứt dã tấn tó-ì 
rồi. Nên cảc người sử việc có quyền thế, tiếng khuyên 
dụ đức thầy thất thập trụ Morlot, giám mục nhất hay 
địa phận Paris, lời phúng gián đửc hoàng hậu Eugénie 
mới dinh sõ phận nước Đại-Nam, lả: đức hoàng đế 
cho phép dựng cơ nghiệp tại Nam-Kỷ. . 

(1) Ngày 23 avTÌl 1859, nước Autriche cỏ gỏi một cải tho- 
quyết cho triều Turin, qua ngày 29 binh autrichien loản vào 
các xứ Sardes. Ngày mồng 3 mai, đức hoảng đế Napoléon ĨIÍ 
bố cáo nho-n đân hay cỏ giặc ; quán sĩ langsa, lóp thi mỏ-i vửa 
rtri ngày 25 avril dã khỏi sự quá ải lạng SOTÌ Alpes, lớp khác 
lại độ lẻn bớ tại cửa Génes ngày 26 avriĩ. Bải vậy đạo chiến 
thuyền chủng ta mắc việc tại biễn Méditerranẻe, nên lúc ấy 
không sai binh qua tiếp cứu tại Nam-Kỳ dặng. 

(2) Ngày 24 juin 1859, quan thủy sư anglais Hope khởi đảnh 
Trung-Qqọc lại nữa. 



_Váy đã soán thành rồi, song nó choán một khoảnh 
đất rộng minh mổng, thêm một hàng bẳn dài quá, 
nên số binh xuất ra ( 1 ) ít, không sức mả giữ cho 
chặc chja đặng. Trong khi rút binh đì tạm, người ta 
. . chẳc đưọ-c rẳng một cái thảnh vững bền như vậy sẻ 

cỏ bịnh an-nam soán lại tức thi , lại ai biết chuyến nầy 
ho chẳng co thủ mạnh raế hơn nữa. Quan thủy sữ dạy 
phá thành (ngày 8 mars). Các kho trừ gạo nhiều lẳm 
(đủnuôi bẫy tám ngàn người đặng trót năm) đều bị 
đothết, vìngưòi ta không giữ nó được, lại như bún nớ 
đi, thì là thêm lương thực cho quân giặc. 

Trong một ít tuần lề công việc như vậy làm xong, 
song ỉúc ấy tại Cữa-Hàn có chuyện biến đòi ông Rigault 
de Genouilỉy đi ra dó, vi ngày Iĩiông 6 mồng 7 rẻvrier 
người ta có đánh nhau, lại qua mông 7 vả mồng 
8 mai cũng gần đấu lại nữa. Quan thủy sư ra khỏi 
Sải-Gòn, -đe lại một đạo binh nhỏ cho ông quan 
năm thủy Jauréguiberry coi mả thỏi, thời chẳng khỏi 
bao lâu ông ấy phải đảnh. Trong ngày 21 avril, quan cai 
binh nầy có đuối giặc dang xa cho minh thong thả một 
chút, song người cũng phải bỏ chồ đóng trống trải 
mà rút về đồn Hữu-Binh-Pháo, cùng dạy trí súng lại 
và n <ft nỏ ra cho rộng hơn. (Bó là lời ông De Gram- 
mont chép ra, còn ông Pallu đe la Barrière với ông 
Vial lại nói rằng, vừa khi phả thảnh vả trọn lúc 
quan thụy sư Rigault còn hiện tại, thỉ dồn Hữu-Bỉnh- 
Pháo đã cỏ binh soán). ơ đó ngưòã khỏi nạn, trong nơi 
đỊa cuộc chống cự vững vàng, có Rạch Arroyo-Chinois 

.(1) Sự binh vực thử thành quách như vậy càn dùng mồi thước 
. lang^a b'ẻ dài tử 2 cho tới 4 người; vậỳ, boi thành có 1.900 
% ■ : thịrỏ-cbề ©Ịiẳé vi trọn; nẻn tính ra phải ít nữa là 3.800 ngưcri 
dặitg mà cố thủ nó. Binh ĩr Cữa-Hàn hiệp vái binh tại S.ài-Gòn 



— 2d0 — 

ì' " 

ngăn, lại ngay trưdrc chồ tàu đậu, song không cỏ một 
the thần nao mà quản suất về thau lược với quân . 
nghịch. Nhờ đồn ấy che chỏ*, nên có vải nhậ cỏ đạo bị 
rượt bắt đến trú đó, họ ở ngụ vỏi đức thầy Leíèbvre ■ • 
tạĩ chồ nay kêu là Xóm-Chiếu. 

Ta xin đễỏngjauréguiberrỵbị vây phía trên bộ lậi đó 
một ít làu mà không trông binh tiếp đến đặng sỏ-m, 
chẳng hiễu rỏ sự xảy tới làm sao, có một đều nhứt 
quyết mà thòi, lả cố thủ cho tới củng. Chẳc người 
ta có tính rằng, hễ xong chuyện hành quân bên Trung- 
Quốc, thi dùng bình trở về đó mả làm cho tất việc, 
song phải chiến thẳng tại Solíerino và tại Palikao 
trưó*c đã. s - 

Ngày 20 avril 1859, quan thủy sư Rigault đến tại . 
Cửa-ỈIàn một lần nữa, người liền định đánh cho tận 
lực. Khi giao được một ít trận sơ sài, thi mấy dảy 
đồn lập trước trại chúng ta nơi Cữa-Hàn đều bị lấy ■ . 
(ngày 7 và 8 mai). Khi ấy có tỉnh toán với nhau, - cũng 
^ 4 có cho các quanan-nam đặng phép đình chiến trong 
hai mươi bốn ngày, song bởi các lời họ xin khộng 
nhậm đượ-c— vì mấy người ấy muốn đặng thêm ngày 
giờ mà thòi— nèn dửt chuyện tính toán đi vả dụng binh 
tiếp mà đánh lại nữa. Thật thi, trong lúc thángjuin cỏ 
binh viện (bao nhiêu người ?) di chiếc Dỉdon với 
chiếc Duchayla mà đến. Khi đó binh an-nam cỏ thất 
một trận mới nữa trong ngây 17 vả 48 septembre, 
song đức vua Tự-Bức không tỏ dấu chi muon tương 
thương lại. 

Trước khi nói tiếp theo, ta phải kề lại sự tu thảnh 
một đạo binh bộ bồn quốc nhỏ, là tiền liệt các lính ■: 
tirailleur lúc nầy. Quan thủy sư Rỉgauit de Genouilly 
muốn đặng ích, nên dùng mấy kẽ bội quốc vả nhửt 



— '45 i — 

là các người cỏ đạo xử Bẳc-Kỳ đến tị nan, mả lập ra 
hai compagnie lính bồn thồ tại trại Tiẻn-Chả. Khi bính 
rut ra khọi Cữa-Hản, thi cỏ lẻ đem mấy compagnie 
ũ }y vô Sài-Gòn theo quản sĩ langsa ; nhưng vậy, sự 
chắc quả Ịả sau ta sẻ gặp lại một compagnie lỉnh 
an -nam tại Chí-Hoà, phần nhiều kễ là ngươi cỏ đạo 
bẳc-kỷ; như các tin thiên hạ cho tahay ma thiệt ỵ vậy, 
thi trong đó cung có vải người ngoại an-nam ơ xứ 
Nam-Kỳ nữa. Sau bởi bị hao một ít, nên có khi hai 
compagnie ấy sảp nhập làm một, Vả chăng, chuyện đó 
co thuật lại trong sách La Cochinchine Francaise 
en '1878 cũng dương một cách như vậy, lại sau khi 
nóirẳng người ta có lập lính tiền do an-nam, thi thêm 
như vây : <ĩ Ban sơ quân tiền do nầỵ có cam giáo, sau 
lần lần người ta cho súng tay thủy. Một tổp dụng tại 
Cữa-Hàn, lúc ấy đã soán rồi, tốp khảc tại Sải-Gỏn.Khi 
người langsa ra khỏi chồ đánh giặc trước hết thi hai 
toản nầy hiệp lại lảm một tại Sài-Gỏn, đặt tên lâcom- 
pagnie lính bồn quốc, hay là lính tập. » 

Các điều sơ ước lập tại Villafranca ( 1 1 juỉlỉet 1859) 
làm cho nhả nước langsa tự nhiên chỉ quyết tấn binh 
Hu.íh Có gỡi binh tiếp qua, song các chuyện 
biến' tại Bạch-Hà lảm cho đồi cho binh phải tỏi. Khi ấy 

' - CÒ . n ĩ Ó ™ ộị đều ’ là n s ưỏ,i ta P hai rán sửc mả làm cho 
mỉnỊi ở được bao lâu tại Cữa-Hản thi hay bấy lâu, như 
đã lảm tại Sải-Gòn. 

■ Nhưng vậy, lúc chiến tràng khồ cực nầy giãm sự 
khỏe mạnh quân lính, củng rúng dộng sửc lực đấng 
thông quần nữa. Quan thủy sư đe đốc Rigault de Ge- 
nouilly phải ẻp minh mà xin về nước Langsa, nẻn qua 
mồng một novembre 1859 người trao quò-n hành 

- quân lại cho quan thủy sư Page. 



Ngày 18 novembre, chưởng thủy tân quạn nầy 
dạy đảnh các đồn Kiên-Chàu, tại. phía Tày-Bẳc vũng 
Cưa-Hản, thân dưới đường ỏ* Huế mà xuống băng 
ngang qua núi. Các hàng súng bị hỏv hư đi. Trong 
trận ấy, binh langsa mất òng phó quan năm thủ bị 
Duprẻ-Déroulèđe, người phải một viên dạn bẳn nhằm 
trên tàu írégate Némésis có quan thủy sư ở. 

Trong thảng décembre 1859, ông chưởng thủy 
Page có đến tại Sài-Gòn một ít ngày, lại ngưò-i vâng 
theo lời dụ thủy bộ thượng thơ mà cho binh phục 
soán Sài-Gòn và Chợ-Lớn. Muốn cho thành đã bị phả 
đi đặng thế cái khác, thì ông quan năm thủy ,laurẻ- 
guiberry phải dạy người ta khởi công xảy Bồn mới 
(cũng tại nền thành) với Bồn espagnol, hay là đồn 
Đất-Thảnh, sau ỏng d’Ariès cỏ coi làm tiếp theo, 
song chẳng hề huờn tất bao giò’. Quan thủy sư cỏ 
ghi chồ cất nhà thương và các kho trong vòng thành. 
Đến sau, trong đó cỏ lập một cái dinh trưó-c hết 
cho quan nguyên soải ở, với một cải nhà thò- cọ, 
đạo (khánh táng nhằm ngày 15 aoùt 1860) và các 
kho trại thuộc về nhà in nhả nước. Lúc đó binh gia 
ở tại Trường-Thi (nay là chỗ có mấy cái giếng nước , 
thuộc về Tuyên Thủy Cuộc). Còn tại Chư-Lỏ-n thi 
người ta choản lấy chùa Cày-Mai lập trên một gò 
đất kia- Ợ). 

(1)«GÒ hây nồi lên như một cái nồng dốc hẳm ; nó có trồng 
nhiều cảy mai, mấy gốc củ mọc xiẻng tréo nhau. Mấy cày ấy 
trồ bông trong lúc có sưong muối (nghĩa là nhằm mùa đòng), 
lá nó bay mùi thom ;bỏng nó thông vó-i các vi thần trên tròi, 
lại mấy vì thần ấy lảm cho nó nỗ- ra. Đem . mấy cày nầy mà 
trồng thử noi khác thời không dặog. Chót gò có chùa An- 
Tỏn Chung quanh gò có nưó-c trong sạch, thấy có nhiều . 



— 253 — 


Về việc khác, thấy một ít lâu sau cỏ ra 16*1 nghị 
định , cũng đồng trọng như vậy, là : quan thủy sư mơ 
cửa buôn bán (22 íévrier 1860) và khai rằng nó là 
cữa không thuế nhập cảng. Vừa bốn tháng đầu, có 
sáu muôn ỉonnelÚẫ (mồi tonneìk 1 .000 kilogramme) 
chơ đem xứ khác. Theo Reuue maritime (in trong 
thảng íévrier 1864) thi nói ỏng quan năm thủy Viaỉ 
cỏ kĩ lại rằng, trọn năm 1860 tồng cọng đặng 
111 chiếc tàu tày vứi 140 chiếc tàu khách đến tại 
Sài-Gòn ; số hàng hoả xuất cảng tính được chừng 
mười muôn tonne. Một ít người an-nam thấy lợi, 
đến Chợ-Lớn vả Sài-Gòn mà ở. Còn người thanh 
khách, thông thạo chuyện buôn bán, thời họ diệu 
ngọt với người langsa cùng nhơn dân an-nam, lương 
lẹo quỉ quyệt với hai phía và thủ lợi nhiều lảm. 

Quân nghịch trước cỏ bị ép ra khỏi hai chồ đò hội 
ấy, nhưng vậy chúng nỏ không đi xa lả bao nhiêu. 
Một phần rút vô cảc dồn Thuận-Kiều, rồi đó có quan 
tòn thất Hiệp (t) dẵn trót ngàn quân xơm tới trước 
mả đóng tại làng Chi-Hoả, cách Sài-Gòn chừng năm 
ngàn thước langsa và xa Chợ-Lớn lối bốn ngàn thước. 
Quan cai binh nầy dạy xây tại đó một cải đồn ở xa 
đường một ít (Đồn-Tiền), là cái lúc sau ta gọi «cựu 
đổn Chí-Hoả » ; hai đồn khác (Đồn-Hữu với Bồn- 
Tả) ỏ- hai bên cảch chửng bốn trăm thước. Ong tòn 
thất Hiệp ở đó yên đặng hơn một năm. 


xuồng nhỏ bo-i đi hái bông sen Chùa này lập tại nền củ 

chùa cao-man Hồ-Tăng-Trân-Tháp » (Gia-ĐỊnh thổng chi). 

Trong đòi vua Tự-Bức, quan kinh ÌIỢC hay lục tỉnh, là ông 
Nguyễn-Tri-Phương, có cất cho chùaấymôtcải nhả mát có l'âo. 

(11 Bấng (tè đăng quang thọ chức thái tử , hoặc the tử, các 
vị vưong khác kêu lã hoàng tử, nam nhi mấy ông ấy gọi công 
tử, còn con trai mấy vị cóng tử kèu là tôn thất. Muốn cho ro 
chuyện hom, xin coi sảch ỉnstỉtàtions anncưnites, caốn thứ i, 
trương 232. 



Như sóng ra tại Sàỉ-Gòn mà người ta đặngthế cuộc 
khả, thi tại Cữa-Hàn không phải như vậy đâu. Lối 
cuối năm 1859, chẳng những công việc đa không tấn 
tỏúhơn ngày, sư khải, mà lại bị thì thế bơi các cuộc 
tiệc sẳm sữa cho quân sĩ đi đảnh bên Tảu mà gầy 
nên, buộc phải hộp binh gia lại, không cho phàn bủa 
nỏ ra. Phải đánh một trận cả thễ bên phía Bác-Kinh, 
mà như được việc, thi mới dễ giao chiến lại nơi Trung- 
Kỳ mà thôi. Vậy quan thủy sư Page có . được lịnh 
truyền rút binh ra khỏi Círa-Hàn cung một khi với 
lời dạy soán lấy Sài-Gòn ; những binh gia nào không 
cần dùng cho lẳm tại Nam-Kỷ, thì phải đam qua cữa 
Quảng-Châu. 

Nhơn có cơ quan phụtriểu, nên chẳng thi hành lập 
tửclịnh truyền đặng. Cũng trong lúc dó cólinh toán lại 
V(H triền đình nưửc Đại-Nam. Sự ấy không xuôi xả 
đưọ-c, vi phía bén người an-nam chẳng thật tình, từ 
đầu tới đuôi đày tinh đều quỉ quái, kin ỷ và giặm lời 
nói cho lịch sự mả thôi. Như trong lúc giặc giả mà 
khổng tỏ ra sức quân sĩ thẳng trồi hơn cho thật và 
cho mạnh mẻ với người cảnh Bông, thời không có một 
đều chảnh sự nào mà giao ước cho hẳn hòi đặng. Vậy 
thì ít khi cải lẻ được, người ta phải ép minh mả buộc 
hay lả chiu ỷ kẻ mạnh bơn mà chẳng thốt đặng lời gì . 

Sau hết, ngày 23 mars '1860, bỏ Cửa-Hản, quan thủy 
sư trỏ* về Sài-Gòn. Bó là muốn cho cuộc hành binh 
được việc, vi nó lả một đều đại ích rỏ ràng đặng 
nống lòng quàn sĩ. cỏn nơi người an-nam thi lại khác, 
vụ rút binh đi như vậy làm cho sanh ỷ tưởng sái 
lẳm. Sự chúng ta bất lực xem dường như đã chỉ ra cho 
họ thấy rồi, nên họ lấy làm kiêu ngạo về chuyện chúng 
ta bỏ Cữa-Hàn mả đi cũng bầng thẳng trận rạng 
danh hơn hết vậy. 



255 - 


Ta xin lục trong sảch ông đạc đức Louvet một 
lần nữa mả chép ra đoạn. chiếu chỉ của đức vua Tự- 
thic bố cáo về đều ấy. 

Kìa vây quânTây-Di đã đi rồi, chúng nó lả loài độc ác, tham 
lam, mong tòng làro dự mà thỏi, không ý nào khác, một muốn 
giục lọi ô uế mà thỏi;, kìa loài yêu quái đó đi rồi, chủng nó ăn 
thịt ngưòi ta, và lấy da mấy kẽ bị phân thảy mả mặc. Quản ăn 
cưỏ-p dã dỏ- tài lại nhát gan, bị binh sĩ mạnh dạn ta đánh đuồi 
di, quít duỏi chạy trốn nhir chó. 

Bảy giờ, mọi chuyện đều gầy tại chung quanh Sàì- 
Gòn, nêu tưởng có ích mà nói nỏ ỉại. Quan thủy sư Page 
phải đam cho quan thủy sư dềđốcCharner, thống quản 
dạo chiến thuyền tại biền Trung-Quốc, hết thảy binh 
gia khi trưọ-ng nào không cần dùng cho lẳm ; người 
dề lại Sài-Gòn 800 người, trong đó có mấy compagnie 
thuộc về rẻgiment thử tư binh bộ thuộc thủy, có lính 
thửy vứì 200 người tagal. Một đoàn tàu nhỏ kẽ đặng 
hai chiếc corvelte vói bốn chiếc aviso cũng ỏ* lại nửa. 
Quyền cai thành thì phủ cho ông quan năm thủy 
d’Ariès (quản đốc chiếc Primauguel), có ông quan 
năm bộ espagnol Guttierez Palanca phụ lực. 

Chỉnh thật kề từ ngày lấy đồng thành, thời thế cuộc 
không đưọ-c kiên hảo cho thường, mà khi quan thủy 
sư Page đi rồi, nỏ lại trử ra tạm, đôi phen thấy hiềm 
nghèo lẳm. Lúc dề làm nên việc đẵ qua rồi. 

Trựác ta cỏ nói quân nghịch thối lui vài ngàn 
thước và ỉập đồn lủy chắc chắn mà ờ tại Chí-Ilòa. 
Trong mấy ngày đầu thảng avril 1860, ông tôn thất 
Hiệp phải binh giao lản đển đánh tại -đỏ và lấy Bồn- 
Hửu đi,, song khòng lưức tới đặng, vi mẳc nhiều đồ 
. cuộc cảng trả hội hiệp chung quanh mấy đồn khác. 

V Chiều tối binh^phầi thối về, bỏ lại trong Đồn-Tiền 



sảu-ngựửỉ lính thủy tữ trận. Quan an-nam bỏ khồng 
chôn thây chủng nỏ. 

Cũng ông tôn thất Hiệp Dầy truyền đảnh chùa 
Clochetons (Kiềng-Phước tự) trong thảng juin (sau 
ta sẽ nói chuyện đó). Khi người thất trận rồi thi 
quan kinh lược Nguyễn-Tri-Phương mói đến mà 
quản đốc việc binh (1). 

Nhưng vậy công việc phòng ngự cứ tiếp lảm 
không dứt, nên đặng một cuộc xảy đẳp mỏi, vậy 
thây đã dựng lên một trại binh cỏ đồn giữ chung 
quạnh, hỉnh nỏ có góc ngay, đi theo vả hao đường 
Thuận-Kiều. Đồn Chí-Hoà củ thời dùng lảm gốc 
và chồ binh trú trước hết. Guộc xây mỗi ngày thấy 
đi lân một ít lần xuống Sải-Gòn, nó đã nói ra lớn 
đặng chứa cả đạo binh. Có chiêu binh trong xử, 
còn lỉnh tình nguyện tuôn nhau đến trại, nên chẳng 
khỏi bao lâu quan kinh lược Nguyễn-Tri-Phương, • 
lả người đôc suất nghinh chiến củng lả một vi tướng 
quàn lực lương phương pháp hơn sự người tatưỏ*ng, 
đặng một cái đồn lớn mạnh lám vỏri một đạo binh 
chừng một muôn rưỏ-i ngưỏ-i (2) đề mả cự lại với 
chúng ta. , 

Đồn đó là một cuộc xây đầp thường kia bằng 
đất, đặng ba thước năm langsa bề cao và . hai thước 

,<*> Tron S s f h Les premières années de la Cochinchỉne 
của dng p. Vial làm, ta thấy cỏ nói rằng, khi bại tích tại Kiềng. , 
Phước tự rồi, thi ông tỏn thất Hiệp với ỏng Phan-Thọ-Hiền cả 
hai đều bị ông Nguyễn-Tri- Phương xiềng lại. 

(2) Các người làm sách kề khác nhau về số binh nầy. Theo sồ 
tèn gặp trong trại thời (lặng cho tói 2 1 .000 binh thành thuộc, 
không tinh các lính đồn-điền. Song phải nhó' lại rạng đạo 
binh an-nam thưcmg đứng bộ thi nhiều, còn tại hàng ngu thời 
ít lắm. ' 



— 257 — 


bề dày (1); còn trại thi chia ra năm cân, nhờ cỏ Tách 
đất giăng ngang, nên lảm ra năm đồn xảy bít, như 
căn nào mà bỉ người ta lấy rồi, thi binh kéo nhau 
di trong đỏ mả thối, lui đặng. Cách phàn đặt như vậy 
lảm cho thấy rỏ ràng cuộc xây thề nào (hai mương 
khai có xày nền ngay theo đường, khi nới dài nỏ 
ra lần lần thì cỏ đắp vách giăng ngang). Lề đất chung 
quanh đồn có đảo hầm rải rẳc và thả chòng tre. 
Các đường, các chồ nào đi vô đặng trong đồn đều 
cỏ tre gai rào bít. 

ông Palỉu de la Barrière, sau tóì hai ông Boui- 
nais với Paulus đều nói rằng, chốn ải lang ấy quản 
suất mấy đường xuống Mỷ-Tho, lẻn nước Cao-Man 
và ra Huế. Ví như các dường ấy đặng tốt, thi có lẽ 
qhư vậy ; mà còn phải có cầu cho nỏ, song lúc đó 
không có mấy điều như vậy. Đường thật trong khi 
ấy. củng lúc nầy nửa : đi xuống Mỷ-ĩho và lẽn Nam- 
■Vang, thỉ lỏ sòng, không kề tới đám kinh rạch ; còn 
ra Huế, thời' là biền, binh nhà vương thuở trước 
không có theo đàng nào khác, trừ ra trong lúc ngụy 
Khỏi, khi đức vua Min h-Mạng dùng đảng thủy, thì 
người có sai một phần binh đi theo quan lộ đủng 
vào mả thôi. Không, đồn ấy chẳng quản suất sự chi 
hết, nó không cỏ một điều ích lợi nào về phép thau 
lược, song nỏ cỏ một ý chỉ về đồ trận đã quyết định 

(1 )« Nó (nói về vách đồn) có khoét ỉồ châu mai khít nhau, song 
miệng lổn nó thì dề nghịch lại vói lồ chàu mai dồn của ngưòi 
phương Tày làm.»(P. d. 1. B.). Phải định chừng rằng, cuộc dất 
đắp đỏ có rào dải theo hảng bẳn, bằng chẳng thi mấy lồ châu 
mai không hiều dược. Còn về « miêng lón )), ta không biết, ro 
chợ lắm, vì mấy cách xảy dồn theo người phương Tày cùng có 
daỹ miệng.lón ấy vò trong hoặc trò ra ngoài nữa. Phải nói nó 
ỏ 1 phía nàơL Ta tưởng nỏ xàỵ ra ngoài. 



củng minh kiến lẳm. Lả phải đánh đuồi người langsa 
ở tại Sài-Gòn vói Chợ-Lớn đi, bằng chẳng thi 4chièu 
chiến cách ỉàm sao cho may mắng cũng hồi cho quàn 
đưọ-c. Sự binh' có lui đặng và phải thối về như vậy, 
thời là qua phíá Bẳc mà thôi, nghĩa lả hướng Thuận- 
Kiều, Trâng-Bàng. Yã chăDg, tại Thuận-Kiều (cách 
trại binh chừng 5 ngàn thước tây) có nhiều kho lầm 
lớn của đại binh, đỏ là dấu chỉ rỏ hơn hết nơi đường 
binh rút. Bương nầy không băng ngay Biẻn-Hoả đặng, 
vi phải trầy qua hai Sông Sài-Gòn với Bồng-Naì, hay 
là nhẳm thẳng xuống Mỷ-Tho (lược, bởi bị hai Sông 
Vàin-CỎ phải vượt qua. Gặp gỡ thì sự như vậy, nên 
ông Nguỵền-Tri-Phương dạy đào hào đẳp lủỵ cùng 
hành quàn theo cách thế đuồi binh langsa ra khỏi 
chồ đóng, song người làm không nên việc và phải 
chịu đánh thua di, như chúng ta sẻ thấy sau đáy. 

Sự thốn thiếu cho quan tưỏ-ng an-nam, là mấy khằu 
dại bác tốt, và theo lẽ chung, là súng ống tốt. Các 
binh khỉ ấy kiều đã lâu quá một dời. Thí dụ, như 
súng tay đều là cò máy dá (nói tóm chung là bởi thành 
Saint-Etienne mà ra, kiều 1777 và cựu hơn), cũng 
cỏ súng hoa mai nửa. Làn đạn súng cò máỵ đả đi mà 
hại dược, thì là 250 thước langsa, còn súng carabỉne 
kiều 1853, súng lính Hộ' Vệ kiều 1854 và súng tay 
kiều 1857, cả thảy lòng nửa của binh sỉ chúng ta 
dùng, thì làn dạn hại đi 1 .200 thứérc langsa. Ta không 
biết đạo bính sai đi đánh trước hết có súng-xe lòng 
nửa chăng (chớ binh pháo thủ thuộc thủy của quan 
thủy sư Charner đem lại lúc sau, có trí trước Chí-Hoả 
ba vị 4 lòng nứa với bốn vị 12 lòng nứa), và cũng 
khòng rỏ tàu trận có tri nhiều khầu long vặn xa chăng, 
bỏi vì lối năm 1858 cho tới 1800, phần nhiều súng 
ống đại bác trơn lòng của chúng ta đeu đồi ra súng 



— 259 - 


pháo thủ lòng nứa, chẳng những súng xe mà lại súng 
lớn nặng và súng thủy nữa (1). Nhưng vậy, ta xin kề 
ra một ví dụ đặng cho ai nấy bfêu sức hai thứ súng 
đại bác nạp miệng, trơn lòng vói lòng nửa, ra thề 
nào. Sủng lớn củ lòng 8 bẳn. mồi viên đạn đặc nặng 
4 kilogramme, hay lả 8 cân langsa, thì làn nỏ hại xa 
• được 800 thước (trong khi bẳn theo góc lớn hơn hêt, 
nó đi đặng 1.500 thước); súng xe lòng 4 vặn xa, bẳn 
đạn cỏ nạp thuốc, cung nồi 4 kilogramme, thời làn 
hại là 3.200 thước, lại sự nó đi trúng thời cho tỏũ 
lúc ấy không ai biết đặng. 

Còn binh của ông Nguỵen-Tri-Phương, thì họ có 
tỏ mình gan dạ và quả hơn nữa, song đó là những 
người thưòmg mà thòi, ai muốn kèu là linh lệ tự ý, 
chớ không phải thiệt binh ( 1 2 ), lại tệ hơn nữa, là họ 
không tập bẳn chút nào. Đạo binh thuộc, các cơ linh 
đồn điền, mấy người tình nguyện, đều giỏi đồng nhau 
trong sự thông hiều và tri ý vủ nghệ. Vững là sau đồn 
lủy, vi bởi cảm đảm và hưng tâm tăng ố người phương 
Tày; còn khổng sức mà cự lại nơi dồng trống với một 
toán binh nào đã điền tập rồi. 

Nếu như người an-nam tiếp học việc binh mả 
khi trước đã khởi sự dạy, có mấy ông Olivier, Le 
Brun, Barisy củng những ông khác coi sóc, thì chắc 

(1 ) Đã dược một ít lâu rồi dưới thủy có dùng một thứ súng 
lòng nửa. Đỏ là sung dại bác 30 {nghĩa là bắn dạn tròn đặc nồi 
30 càn langsa xưa), ban sư (1849-1858) người ta cỏ sữa nó lại 
làm khiu vặn xa, có bao niền, nạp miệng, nó thành khâu 16 
phần langsa. Boạn nó bị sữa ra làm súng nạp hậu (kiều 1858 — 
1860, kiều 1 864 — 1 866* kiều 1870-1879). 

(2) Ta xin quí hừu nào muốn biết một ít điều rồ hơn vê binh 
- sĩ an-nam, hảy coi pho sách InstitatỉOTis anhamìtes cuốn thứ 

111, khoản thứ XII nói về Binh bộ binh thủy. 



— ỸW — 


7 **]'»' 

, •• *• 

họ lập ra đặng một đạo binh vững vảng; ĩiếa nhơ họ ỵ 
đỏi theo các diều tấn ích về sủng ốDg pháo thủ, về 
sự phòng ngự thảnh đồn, nói chung về binh nghệ, 
thì lần hồi họ sẻ chấn Chĩnh được một cách thế ngăn 
ngừa miền trung châu nam-kỳ trúng lý. Song, muốn 
cho đặng hết thảy mọi việc ấy, thi các quan phải 
bỏ sự làm biếng tự nhiên minh, đừng cho sanh và 
dưởng sự ghen ghét loại khác, ém tánh kiêu căng 
chỏ- đề phầng lên và khẩng chịu cho cảc thầy tây dạy 
việc binh ; phải sang quạ Tây phương má coi công 
cuộc, nên sinh sự không lảnh được, là học đòi chuyện 
đề cho nhơn dản ngoại quốc vãng lai trong xư. Các 
quan khốn nạn ấy không muốn chút chi về những 
chuyện như vậy, nên họ chịu thiệt 

Binh an-nam phải bỏ thành vì bỡi súng ông pháo 
thủ chúng nỏ không còn đối đáp với việc tấn ích thuỏ- - 
ấy; vi bỡi Ỹ bơ thờ ròng theo cảnh Bòng mà ra, 
nên chung quanhthảnh khòngdọn dẹp cho trống trẵi. ... 
Không biết lúc đó binh gia có ít nữa là dông vừa đủ 
mà binh vực vòng thảnh quảng đại ấy chẳng? Có lẻ 
tưởng khỏng chẳc, vi đến sau mới chièu binh đặng 
gln giữ đồn Chí-Hoà mả thôi. Tại Sài-Gòn, người ta 
bắt sững sờ vê sự súng ống chủng ta bẳn xa củng ; • 

trúng, và cách chủng ta đến đánh bạt thiệp. Đó ìâ 
sự bẳt thình linh và sự lấy làm lạ nữa. Bài răn khuyên 
đỏ hay, nên òng Nguyen-Tri-Phương rán dụng nỏ cho 
sanh ích. Nếu như ngưòí thất thủ đồn Chí-Hoà, thi 
lồi ít đồ cho cách ngưò-i phân đặt— nỏ cỏ lế khá hơn 
hết đặng, sau ta sẻ giạch nó ra— hơn là dồ cuộc người ( 
dùng. Tích người đảng lưu tàm, vi nếu người không 
hiều sự thỏng thải thiệt cùng kièu ngạonhưphần nhiều 
trong hàng quan liêu, thi khi ấy người có trương 
ra sự siêng sắng ít gặp nơi các kẻ đồng loại, tỏ trí biết 



— 261 — 


việc binh củng thi thế đương lúc, nó cho người lảm 
mọi sự liên mả không tính toán làu, lại cảng chẳng 
cho chủng ta tấn đặng việc binh trọn mấy tháng, rốt 
chuyện ép chủng .ta giao một trận hao nhiều quân sĩ. 

Song chủng ta hảy trỏ* lại chuyện đạo binh nhỏ 
langsa với espagnol hiệp nhau. Quí hữu đã thấy đạo 
ấy ở vững vàng tại Sài-Gòn với Chọ*-Lớn. Chốn đô 
hội thứ nhứt cho binh có đường thông vỏd cỏi ngoải ; 
chồ thứ hai lại thủ một phần lớn trong vụ buôn bán 
-tại xứ. 

Đây, một Tân nữa, ta phải bao biếm mấy chủ sách 
nào, cỏ khi chép theo nhau, mà đã cần thận nói lại 
rằng ông quan năm cTAriẻs với quân gia ngưòi bị váy 
tại Sải-Gòn. 

Ta xin hài danh kế nhau : 

ông Pallu đe la Barrière nói (trương 29) rằng :« Tại 
Sài-Gòn tốp binh thú langsa với espagnol bị vây lúc 
đó » 

ông L.de Grammont đặt hiệu nhản bải phụ (trương 
272) như vầy: -Sự bị váy tại Sài-Gòn lừ tháng avril 
1859 cho tới thảng Ịévrier 1861 , song người nhìn 
biết (trương 276) rằng, ông quan năm d’Àriès Ktrọn 
lủc ngươi cai quản thì người làm chủ, không ai ngăn 
trở, nơi Sông Sài-Gòn cho tỡi Vũng-Tàu, Sông Lôi-Rạp, 
Sông Bến-Lức vả từ ngọn Sông Sài-Gòn cho tới Gò- 
Vẳp. » Vày gi mà dị vậy, phía sau trống, người ta đặng 
thong thả mà thông với phương ngoại. 

Ong P.Vial viết (trương 83) :«Nó(chĩ về đoàn binh 
thú lại Sàì-Gòn) bị một đạo 12.000 lỉnh an-nam vây 
vả cất chung quanh thảnh một cái trại đồn rộng lớn, 
lại đã nhiều phen đánh thử mà lấy mấy đồn tiền 
chứng ta;, Người langsa phải chịu một lần gẫn sảa 



thảng không đặng tin tức chi ở ngoài. 5 Vậy thòi ai ■ 
muốn giải thỉ giải về sự 111 chiếc, tàu tây với 140 
chiếc thuyền khách tới ] ui trọn năm 1 860, lại chính vi 
òng Via! cung có nói nó nữa (trương 87). Về chuyện v ‘ 
trại đồn, thì 'không cỏ íập nó <ĩ chung quanh thảnh », 
song đối diện với đồn chúng ta tại Sai-Gòn và Chọ-- . .. 
Lợn mà thôi, daucho khi ấy mả không đường đi nữa, 
thi mấy đồn thông với nhau luôn luôn và chẳc ỷ nhờ 
có Rạch Arroyo-Chinois. 

ồng đạc đức Louvet cung cỏ nói rằng : « Toán binh 
ay phai một đạo đặng chừng hai muôn binh an-nam 
Vày chung quanh, làm như một thứ trại đồn kia, 
chúng ta ở trong đó cũng như bị bảt vậy. Bó lả một 
lúc gay trở hết sức cho quân sỉ chúng ta đi đánh giặc.. 

Trong năm 1 860, cỏ một lần người ìangsa chịu cho 
tới năm tháng mà không đặng tin tức chi ơ ‘ngoải.# 

Sự đỏ chi nghĩa gì? Có điều chi sái trong chuyện ấy 

chăng? Các tàu đến tại Sải-Gòn trong năm 1860 đều đi 

buồm, nhứt là tàu thanh khách. Phan nhiều chỗ- hàng 
h ? a c ỉí° T *; un ể-Quô'c, chúng nó đến theo gió chương, ' 
như đã mấy dời, và trở về vỏi gió nồm. Vậy sự hành 
thuyền mà dụng buồm lạc thỉ cần nhiều Túc phải đậu ; 
lạị. Theo lòũ ông Trương-Vỉnh-Kỷ (sách SouvenÌTS 
historiques V. V trương 25) thi noi . rằng : « trên mẻ ■" . 
rạch Chự-Lớn có lập kho trử xày bẳng gạch, kêu là • 
táu khâu, đề cho mấy người khách ben Trung-Quốc • 
mồi nàm đi ghe biền lại mả mướn; họ cất hảng lẻn 

họ bán nÓ lại đÓ tron ể lúc h ? & Sài-Gỏiũ l ' • 
Như binh thú tại Sài-Gòn mả bặt tin ngoài, lả vi quan 
thuỵ sư đe đôc Charner xét không cần kíp mả bắt 
nhón một chiếc tàu hơi nào trong đạo chiến thuyên ' 
minh. dạng đam tin tức cho binh ấy, là vi ông quan 
năm thủy d'Ariès, người cũng vậy, tưởng chảng cần ; 



chi mà sai một chiếc tảu hcri nào của minh qua Singa- 
poưr (Phố-Mới) mà vấn tin. Ví như sự thông với cỏi 
ngoài mà vắng đi, thi chẳng phải bởi quần nghịch, 
vì chúng nỏ không có sức mà ngăn đỏn, song lả tại 
lớp lang tự nhiên việc đời và ỷ muốn các quan cai 
binh langsa đã định như vậy mà thôi. . 

Hai ông Bouinais với Paulus tiếp nối củng một 
cảch (trương 11):« Chúng nó (nói về quản sỉ an-nam) 
bao tốp binh thú chúng ta, cho đến đồi binh n'ẵy ở 
vậy sáu thảng biệt tin cảnh ngoài, và được có hai lần- 
binh tiếp mả thôi, ban đầu một compagnie lính bộ 
thuộc thủy ỏ* bên Quảng-Châu phủ sai qua (đội quân 
nầy đến tại Sài-Gòn trong thang juiỉlet 1860), sau 
; . có một toán 100 lính thủy cầm súng tay ở dưới 
chiếc Wéser (l)độ lên.» Bó là một đều giải nghĩa 
trải khổng ai hiều được. Nếu bỉnh thú dồn đặng có 
« hai lần > binh tiếp mà thôi, sao mả các vị làm sảch 
chẳng kề mấy lần nào khác mà nó không đưực? 
Những lúc nào sai binh tiếp cửư thử mà bat thành? 
. Người ta thất công tra kiếm. Quàn sỉ thủ dồn được 
cỏ hai lần binh tiếp, là vi người ta gỏá cho chúng 
nó có hai lần mà thỏi. - 


(í) «Năm 1861, khi chiếc tàu binh Wéser thấy biết hòn cỏn- 
Nônrồì.thl nỏ bị ngọngió chưÓTig thồibạt tấp vào cồn tại cữa đại 
giang Không mà hư mất.* (sách La Cochinchine en i878). 
Còn theo ông Pallu de la Barrière thì nói mấy lính thủy cầm 
• ” ■ súng tay lại tửi trưửc binh bộ thuộc thủy : 

« Nhưng vậy, thi thế Sài-Gòn lúc đó dẵ khá hon. Trong thảng 
juillet 1860, quan thống binh tại Quảng-Chàu phủ cỏ sai một 
L corapagnie lính bộ qua Sải-Gòn, y theo lòi quan chưồTig thủy 
truyền mà ngưòi dã dăng. Quan quân thú đồn, mói dược thêm 
một trăm lính thủy cầm sủng tay, bởi chiếc wẻ'ser mà dến. Hai 
trăm binh tiếp gần sang tối nữa.D Xét ra thỉ tàu ĨVẻser mất lối 
giữa thảng janvier và avril 1861, vi từ tháng mai cho tỏi novem- 
bre cỏ gi6,:HỒm thồi. 

..v‘' "• 



- m - 



' .V* 
• *’'« 


Ý nói chi raả lạ kỷ vẩy, hề một tốp binh nốơ bị vày , *;ị 

ỉà vỉ bởi quàn nghịch dóng trưó*c, xây íủy đẳp don 
nơi mặt tiền, lại nhờ công việc nó lảm, nên lánh 
khỏi lọ phía^ hâu. Còn một chút nửa thi ngưòi ta 
bẳt tội quân nghịch, sao cỏ binh vực minh! Người 
an-nam có bao binh thú chăng? Khỏng, vi ta mới 
thấy trong tháng avril năm 1860 binh nầy co đánh 
thử mà lấy các đồn Chí-Hòa. Hộ có dón bẳt tàu lang- 
sa vô ra với cỏi ngoài chảng ? Không. Họ cỏ ngăn trơ 
đừng cho quàn sĩ langsa vận lương trong xử chăng ? 
Không, cung chẳng cỏ sự như vậy nữa, Tại về chuyện 
nầy ta phải cho ai nấy rỏ thế cuộc thảnh Chọ*-Lớn có • 
dị cục một chút vả be nhom phằm lạ kì dân sự ở đỏ. 

Đặug quản suất chốn đô hội nầy, chúng ta đã 
thấy chùa Cày-Mai ỏ- trên phía Bẳc Chợ-Lớn, nghĩa lả 
đối diện với dồn binh an-nam, đã bị soán cung trỉ 
súng rồi. Đó là chuyện người ta lảm đặng mà thôi, 
đề thành trống cho mọi người lai vãng được. Binh 
langsa tó*i đó mua vật thực, thi linh an-nam cung 
vậy. Bồ ăn bởi các nơi trong xứ mà đem đến dường 
như không có chuyện chi hết, lại người khách bán cho 
hai phe cũng một cách như bản cho ghe bầu củng cho 
tàu vậy. Đỏ là lúc tốt cho cuộc thương mải , không thuế, ’■ 
khổng, tào cảo, không chi ngăn trỏ*: buôn bản thong 
thả vô hồi. 

Chuyện tốt lắm như vậy thi chắc không đặng lâu 
dài, lại quàn nghịch cỏ làm thử một việc- mà ngừng ■ 
nó di. Không phải chuyộn tốp binh chúng ta vận lương 
làm cho họ lo lẳng nhieu — vi họ biết chẳng ngăn cấm 
đặng ngưò-i an-nam cỏ dạo đem của ăn cho bihh thú, 
họ cung biết bịnh rét, bệnh hạ lợi nhiều, hại nữa -~ 
song bởi chúng ta lấy Chợ-Lớn thi chúng ta củng; 
thủ cuộc, thương mải vói cỏi ngoải. Nên họ. quyết 

lòng dỏ* đường chúng- ta xuống thành vả lấy lạị. chốn : 

đại thương ấỵ đi . 



Trong tháng juin 1860, có khai một cái. hào hai 
bẻn có xây bờ từ góc nam đồn binh mà chạy ngay 
qua Kiềng- Phưỏ‘c tự (chùa Clochetons), gần cữa 
thảnh Chợ-Lớn. Có lập đồn ngánh từ chặng mà giữ 
nó đề làm chồ dàn binh. Nhừ số người của quan 
lảnh binh Thăng cấp ra đông, lại có mấy dám mưa 
đầu mùa làm cho đất mềm nữa, nên hào khai lần 
tới mau ìẳm. Hào ấy có ý đảo đặng chận đàng chùa 
Cảy-Mai, và ép chúng ta bỏ nó với thành Chợ-Lỏ-n . 

Dầu cách nào cũng phải ngăn cản thế thần ấy, vi nó 
phàn rẻ chứng ta tại Sải-Gòn vả cung một khi lảm cho 
binh khí chúng ta ra thất hại lẳm. Ngày mồng 2 
juiỉlet, ông quan năm thủy d’Ariès nhứt định, có khi 
chậm trề một chút, là cho binh soán lấy chùa Kiềng- 
Phưcrcvà miều Thính (pagode desMares) (1), lối giữa 


(1) «Thuỏ- trưó’C miều Thinh cỏ danh tiếng; về sự có các 
. người đi buôn bán ỏ' Mỷ-Tho, khi trỏ- v’ê, ghé Iriệng lại đớ mà 
cúng vải. Cỏ hai cái bàu nước tự, một cái tó'n, một cái nhỏ, 
dôi khi người ta thấy trong đó có một con sấu, nên họ lầy 
tiếng Mares (bàu) mà dặt chođỒnngánh.» (Patlu de la Barrière). 

(í Một cái miều khác, nay cỏ các quan cai lính tập bồn quốc 
choán, nỏ ỏ- trưó'C vòng tường và hai bên có hai cái bàu thả sen, 
dê bay mùi cho thom dàng sứ, nó cũng cất nhằm đòi vua Gia- 
Long, nỏ kéu là Miều-Hôi-Bồng, haỵ là Miều-Thinh.;) (Trưong- 
Vĩnh-Ký). 

Nay miều nầy không còn nữa (dó di lại cỏ một cày cột nho xảy 
bằng gạch có bẳt chỉ và sơn mà thôi), mấy bàu đã lấp rồi, lại, 
ví như ta kề hai vị làm sách ra, là bởi mấy òng ấy nói đủ và 
chỉ quyết miều. Chuyện nầy khỏng phải vỏ ích dau, vì bồn phía 
Bông, cách ch$ mi£u Thinh — ông Pétrus Ký kéu lộn lã Miều- 
Hội-Bồng — đặng chừng 140 thưức langsa, thi 'Cỏ một cải milu 
khác mả nay vách cột hãy còn ; đó là Hiền-Trung tự, hoặc miều 
Céng-Thần,Uay là miều Hội-Bông, là cải trưáeđảy ta dã nói theo 
^;dịp chqyệnchúa tàu Màn-Hoè (Emmanuel). Nhờ có ông quan hai 
w Tính táp J.Ẹọbert giúp, nẻn ta mói Um lại đặng chồ mấy bàu 

ĩ: ■ ' 1« 



đường Sải-Gòn vồ Chợ-Ló-n. Người ta kiẳa bế hai nơi - ‘ • 
phượng tự ấy. liền. ^ Miều Thírite thỉ dề, ữ6 cỏ tường 
gạch bao chung quanh, chính vỉ nó lảm đồ ngăn dở; 
vã chảng miều nầy ở cũng vừa xa hào trống, nên ít mà 
ỉo sợ. Chùa Kiềng-Phước không đầc thế như vậy; nó 
trông trải quá, ỏ’ xa đầu hào lồi bốn trăm thước mà 
thòi. Vừa soán nó, thi người an-nam bỏ hào. Nèn 
mó-i khởi sự dẳp bò* bao xông quanh. Có vài cái mẵ 
lối dỏ giúp một it đất, song chẳng bao làu phải di 
xa xa đặng lấy đất vào bao mả dem về. 

Qua bữa sau, binh an-nam trở lại bán mấy kẻ đẳp 
mò, giết chết hết một tên cùng làm cho vài người 
khác bị thương tích. Khi ấy phải chống trả vả làm 
việc, nên cuộc dẳp ra chạm chạp, nhọc công íại trống 
trải quá (l).Bò* dất chưa rồi đảu là đàu, kế cũng nội 
đèm ấy (mồng 3 rạng ngáy mồng 4 juillet), có chừng 

(ơ trước mieu, phía Đưòng-Trên) và clúnh vì chồ miều nữa' 
nó ở trưó-c nhà các quan binh lúc n‘ây (phía bẳc). 

Miếu Hộì-Bòng thì lú n hơn cái kia, không kl.sự nó dề làm 
dên thờ các quan binh sang trọng, nó lại dụng dàm nơi cho 
các quan nhóm mà còng luận; phía Đồng Mồ-Mả, nó không cỏ 
vach. Mieu Thính dụng làm chố hội Dghị các hương chức trong 
làng, nó có xày vách tưùng với một cải mương chung quanh, 
nèn lãm cho người ta chọn nó đề mà chống cự, Hai miều 
dẻu có cựa ngỏ daỵ ngay Bưòng-Trén, lại, trưíẾ khi di tói . 
mây cữa ấy, thì thấy có dựng trển bò- lộ hai trụ gạch đề' cảu 
chữ này: Khuình cái, hạ mả (cất nón, xuống ngựa)-. 

(1) Ta suy không biết có- nào mà ép làm việc ngoài trống 
vù cớ nào buộc phải kiếm dất nơi xa như liri ông Pallu nỏi. . 
Chăc có một lẻ lả xem ra ngưòi ta không muốn dầó mương; 
song bơi chàng ro địa cuộc các nơi ấy, và chung quanh chùa phải 
kiên bế thề nào, nên khỏng định chừng sự chi cho hẳn hòi đặng. 

Tử bốn mươi lăm nắm nay cảnh địa dì sữa ra khác, chồ chua 
khi trước thi lúc nãy là m)t khoãng đất trống, làm g-ỏc dông- 
. bắc dường Bình-Hoà vói dường An-Đòng. ' 



267 — 



hai ngàn người an-nam bỏ hào, lẳng lặng xơm dến 
vảy chủa r rồi áp vào hảm đánh và la lơn tieng. Nhưng 
vậy khỉ đó người ta đã canh giờ nhặt nhiệm, cỏ mọt 
trăm lính espagnol (thuộc ông quan ba Hernandex 
cai) với sáu mươi lính thủy langsa (có hai òng quan 
hai thủy Narac vồ Gervais quản suất) lảm binh thu, 
kẻ dầu súng mà bẳn binh an-nam, làm cho hộ đưnẻ 
sững lại. Dầu vậy, binh an-nam cũng muốn áp tơi 
đánh nữa, song sức họ dông dảy lại bị trải phá bẩn vở 
tan ; bơi binh thủy có khiêng mấy khằu sung minh 
ra trữớc mặt tiền giao chiêm 
Trọn lúc ấy, súng đại bác an-nam có bẳn mấy chùa 
khác đặng cho chúng ta chia ỷ. Họ có xạ pháo qua 
chùa Kiềng-Phước nữa, nển bẳn giết người nghĩa 
kẻ thù lả như vạy. Cách thủ cự nên cường dảm lẩm, 
còn sư tiên chiến Ihời lả cố tình, vì hai bên cung 
đồng hiều biết dềư trọng 'hệ vụ tranh đấu thề nao. 
Giao công với nhau thâu đèm, cho đến hừng đòng 
mới dứt khi ấy người ta có nghe tiếng ken đạo 
colonne binh tiếp của ỏng quan mim thủy d’Ariẻs 
với ông quan năm bộ Palanca dan chạy tới. Binh án- 
nam mau mau rút về, đề lại nơi chiến trường trót, 
trăm người tử trộn. ° 


Mấ y tiếng súng dại bác củng liều thương bắn thi 
ngoái Sảị-Gòn nghe Dầu ông d'Ariès, dầu ông Palànca 

^fJ!ỉL lầ S^À? ta . mó-i dam ca gàn. Ong 
Via! nói râng, đẹ Sài-Gòn lại cho hai mươi người vớ 

bỗn chục lính đau tại nhả thương canh ẩ có rhn 

Ạ™ ấy 

đi vóâ hết thảy binh khác đưọ*c 150 tìgươi ~ theo 
ông De Grammont thỏi nói chừng 300 (I); Cách đen 


, <í ) ỵẼẾĨ° ch í? h ỵu n6i, thòi số sau t 

tiệm sự ttìằt ho-n. Jps*tt đạo binhthú kề đượ-c 800ị mà t)ết 



— $68 — 


tiếp cửu bạt thiệp, lòng mạnh mẻ qu&n sí Ịàmgsa với .Ệ 
espagnol và sự chúng nỏ can mần, thì làm cho ngtríri 
bon quốc kinh sợ cho đẽn đồi không còn dám tới đánh 
lại nưa. Nhừng vậy, họ tiếp đào đất thêm, đẳp một 
cá ì mô từ hào có cặp bờ mà chạy ngay theo hàng đon 
chúng ta từ Kìềng-Phước dĩ chí Cày-Mai. Ay vậy họ 
soán cả dồng từ Rạch Thị-Nghẻ cho tới khỏi Chợ-Lớn. - 
Chủng ta co một đáng tuần do đối dịch lại với công 
cuộc họ, là đường trên, từ Sài-Gòn cho tỏi Cày-Mai 
di ngang qua miều Thính và Kieng-Phưửc tự. (Ngay 
nào lay thêm Khải-Tường tự — chùa Barbet — mà 
nhập vào cuộc phòng ngự cho đu thì ta truy chưa ra, 
cỏ le chẳc lối tháng janvier 1861) (1). Sau dảy dồn 

ả tại Kiầng- Phước, như ta tinh cho chùa Cảy-Mai cũng có 160 
binh, và cho miều Thinh 140, thì dư lại có 300 người rảnh việc 
VOI 40 bệnh. Không hiều lính thủy tại Kiềng-Phưóc có phải là 
bạn bè dưới doàn tàu chiến mà ra và có tâ chúng nỏ vào số 
800 quản dó chăng. Không biết thật dề lại Sài-Gòn có 20 người 
mạnh mẻ mà thôi sao. Cũng chẳng rỏ lúc đó binh viêndến 
chưa. Chúng ta mang gặp sử chép theo cách truyện bày dặt hoài. 

( 1 ) Hai òng Bouinais vtp-i Paulus nỏi trong sách minh no i trương 
11 rằng : « cac don ấy có tri sủng dại bác lòng nứa 30 vối súng 
bẳn trai phả 80. » Ta xin cho ai nấy ý chỉ d'êu nầy,)à súhg dại 
bác lòng nửa 30, hay là 16 phân b'ê kinh tàm, thi nặng hom ba 
tonne rươi (3.500 kilo), nên rất khó mà cất nó lẻn bở- cùng dem 
di dùng bộ theo dồ cuộc ngưò-i la dụng vó-i dường sả khi ấy. 

Dầu vậy ta cũng chịu cho mấy khẫu ấỵ đã tri dược rồi. Làn 
súng dại bác iòng nứa 30 bắn xa hon hết, theo góc 35 dộ, 
tinh là 6.250 thơơc langsa. Bẳn phá trong bốn giò- thì dủ mà 
làm cho quản nghịch phải bỏ dồn ngảnh, dồn hờ, dồn binh, 
cùng hết thảy mọi sự. 

Súng đại bác lòng nửa 30, đặng năm vị, có dam tri trong 
các chua một it bữa trước khi hảm dánh dồn binh mà thôi (24,25 f . 
íévrier 1861). Ngưòi ta mưọ-n nó dưó-i mấy chiếc tàu lỏm trong 
dạo chiến thuyền mới dam quan thủy sư qua, lại khi người ta 
đem nó mà trí, thi phải ra sức cả mói đặng. - 


» . % 



— 269 -- 


ngánh ấy, cỏ một đường thông hành đi ngay theo, lả 
đàng nước, kề lả Rạch Binh-Dơơng, Sòng Tàn-Binh 
và một phần Rạch Thị-Nghè. Ví dầu binh sỉ an-nam 
thắng số quá đồi củng đặng còng cuộc cả thề như 
vộy, thi cũng phải biết rẳng khi ấy chúng ta đa 
choán đưọ-cmột mặt tiền, cỏ ngỏ thòng mau và dề, 
làm cho việc chống cự ra nhặm lẹ, nên nỏ bồi bo có 
dư về hàng đồn ngăn ngừa chúng ta dài quá mà sổ 
binh không bao nhiêu, lạỉ cho đoàn tản. nhô cỏ thế 
mà dự vô cuộc hành binh khi cỏ việc cần. 

Phía Rạch Thị-Nghè cũng vạy, binh an-nam không 
ử nhưng, họ xày đồn, dẩp Iủỵ vừa làn súng dảỵ dồn 
chúng ta, nên có thê' mà ngán trở đặng nhiều dềư. 
Ong quan năm d’Ariè$ di thâm thính các dồ cuộc 
ấy. Ngày ,16 octobre 1860, người lèn RạchThị-Nghẻ 

với hai chỉếc ghe nhẹ, cho tứi dồn có rảo đề giưCầu- 
Bông. Lúc đi lên, trên bừcó bắn nhiều phát súng, song 
không ai bị đạn. Khi trở về, chẳng dược may như 
vậy, ông quan hai thủy Harmand phải một viẻn chạn 
thâu qua bắp vế, cùng một ít người bị thưcrng. Về 
phần khác, ông quan hai thủy Rieunier cỏ lấy hoạ 
đồ và dò đường nước ấy cho tới khi có súng dại 

Còn mạy khẫu bắn trái phá 80 (đỏ là súng đại bác bẳn trái 
phá 22 phân kiều í 840) — mà đã trí một lược vó i sủng đại bác 
lòng nứa 30 — thỉ sức nó đi xa hơn hết, theo góc 35 độ 10 phàn, 
đưọ-c có 2.470 thước, còn sự bắn đạn đi chỉnh thòi tỏ i 1 .500 
thưỏ-c mả thỏi. Tèn gọi « súng bắn trái phá 80 » là bỡi viên 
đạn, giả như nó dăc, nặng chừng 80 cản langsa (trái phả bỏng 
nồi 25 kilogr. 86, còn có nạp thuốc 28 kilogr. 06); vả chăng 
ngưòd ta vội bỏ tén ấy dăng kéu theo lòng nó dộ dăng la 
mấy phân langsa. Khẫu súng dó cỏ bao niền và tiện ra lòng nứa 
Ịả trong Dăm 1864 mà thôi. Khi dồi ra khác như vậy, thì nó bắn 
4 . môt ,yíêa,!ịạn nòi 80 kilogramme (làn iị xa hơn hết là 4.775 

ỉẵsẵ ?' ỳ -thước, đ# íýởi góc 40 độ). 

ỈIS&- ĩ'* 'V* ' . • 



bảc trong đồn hẳn ; một it làu sau, người tà dùiig '!•: 
công việc quan ấy mả làm nhiều sự. 

Lúc cuối tháng dẻcembre, khi ông quan ba Barbet  / - 
di tuần, bị qứân hành thích bồn quốc (1) giết chết. 

Là vì thủ cấp người langsa có ra giá rồi, nên sự xui 
giục mấy kẻ hung dồ không phải vò ỉch đàu. Cảch I . 
thế mọi rợ như vậy làm cho quản sĩ giao hữu ra:' 
hưng tàm, quyết chí hơn nữa, song nó cung đẵ hại • 
hết ba bốn mạng. ■ • 

Muốn cho đặng trẳ thủ về sự giết ông quan ba 
Barbet, thỉ qua ngày mồng một janvier 1861, ông l ; ^ 
quan nàm d'Ariès dần binh đi thám cho tửi hàng đồn 4 
an-nam mà đảnh. Người đuồi các phần hờ thụt lại, : ... 
rồi người có lia ra khỏi chồ đó là sau khi ép quân:' 
nghịch bủa cả đạo binh minh ra và làm cho hao hể.l 
nhiều. Đó là việc vỏ công lần sau hết của ông d'Ariès, 
cai binh. Cung lối cuối tháng janvier nây, cỏ quan* 
thủy sư Charner lại Sải-Gòn với ba ngàn lính cùng 
một đạo chiến thuyền đông. 

( 1 ) « Chùa Barbet (Khải-Tường tự) đặt theo tẻn ÔDg quan ba 's 
binh bộ thuộc thủy cai nỏ mà đã bị thích khách cùng trảm thủ ... • 
tại khúc quanh thứ nhứt noi đường đi ra miầu Thính. Một buoi 
chiều kia người ngồi ngựa mà đi tuân theo thường lề. Mấy 
kẻ sát nhon rình người, núp trong bụi cày, nay người ta có chỉ chồ 
ấy cho nhửng kễ nào di ngang qua dó. ỏng Barbet bị dâm nhiễu 
mủi giảo, vừa mấy mủi đầu thi quan ấy dà té xu ổng ngựa. Ngưỏu 
an-nam liền chặt lấy dầu, rồi chạy vô trong mấy lùm cày và ; 

cỏ cao mà về cựu đồn Chí-Hoà. Tảng sáng bửa sau, người ta V" 

gặp mình quan ấy kéo dề trèn bò' lộ; còn con ngựa, bị vít, 
đứng một bèn, không day động chút nào. Ngtrtri ta thuật lại 
rằng, khi thủ cấp ông quan ba đề dựa • bẻn khay trầu quan 
tưỏ-ng an -nam, thi ban sơ ông ấy làm thinh mà dếm tiền thưởng, 
đoạn ngưòi có thở than một lòi thưoưg tiếc, ông quan ba 
Barbet là một người phốp pháp, dỏng lực lắm, hết thảy các 
người an-nam dều biết người.)) (Pallu de la Barrière). 



Các chuyện gần cải ra khác, Song trước khi nói 
về cuộc hành quân mốũ nầy, cung nên ngưng lại một 
dây mà kề ra còng việc hộ của ông quan nàm thủy 
I d’Ariès làm. Chẳng những người là một quan vỏ cang 
. víâm, cần quyền, mà lại một đấng qui chế, cai trị có 
lỊanh. Trong mấy lúc quàn nghịch đề cho người 
,• lảnh, lại khổng kề tới các còng việc phòng thủ, thấy 

• ẳgười có dạy khai xòng quanh Sài-Gòn các đường 

hết, lập ra một sỏ* nhà thương, mả sau mấy 

• ‘^ămnỏhảy còn xem dường như một cái trong các cuộc 
_ . '|áng tạo quí lịch hơn hết noi thành phố, ngưòù có 

ặạy vẻ họa đồ chốn nầy, dạy thảm thinh cho tới cữa 
tyành.Biên-Hòa. Nhờ có một ít người bồn quốc giúp, 

■ ^ặtần nhiều là nhưng người bẳc-kỷ có đạo vào tị nạn, 
$ỉng cỏ các thầy giảng phụ lực nữa, nên ông quan 
lỊẳm ớ’Ariẻs khởi học thề lệ an-nam, chuyện ấy cho 
có thế mà lập ra mấy diều chánh về việc cai 
trị địa hạt thường, ít tốn phí mà lại đặng àn cần 
■Ạ -đắc sự. Bơi người lo lẳng, nên lập ra đặng một Sở hộ 
tại. Sài-Gòn, một sỏ* khác tại Chợ-Lớn ; mấy kho thuộc 
ỉ thỏy đều khai tạo, vả hối hả cất các xưởng cho tàu. 

Về chuyện khác, ỏng quan năm thủy d’Ariès cỏ thù 
tạc với các thầy giảng chúng ta, lại nhờ mấy ông ấy 
trao lời, nên thòng ý với nhơn dàn cỏ đạo trong cả 
I’am-Kỷ. Bởi dó, người mới biết các chuỵộn trong 
xứ và nhứt là ý quân nghịch chúng ta muốn di gi. 
Vì vậỵ, khi quan thủy sư Charner đến, ông d’Ariès 
giao đặng lại cho người một chốn cơ nghiệp đồ sộ, ỏ- 
đó các sở cần kíp làm việc luôn luôn, ở đó sẳn sàng 
mọi điềứđề mả mở mang theo thường lệ. 



— m — 

SAI BINH ĐÁNH NAM-KỲ 

NĂM 1861 



Tờ giao hòa với Trung-Quốc (lẫ ki tên xong nhằm ; 
ngày 25 octobre 1860. Tàu hải và một phần Ị3Ình trở / 
rạ rảnh, nên người ta có thể lo làm một ít việc phấn j 
chấn tại Nam-kỷ đặng sau cho chắc ỷ về sự cai tri bấy í 
làu cam khồ tranh gianh, mà vốn hãy còn đom sơ lỉm. / 
Quan thủy sư dề đốc Charner đặng đửc hoàng dế ■■ 
chọn làm thống lảnh cuộc sai binh mới, nên người / 
liền lo sẳm sữa đoàn thuyền chiến và đạo binh đề ! ' 
về việc võ công nơi miền trung chàu nam-kỳ. : / 
Tại Bửu-Sơn — là hải môn nơi vàm sông đi vô. 
Thượng-Hẳi cùng đồ ra cữaDương-Từ Giang (sòng 
Bửu-Sơn kề từ vàm sòng cho tới Thưựng-Hải, còn; 
Huang-Hò thì ở phỉa trên)— là chồ các tàu trong đạo' 
hội lại, quan thủy sư tỉến đó nhâm mồng 10 décembre., 
Khi ấy cũng có quan tướng Cousin-Montauban tại 
Thượng-Hảĩ nữa với hai ngàn binhlangsa. Hai tướng 
còng luận với nhau mà lập dạo binh đi đánh, nên các 
diều riêng sau hết có phàn định, ông Pallu de la ị 
Ba r ri ẻ re nói cúc chuyện thuạn tình dấ lập như vầy: 

Qoan dề dốc binh bộ De Vassoigne tùng quan thủy sư thống 
lảnh, mà cai dạo binh sai di đảnh. Lính chasseur bộ, linh chas- 
seur kị (TAỊrique, binh pháo thủ, linh bị, cuộc quản dốc, xuất 
ra được 85 ỏng quan, 1303 lính cùng 272 con ngựa vứilừa(i). 



Quan 

Linh 

Ngựa 

(1) Chasseur bộ (2c Cataillon). 

..39 

709 

22 

Chasseur kị d’Afrique 

.. 3 

29 

31 

Pháo thủ 

. .15 

316 

184 

Thủ bi 

.. 4 

77 

13 

Cuộc quản đốc binh lưong... 

..24 

172 

22 

Hiệp cọng, . . 

, . . 85 

1303 

272 



Các hòn Chu-Sơn (trưóc hải khẫu Ninh-Ba) sẻ rút binh. Đoàn binh 
bộ thuộc thủy giữ nó dền qui tại Hương-Cảng. Còn binh bộ thuộc 
thủy mà dã dề cho quan thủy sư cai theo lởi tường ưửc dịnh tại 
Bại-CỎ, phải cấp ra một phần là 800 người cho dạo binh di đánh. 
Muốn cho đặng chắc ý về những chuyện phản bủa quân sĩ và 
sự thi hành các điều binh luật trong chư sợ, thi sẽ cho raột quan 
thara tán riéng (i) dự vô đạo binh sai di đánh. Các sử lo vụ đóng 
trại, dưởng bịnh, lương từ dều có mấy ngưò-i thơ toán bịnh bộ 
xem sóc, cả thảy phải tùng quan phó hay cuộc quản dốc binh 
lương. Sở ngân khố và ty cung trạm thòi khai tạo tại Sàí-Gòn 
một cách cho cỏ luôn. Ngưòi giúp việc dã lập ra tạiSingapour 
(Phố-Mói)sễ dặng quyền thâu cdc thơ bên phương Tây gởi qua 
NariT-Kỳ. 

Vậy dạo binh sai đi đánh Nam-Kỷ dã tu thành. Đoàn lính thủy 
lẻn bò-, mà da lập xong các ngạch, tinh đặng trót ngàn người, với 
một phân binh thủ tại Sài-Gòn không Cẻ vô chuyên dã nói trước, 
thì làm cho số dạo binh nhỏ Nam-Kỳ đặng hom 4.000 người. 

Cỏ cho phụ vào cuộc hành quản một đoàn sáu 
trăm người coolie khách của ông quan năm thủy 
Coụpvent-Desbois, lồng lảnh binh gia tại Quảng- 
Chàu phủ, đã mộ và lập thành. 

Phần lính espagnol 5‘ tại Sài-Gòn lúc đó tính đưọc 
330 người về binh bộ. Quan thủy sư dề đốc Charner cỏ 
xin tướng quân ở chòm củ-lao Philippines cho binh 
thêm mà không được. Quan thủy sư xin một dạo 
binh tiếp kề là 150 quản mã kị, 400 lính bộ với 300 linh 
thủy tagal. Đạo nầỵ không có gửi qua. 

Quyền quản suất quàn sỉ phàn ra như vay : 

Quan thủy sư đề dốc Charner, thống lảnh cuộc hành binh và 
cai các tàu tại cảnh Đông. 

Quan đề dốc binh bộ de Vassoigne, ửng lảnh binh hộ. 

òng quan năm thủy d’Ariès, quản suất binh gia tại Sải-Gòn. 

Ị I ) Bỏ Ịả ông quan tư De Cools tại bộ thuộc dinh, ông quan 
 bạ Haillot tại bộ thuộc dinh làm phó. Trén hai quan Dầy có một 
quan đại tham tán, là ỏng quan năm thuy Deladébat. 



— 274 — 


Ông quan năm bộ Guttierez Palanca, cai phần binh espagnol 
cùng khàm sai Bức vua có đạo. 

Õng quan năm thuy LaHon de Ladébat, lảnh làm đại tbam 
tán. 

Ổng quan tư dở.Cools, tham tán binh bộ. 

Ong phó quan năm Crouzat, cai binh pháo thủ. 

Ông quan tư thủ bị Allizẻ de Matignicourt, cai binh bị. 

Về đạo thủy, thỉ ta khỏng biết cho đủ. Ta xin lục 
trong sách òng Pallu tèn các tàu ra nhir sau nầy mà 
đã có tại hay là đến tại xứ Nam-Kỷ lối năm 1861. 

Í ỉmpéralrìce-Eugẻnie (nêu cờ quan 
thủy sư dề đốc Charner) *• 

 Renommée (nêu cờ quan thủy sư Page) 
Ị Duchayỉa 

Chiếc corvette ...ị „ , 

Ị Prĩmauguet 

l Morxge 

f Forbin 
Prégent 
Aỉom-Prah 

Ỉ Norzagaray 

^ cho 

Déroulède 

Hong-Kong 

Lily 

Kien-Chan 
 Sham~Rock 

r Dragorme 
s Alarme 

Chiếc canonnière . .<1 Avalanche 
j Fusée 
 Mitrailỉe 

Chiếc canonniàre bằng sắt số 12, 13, 15, 16, 18, 19, 22, 
24, 25,. 27, 29, 30 với 31. 


% 



— 275 — 


Chiếc ĩrégate 
vận 


Européen 

ĩapon 

Wéser (chim trong năm 1860) 
Entreprenante 
Dryade 
Calvados 
Garonne 
, Jura 
hải / Rhône 
Ị Dordogne 
ị Durance 


Gironde 


Loỉre 

Marne (đi làm khữ vỏi trại thọ-) 
Saône 
Nièure 

ị Rhìn (đễ ngữ) 

Tàn nhà thưo-ng . . . Duperré 

Andromaque (trí theo tàu ílùte) 
Didon 

) Forie (tri theo tàu ílùte) 

] Persévérante (đê ngư) 
Vengeance (trí theo tàu ílủte) 
Némésis 


Chiếc lorchas (1) 


Amphitrite 

Espérance 

Jajareo 

Saint-Joseph 

Mirage 


Ta tiếc khòng dính đặng thứ tâu nào cho thường, 
còn ông Pallu de la Barrière lại kề tên mả thôi, người 
chẳng phân biệt loại, cung không nói nỏ có phải lả 

(1) Các tán lorchas lã mấy chiếc thuộc dạo tiễu thuyền, gốc 
của ngưòi porlugais bày ra, vi cân phải ngằn ngửa nhiều ngọn 
sông rạch, nên nhập nỏ vô dạo thủy. Nó có trí một khẫu sung 
lốm lòng và nêu cờ duỗi vược bỗn quốc. í (Palln). 



— 276 — 


tàu hơi chăng. Chác câc tàu nầy chạy buồm, song phần 
nhiều có máy, nên đáng mà chỉ nó ra. ìthi đỏ nhằm 
lúc đạo thủy chúng ta cải ra khác, vi đã dùng hơi nước 
mà thế chogiỏ,'sẳt cho cây. Nếu tin tức ta đã đặng mà 
thiột quả như vậy, thi tàu vaisseau chót của chúng ta 
mà chạy buồm, lả chiếc Navarin lớn SDU hết trong 
dạo thủy bằng cây, dóng trong lúc giặc Crimée. 

Người ta gần dụng cả binh gia tàu thuyền dó 
mà tranh chiến lại. Ngày mồng 7 íẻvrier, chiếc 
Ỉmpératrice-Eugénie , chở quan thống lảnh, đến 
dậu tại Sải-Gòn. Cũng nội ngảv ấy, quan chưởng thỏỵ 
lo sắp đặt các điều cần kíp dụng lập thành cơ dội. 
Quan chưởng V£ri các quan cai binh bị củng pháo 
thủ có di do địa cuộc Đồng Mô-Mả và cỏ xem xét 
đường ngàn ngừa theo các Chùa, xong rồi mới 
nhứt dịnh đồ trận tiên chiến. Nói tóm một đều, lả 
dam súng lớn mà trí tại đường đổ dụng làm cho quản 
sỉ on-nam ở trước mặt tiền, gìn giữ các đàng nước 
baohàmlưởng dựcbinh ấy cũng như hai bèn chúng ta 
vậy, rồi dùng đại binh mả đánh phía hậu đồn an-nam. 

Vì ý ấy, nên các tàu trong dạo thủy có đem một 
phần súng ống dại bác minh lên chùa. Nội trong bẵỵ 
ngày thời các bàn sủng đều đỏng xong vả dam các' 
khầÍi lên bờ, thật cam go hết sức, mà trí có dảy củng 
dự phòng cho mỗi vị là một tràm phát. Chùa Khăi- 
Tường dạng ba khẫu bẳn trái phá lòng 22 phân(l) 
vơi hai chơn ngựa cày đề phóng hoả phì dông 125 

(1) ỏng Pallu nói trọng sách ngưòi chồ nào chồ nấy cũng là 
súng trái phá 80, đó lả tên kêu đã quá thì, không theo tẻn 
nhả mró c đùng chút nào trong đời ngurìri; muốn kôu cho chính 
tiếng và nhứt là cho thiên hạ hiều, thì người phải nói nó lả 
sủng đại bác trái phả 22 phán. 




ly langsa(i), chỏa Kiềng-Phưởc thêm bốn vị 30 lòng 
nửa ; chùa Cày-Mai đirợc một vị 30 lòng nứavỡimột 
khảu bẳn trải phả lòng 22 phản. Mấy vị ấy có đủ 
cảc lính pháo thủ ở dưới tàu theo. 

Ngày 16 ỉềvrièr, quan thủy sơ đề đốc Charner bỏ 
chiếc Impẻratrice-Eugénie mà láp viên môn người 
trong tân dồn. Quyền cai các tàu đậu dài trước Sải- 
Gòn bèn giao lại cho òng quan năm thủy De Surville. 
Ong phá quan năm bộ Crouzat có dần binh gia 
khi trượng đi thâm thính lan thứ nhứt, nên người 
cho biết chắc rằng súng ống pháo thủ dầy qua đông 
ở phía Tày-Bảc chùa Càỵ-Mai đặng, lại binh kéo qua 
trước mấy đồn an-nam cách chừng hai ngàn thước 
dược, nghĩa là ngoài làn súng đại bác quàn nghịch 
và trong làn súng xe lòng nứa. Có sai một tốp binh 
thủ bỊ vỏi một compagnie linh thủy thuộc chiếc 
Impératrice-Eugẻnỉe đến mả ban dường cho bằng, 
chung nỏ phải binh an-nam bắn cũng nhiều, song họ 
nhắm sịa, nên khòng nhằm ai hết. Khi nói lược qua 
chuyện nầv, ta xin ai nấy ỷ chỉ râng, cả và Bồng Mô- 
Mả, trừ ra một it cái ao không va chi mà thôi, thì 
đất cứng và xa nước, dầu cho trong lúc mưa cung 
vậy — nen có lế lảm cho người ta chọn nó lâm cho thồ 
mộ. Trọn mùa nắng, khẳp nơi đất trỏ* ra quánh 
cứng .như hồ đá vậy. Chẳng phải cuộc đất đó gầy 
nên điều trẳc trở cho binh hay là cho xe dầy đi, song 

(i) Hoả phi đòng là một cày pháo kia đễ dùng mà làm súng 
vối dạn một lưọ-c. Nỏ cũng làm theo mấy cách như pháo thăng 
thién dễ ra hiệu lệnh. Sức binh khi ấy di xa (cho tỏi 6.000 thước 
langsa) vỏ-i tiếngnókêubắt kinh hải khi nỏ di trên không, thi làm 
cho nỏ trỗ* nén cuộc học hành và lãm thữ trong một lúc vừalầucho 
ra tuyệt hảo . Rủi thay, sự Ưnh toán cho biết dường hoả phi dong 
đĩ thi không ra diều nào đặng phỉ lỏng,, lại thôm chuyện nỏ làm 
cho sy nhiều hơn lít hại nhơn vật, nèn ngưòì ta bò dứt nỏ đi . 



— 278 — 

-e 5 

thiệt lả tại vò số mẵ mồ, mô nấm, gò sủng đồng 
ấy dã mấy đòi đảo bươi trộn trạo dủ hướng mả ra. 

Muốn cho truyện tiếp sau đày dược dề hiều hơn, 
bởi sách lược sử nầy không cỏ bản đồ, vi chẳng 
xứng mà dem nó vào, nên ta xin dón kề ra đày cách 
sáp dặt cảc cuộc xày đầp của người an-nam, mả dã 
kèu không có lý cho ỉẳm, là hàng đồn Chí-Hòa. Song 
trước hết hữu ích cho ta đặng chỉ sơ địa đồ các chề. 

Dường từ Sài-Gòn mà lền Cao-Man thời chạy gần 
ngay thẳng khỏi đồn Chí-Hòa (lập trước các đồn 
khảc) xa chừng một ngán thước langsa; nó đi theo 
hướng Đông-Nam — Tàỵ-Bắc. Khối dồn rồi, 1 ÌÓ quanh 
một khúc lớn vả di gần ngay theo hưởng bắc cho 
tới lối làng Thuận-Riều, ơ đó nó tách ra làm hai, 
ngã đông-bắc lẻn Hóc-Mỏn, ngã tây-bẳc đi qua đồn 
Thuàn-Kiều. Bồn nầy như băng ngay thỉ xa cựu đồn 
Chí-Hòa chừng năm ngàn thước. Phần khác, Đường- 
Trẻn từ Sài-Gòn mà vò Chợ-Lởn thì lối miều Thỉnh 
có cong qua phía đỏng-nam, nó đi theo hưởng chung 
là Đòng-Bẳc — Tày-Nam. Ngay theo đường ấy và lấy 
mực xa cách trung bình chừng một ngàn thước qua 
hướng nam thì cỏ Hạch Àrroyo-Chinois chảy. 

Trén phía Bẳc đường Sài-Gòn lên Chí-Hòa, thấy 
cỏ Rạch Avalanche đi theo hướng chung táy-đông. 
Chồ củng nó ở xa cựu đồn Cbi-Hoà chừng 4 ngàn 
thước bên phía đòng vả cách dường ưó*c đặng một 
ngàn thưó-c, rồi nỏ dang xa đường ấy lần lần. Chung 
quanh chỗ cúng nỏ vả hai bèn bờ rạch thi ao vủng có 
cũng nhiều. Trèn phía Bòng-Bẳc hơn có sông Sài-Gòn 
chảy theo hướng chung Tây-Bắc — Bong-Nam và ở 
xa đưÒTig từ bảy cho tỏi mười ngàn thước; phía Tày 
cỏ một đường nước chạy ngay theo, lả Rạch Ba- 
Hàng (ông Pallu de la Barrière kẻu là rạch Gỏ-Vẳp), 



- 279 


một dầu nó đồ ra Sòng Sải-Gòn (hirớng Đông-Nam), 
đầu kia ăn với Rạch Tra (hướng Tày-Bẳc), rạch nầy 
cũng lá ngọn Sòng Sài-Gòn, nó ở hướng Tày mà chạy 
ngay đến, đi ngang qua đường, xa Ohí-Hoà chừng 
mươi lăm ngàn thước. 

Phía tây-nam đường Sài-Gòn lên Chỉ-Hoà có Đồng 
Mồ-Mả ăn đụng cho tới mấy chùa miễu. Bên hưómg 
Tày-Namvà cách đường chừng năm cho tới sáu ngàn 
thước, thì chinh vi đồng ấy cỏ nhi êu cụm rừng, ruộng 
lúa, VỚI đưò-ng nước nhỏ ngăn nỏ ỉạí, trong đảm liều đà 
đó có Rạch Lò-Gốm, sau lại, xa hơn nữa, cỏ Rạch 
Bà-Hom ăn với Rạch Cát, rồi thòng với Rạch Arroyo- 
Chinois bên hướng Ròng, còn với Rạch Cần-Giuộc 
dưới hưỏ-ng Nam. 

Về cuộc xây đẳp dề chống cự, kề là một cải dồn 
binh hình có góc ngay, chửng ba ngàn thước bề 
trưò-ng, một ngàn thước b'ê hoành, phân ra làm nấm 
khoản lớn nhỏ khòng dồng. Bướng Sài-Gỏnthời chạy 
thâu qua bề dài nó. Khoản ở hướng Tày-Bẳc hơn 
hết có một ít cuộc dảp phía trong với một cái đon xày 
chẳc lắm lối chinh giữa mặt tàỵ-bẳc; nó bẳn giữ 
đường ở Binh-Hòa (Gia-Bịnh) màdến với Lăng Đừc- 
Cha. Đó là phần chẳcchẳn hơn hết trong trại cùng 
là chồ kiên bế hơn hết trong cả và dồn. Mặt đòng- 
nam hình giống như cái kềm bởi nỏ có ba cái bảo 
nhỏ (ở chính giữa và hai đầu); góc đông mút có một 
ít cái lủy giăng thẳng cho tới chồ củng Rạch Avalan- 
che vả dài theo dường nước ấy. Cách chừng một 
ngàn thước trước mặt đòng-nam nầý và tại dường, 
thi cỏ một ít cái lũy củng trí mấy hàng súng ; từ 
mut góc nam có một cái hào hai bên có bờ khai 
thẳng qua Kiềng-Phước tự, và tại đường nới dải từ 
£ửc ấy fliả qua hướng Tây-Nam, thấy cỏ trí một dáỵ 



súng. Sau hết, lối khúc giữa hào có cặp b& đó thấy 
đào một cái mương qua hướng lảy, dài đặng ba ngàn 
thưởc, mút hảo cỏ lập một cải đồn ngáiìb, người langsa 
thuở ấy kêu lả «Redoute», chỉnh vì nó lại ỏ- cách 
hai ngàn thước trên hướng Tày-Bẳc chùa Cây-Mai. 

Hào có hai bờ vởi đảng mưo-ng cứ mồi ngàn thưộ-c 
cỏ dồn nhỏ giữ hay lủ phần hờ. 

Ngày 19 ĩévrier, tại chùa Khải-Tường có phóng 
vỏ trại an-nam 20 hoả phi đồng thuộc thủy 125 ly với 
32 hoả phi đồng 9 phàn của pháo thủ bộ đặng làm cho 
«nó kinh khiếp ». Bề xa từ chùa Khải-Tường đó cho 
tới trại quàn độ chừng năm ngán thước langsa. 

Cung trong lúc ấy, người ta có lo cách thế cho được 
chẳc ý về các đàng nước' cùng canh giữ nó. Quan 
thủy sư Page đặng lịnh dạy người đi lẻn cho tới Thủ- 
Dầu-Một,lại ví như người định là phải lẻ, thì lên xa hơn 
nữa, với mấy chiểc Renommẻe, Forbin, Monge, 
Aưalanche, Sham-Rock , Liỉy và chiếc canonniẻre 
số 31, tàu nầy có chạy vô Rạch Bá-Hàng. 

Chiếc canonnière so 18 với chiếc lorcha Espẻrance 
phải dì vô rạch Avalanche mà phá Cầu-Bông đi. 

Chiếc canonniẻre số 16 và chiếc lorcha Jajaréo 
vào đậu trong Rạch Ầrroyo-Chinois. 

Chiếc canonnière số 27 với chiếc 'lorcha Saỉnt- 
Joseph đầ có chở tốp lính chasseur bộ nhập thêm 
với bạn tảu, đi vỏng qua Lôi-Rạp và rạch Cần-Giuộc 
dặng ngử tại ngã ba Rạch Cát vứi Rạch Bà-Hom. Các 
tin tức chiếc canonnière nầy thông với dinh quan 
tưởng, thi có chiếc canonnière số 16 (khi có nước 
lớn tàu nầỵ đi qua chồ giáp nước đặng) vóỉ chùa 
Cảỵ-Mai bảo lảnh. ■ 



— 281 — 


HĂM LẢY ĐON CHÍ-HÒA 


Cảc việc đã sắp 'đặt an bải, quan thống lảnh bèn 
ra lệnh, rạng ngày 24 février, thì áp đảnh đồn ngánh 
bên phía Tảy, là cái ngăn giữ hảng đồn chót của 
ngưỏ-i an-nam lập trước chùa Cây-Mai. 

Trỏ-i chưa sáng, quân gia đà kéo đi Đường-Trèn; 
binh pháo thủ có đóng đêm đỏ tại đồn Cây-Mai ; no 
/ * đặng bốn khẳu đại bác 12 lỏng nứa, ba khau 4 lòng 

nứa, sáu khẫu quá sơn bẳn trải phá vởi hỏa phi đồng! 
Bitih bộ kề là linh chasseur bộ, lính espagnol, lỉnh bộ 
thuộc thủy cùng đạo thủy thủ thượng ngạn. Còn binh 
bị vó*i đội linh thủy abordeur (cỏ ong Pallu de la 
Barrière cai, là quan ba thủy tại bộ thuộc dinh dưổ’i 
tàu Impẻratrice-Eugénie), đều nhập vô đạo colonne, 
chủng nỏ có đem thang cùng khí trượng minh theo 
nữa. Cỏ lập ra một đoàn kiên khiêu, nhử có 600 người 
coolie thanh khách với lUOcon thú đề chuyên chở. 

Quan thủy sư Cbarner với quan tưởng De Vassoi- 
gne ở tại đưòmg lên đồn Cảy-Mai, pó linh kị chasseur 
hộ vệ. Qua năm giờ rưởi sáng, bình kéo ra đồng. Vừa 
mưng đông các chua Khâi-Tường, Kiềng- 
Phước với Cây-Mai đều bẳn, súng lớn an-nam có đoi 
xạ lại theo sức mình. Khi đạo pháo thủ đến gần đồn 
ngánh cách chừng một ngàn thước, thỉ nỏ dan sưng 
đại bác ra cùng khởi sự bẳn. «Dâu cho dảỵ đồn an- 
nam mắc phẳi súng ống nhỏ làm cho nỏ kém sút xa, thi 
cQng thấy nỏ bao khói mỊch mù và nồ lực chống cự 
hơn nữa. Súng bần liên thinh, song 'Chĩnh thật là 
, chiến chinh giùm cho nghịch tặc mả thòi.»(p. d. í. B.) 
SKv! Nhưng vậy binh pháo thủ đã xơm gần cho tới năm 
ỆỆịtì- trặm tbơởc, lại khỉ binh bộ vừa nhạn xong tại hàng 



— m — 





giao chiến mới, thì nó phán ra lảm hai đạo colonne ; : 
đề hảm đồn. Dạo hữu kẻ lả lính chasseur bộ, binh 
bộ espagnol, binh bộ thuộc thủy, nó có ông quan tư 
thủ bị Alỉizể dé Matignicourt cai; đạo tẵ cỏ binh 
thủy lèn bờ thuộc ông phó quan năm thủy Desvaux 
quản suất, nó cỏ ông quan ba thủ bị Gallimard dốc 
chiến. 

Gần như vậy, thì súng đại bảc an-nam với súng 
tay trôn bờ lủy mới làm cho biết sức nỏ hại thề nào. 

Vừa đặng một hồi, có vải tèn pháo thủ với một it 
con ngựa bị đạn ; quan tướng De Vassoigne, ông quan 
năm Palancà, ỏng quan một thủy Lesèble, thầy quẳíi 
(capitaỉne (1’armes) Jolv thuộc tàu Impératrice- 
Eugénie đều bị thương nặng. Vậy chính vì quan 
thủy sư Charner mới ra cầm binh, người lại hiều rằng, . 

khi đẵ chường diện cho súng bẳn, thi thà xốc đến 
hơn là đứng một chồ, người dạy đề bao tấu xuống 
đất cùng ra hiệu hảm đồn. Binh lướt tới (lúc ấy sự 
tấn ích về súng ống cung chưa cải đưực niêm luật giao 
chiến ; người ta tưởng quyết về đồ trận bủa binh từ 
hàng, là thứ bên nước Italie mới vừa bị rúng động bỏi 
sự năng dùng lưỏ-i lê raà đánh, lả : đồ trận giảp binh). 

Cách lề thành chừng ba mươi thưức,- thì binh. 
chúng ta 'chạy đến và cả tiếng tung hô rằng: • 

cVạn vạn tuế! » Binh phá một đường băng qua mấy 
nhánh tre, tránh các hầm mà xuống hào, rồi leó 
lên bờ lủỵ. Không có xáp trận, nhưng vậy, binh an- ' 
ỉiam thủng thẳng thối lui, người ta thấy đặng chúng 
nó dang xa «bộ đi coi gần như khoan thai, dường - . 

thề mấy kẻ làm thuê kia ngưng công việc họ 
vậy; lại, chuyện 'nên dị kì, là dầu cho cả đạo binh ‘ỉ 
leo vách lủy lèn mà ẻp vò đánh, thi trong quàn lính 
an-nam đi trốn thấy có một ít người chạy mau :mà'  S 



— m - 


thôi. Nội một ít phúc, họ qua hiệp với đại binh, vỉ 
thấy cỏ cờ xí phất phơ phía Chi-Hoa. » (P. d. I. B)! 

TrẠn thử nhứt đó làu dưọx. hai giờ, lảm cho binh 
ỉangsa vói espagnol hết 6 người tử trận với 30 ngưỏ -1 
bị vít Còn người an-nàm, chẳc họ hao nhiều lắm, vì 
đính (lặng như vậy lả tại <rmấy thây nắm lĩnh nghinh 
dọc theo vách lửy, lại số những kẻ đã vong náạaẹr 
lám chứng sức các khầu lòng nứa sát hại thề nao. » Ta 
xin kề thêm rẩng, khi đỏ cỏ bắn vô đon hết: 228 
phát sủng quá son, 146 phát sủríg 4 lòng nứa, 128 
phát súng 12 lòng nứa, lại ngưò-i ta có phong 80 hoa 
phi đồng nữa. 

' Lối chỉn gìờ, binh lấy bao tấu mình lại, đi vào trú 
* trong đồn ngánh, chủng nỏ choán chề iính an-nam 
mới chạy trốn vả nghỉ cho tới xế. 

^ Trong lúc- giao công, mấy ngưò-i bị bệnh khiêng về 
chùa Cây-Mai, rồi đỏ mói điệu xuống nhà thương Chợ- 
Quản. Thuoc đạn có châm thêm, củng trong ngày 
ấy v<w trọn một phần đêm 24, ngưòi ta cất thuốc 
dxrợi hâm chiếc Rhin với chiếc Loire lên mà 
* hửa nơi trử tạm lập tại chùa Cảy-Mai, vi hai 

c ảư n*: / đ A dủng làm kho lhuôc vả dậu trước thảnh 
Sài-Gỏn (bởi chưng người ta không kiếm đặng nơi 
nào trên bờ cho chác ỷ cùng cho khô rảo). 

Ba giờ chiều người ta chiêu kèn đảnh thức binh 
dậỵ, đoạn kéo đi nữa, đề lại đồn ngánh một compa- 
gnie Hnh bộ thuộc thủy vởi một khầu quá sơn bắn trải 
Pn^- Ban sơđạo colonne tấn qua hướng Tàv-Bắc, kéo 
tnrởc mặt^tây-nạm đồn binh và dang khối làn súng 
• đại báo đon (nó đi xa chừng ba ngan thưỏ-c); sau 
đ ìl ^‘ n ^. bắc ’ mả lần v ° gần góc đồn phía tây. 
Ã- í cỏ naột đoàn binh an-nam khỏ biết 

li - • m & vi bộ & trong rửng chồi mả ra trinh 



. — $84 —  ■ 

diện bẻn hữu dực chúng ta, có binh tưọ-ng vả trương ;4 V 
cừ. Không biết phải đạo binh an-nam muốn ngăn fỳ' ; 
thừ cuộc hành quàn chúng ta bởi càng ngày càngìàm - 
cho họ ra hiềm nghèo hơn, hay là họ khởi sự dòù mấy 
ihsYt tượng, xe cộ cùng đồ đạc nành di chăng? Người 
la chang hề biết rỏ lóp tuồng đánh giặc dớ nghĩa 
là gi. Bạo binh an-nam lại gần. bẳn đấu với lính 
chủng ta đi tirailleur. Quan thỗng lảnh dạy kéo ba 
vị qnủ sơn bẳn trái phá với ba vị lòng 4 ra trước, 
qua bên, phía hữu; mấy khầu ấy bần phá làm nên ' 
viục. Binh an-nam dừng chơn lại, rồi trở về trại 
minh, hoặc lần theo vách song di khít vò gần gần.» 

(í>. d. 1. B.) 

Trong lúc chinh thảo thi đạo colonne ngừng lại; . ;f. 
rồi nó di tới nữa, qua lối sáu giờ chiều, nỏ đóng 
ngay trước góc tây đồn binh, nghĩa là gần sau phía . 
hậu. Chồ lựa mà dinh quần lại đó là một cái xóm 
kia dã bỏ hoang, chung quanh đầy cày cối, cỏ vài cái 
rào với rừng chồi. Chốn dó không có thảm thỉnh, lại 
người ta ỏ- cận dồn an-nam lắm,' không quá một 
ngán tám trăm thưỡc (ông Pallu de la Barrière nói 
«chừng hai ngàn thước», vậy chẳng có một vị súng 
nào của người an-nam mà bẳn cho tới). Vừa đóng 
xong, thấy có một hiệp súng tay trong mấy đảm rừng- . 
chồi mà bẳn ra; lại mấy vị đại bảc tại Chỉ-Hòa cũng ; 
xạ đến một ít viên đạn nữa, cỏ một viên đi thàu qua mái: 
vièn môn quan thượng tưởng. Binh espagnoỉ, đội 
compagnie linh thủy thuộc chiếc Renommée, . sau 
hai compagnie khác nữa đêu phụng lảnh đi đánh ’ ■ ...• •• 
đuồi quàn nghịch ; khi ấy súng pháo thủ đã mở ngựa X 

ra rồi, nèn người ta mới kéo hai vị lòng 4 đi mả ' 

dam dàn nơi có thế. Phải gần nữa giờ đồng ho mời 



làm cho binh an-nam nín lạng, và ép chững nỏ lui 
về. Cỏ dời chồ quàn đỏng một ít. dặng cho lánh khỏi 
giặc đảnh thình linh lần khác. 

Bữa sau, vừa tảo thin binh gia sám sữa áp dành; 
Chuyến nầy tính lấy phía hậu đồn rộng minh mòng 
có góc ngay đó. Quàn sĩ chấu dánh mạt. lày-bâc, 
nghĩa lả phía nhỏ hơn hết (chừng một ngàn thước 
bề trường); lốichỉnhgiữamặt nầy cú một cái dồn riêng, 
đặt tên lả Đồn-Trung (cựu dồn Chí-Hòa). Như thảnh 
còng, thi sự dánh như vậy sế đứt đường tự nhiên 
của bính an-nam đề thối lui, và chắc cũng làm cho 
họ phải bỏ trọn đồn binh nữa. Nên lạp ra làm hai 
đạo colonne. Đạo hữu kề lả binh bộ espagnol, lính 
thủy lên bờ, và có corhpagnie linh aborđeur đi tiên 
phuông; chồ nó phải dánh là góc tây dồn. cỏ ba 
khầu quá sơn bẳn trái phá dầy theo nỏ. Bạo colonne 
thứ hai. ta gọi ỉà dạo trung, thèri dạng bình bộ thuộc 
thủy với lính chasseur bộ, nỏ có binh bị di dầu. 
Giữa hai colonne nầy, có binh pháo thủ giang hàng 
tấn tới, lả: bốn vị dại bác ị lỏng nứa, ba vị 4 
lòng nứa với hai khằu quá sơn bán trái phá. Bạo 
colonné nầy.-dốc quyết danh Bồn-Trung. Phan binh 
dề hò*, kề ỉà lính bộ thuộc thủy, linh chasseur bộ 
vợi compagnie lính bồn quốc. Trong lúc hẳm dồn 
*thò'i một phần binh đề dự phòng đõ lại lạp ra làm 
một colonne thứ bả, kèn ỉà đạo tả, nó đến dánh 
góc bắc, là nơi compagnie lính an-nam (I) cỏ tranh 
chiến phải cách lâm. 

(t) Tiếc thay cho sử, vì òng Pallư de la Barrière tirỏ-ng khòng 
Cần chi roà thuật lại chuyện compagniẹ nầy (lánh giúp trong hai 
ngàỷ 24 và 25 cho đông dài. ổng ấy có nói tại chú giải riêng 
lời nầy nịia thòi : « Bội compagnie Hnh bồn quốc lính (lưực 
80 người; an-nam. Họ di vói binh bộ thuộc thủy vã làm việc 
:« bòn phản’ minh phải lẻ lẳm. }> 



— 286 — 


ông Pallu de la Barriẻre nói rẳng: «qua 
giờ thì đại binh đã phân đặt săn sàng mả đi đảnh : ' v 
củng chia lảm colonne, nỏ ở xa mặt tây-bẳc đồn 
Chí-Hòa chừng hai ngàn thước langsa ..... Bẻn 
an-nam đắc thế: vì mặt trời giọi vô mẳt đạo binh 
langsa. Binh pháo thủ, trí súng lối 1.000 thước, khi 
ấy đã bị hao rồi. cỏ một phần linh với ngựa tử trộn 
hay là bị thương tích ; có một cải bánh xê chở bì 
sủng phải vàng tảch ra từ miếng, ỏng phó quan năm 
bộ Crouzat truyền dầy các vị súng người tới tử 
chặng mau lẳm cùng nên danh hào kiệt, ban sơ xa 
500 thước, sau gần 200 thước, nên người mứi làm 
cho bứt đặng sự 'thất thế quá đồi bởi mặt nhựt mà 
ra, lúc đó yến sáng chiếu gan nằm ngang (1). Trong 
khi dừng chơn lại lối 200 thước đó, nó ià lần sau 
hết, thời các khằu đều bắn đạn tạp nạp phía trên 
vách lủỵ.» . Ỷ 

Nhưng vậy, quản linh lại hao nhiều, nẻn phải cần 

dùng dịp binh đang xơm tới mà đánh rốc di, không 

nèn đợi cho lòng chúng nỏ ra nhát bởi mỏi mệt, thấy 

và nghe tiếng van siếc bạn hữu mình ngă xuống. 

Quan thủy sư truyền đề bao tấu xuống dất vả dạy 

các colonne tấn tới. Bó là một việc hiềm nghẻo cùng 

thậm khó; vì phải qua nhiều hầm, chông tre vớk : 

hai hào bùn, còn trèn bờ lủy phía ngoài lại có thả 

chông trái ấu vấn nhảnh cày gai. Mấỵ cải thang 1 

người ta dam theo đề leo lêh vách đều phải lấy mà i 
# 

(I) Đó có một di'êu nói nghịch, ta phải chi ra. Ngày 25 , 

íévrier chỉnh ngọ, mặt tròi tại Sài-Gòn ờ trên clicrn tròá chừng . 
70 dộ. Lối mười giờ ban mai, nó cao được hưn 45 dộ. Vậy 
khi binh pháo thủ bắn thòi chưa quá mười giờ, hay lả binh ấy • . 
khòng có mặt tròi giọi vô con mẳt theo cách ông Palíu de la 
Barnère nói đó. - 



- 28 1 ~ 


dùng đặng qua mây hâm; mả bởi nỏ yếu lảm, nỏn 
nó gãy gần hết. Dầu vậy, đạo colonne hữu đã xuống 
đặng dưới hảo sau hết, song biết phải xuất thần 
lực nào nữa mới lên đặng trên đầu lủy. Người ta 
lấy mấy cải thang còn lại bác lên mả trẻo, nhiều kẻ 
leo đứng trên vai bạn hứu mình, lớp khác lại níu 
chông' trải ấu cũng rán lên thử; song vừa tói trên 
chót, bị binh an-nam kê miệng súng bán chết đi, 
hay là lấy giáo mà đàm té xuống hào. Binh thủ dồn 
nghinh chiến cách vững vảng vả cử chen nhau mà 
đứng khít hàng trên cấp lủy luôn. Thế sự trở ra nguy 
hìẹm,'khi ấy người ta mới liệng lên thời may trúng vải 
mươi trái phả tay. cỏ ba tên lính thủy quăng đặng mốc 
chùm trên vách lủy, rồi xúm nhau kéo liền, mả người 
an-nam không gở được, nên nó cày rách đi. Bó lả 
ba chồ đã phá vở đề mà vò. Rủi thay, mồi chề hở 
đi qua đặng từ người mà thôi. Trong ba tên linh lên 
iđược trên chót trước hết, có một tên bị giết chết, 
còn hai người kia bị vít củng xô tống xuống hảo. 
..Song có lớp khác ỉên theo, nén chẳng khỏi bao lâu 
cấp lủy phải binh langsa chiếm soán. 

Binh cố thủ bị lưởi lê với đạn mới chịu nhường 
chồ đỏ. Người an-nam thấy đồn dã bị binh langsa 
phả mà vào, nèn kẻo nhau đi «cỏ thứ tự củng lần 
. ■ . theo vách trại », hộ mau thoát vảo trong một cái đồn 

kia cũng ở tại khoản đỏ, mà bề tiền diện nó là một cái 
vách ngăn đồ đứng đấu với mặt tiền quàn. Binh 

langsa khi ấy nhổm nhau chung quanh quan cai 

mình, liền thấy cỏ một cái hào mới phải đi qua và 
. ; một cải bờ lủy khác phải đánh lẩy. Bên an-nâm có 

ỵịỳỉ-v' -pgtrng bẳn một hồi đặng đề cho binh cố thủ vỏ 

: phần- thử hai trong khoản, rồi bắn lại càng nhiều 
bon bóc đó dạo coionne hữu tỷ như ở trong 



một thử rọ kia. Dầu vậy, nổ chống lại vững vảng pậ? 

cùng lấy bua mả phả đặng cữa vách giăng; ỉà chồ ; 

binh an-nam đã đi qua. •' 

Lòng rẳn rỏi đạo colonne ấy, tính khi kiên hảo 
khi nó chịu mủi thiên oai kẻ nghịch, thỉ nỏ ép binh 
thủ đồn phải sang bớt một phần quàn nhom chồ khác 
mả đem qua phía đỏ, nên dề cho các colonne kia 
thi hành phần việc mình. Cũng trong lúc ấy, ông 
quan ba thủy .ìaurès với một ít lính bạo dạn dộng 
phả cưa đồn, colonne trung thi chiếm đoạt Dồn- 
Trung, còn colonne tả lại soán lấy góc bẵc. Bỉnh 
giao hữu làm được chủ trại rồi. uNhững người amnam 
nào chạy trốn không đặng đều bị giết hết, nên sau 
có một lúc sát hại mới đứt cuộc tranh chiến nầy.» 

Quan thống lảnh lập viên môn người trong đồn 
kia kèu là ‘Viên mỏn đồn, nỏ xây tại chinh giữa 
phần thử hai trong khoản ấy. Còn quân lính, khi . 
lầy bao tấu minh lại, thời chia ra mà ở trong mấy 
chồ của người an-nam cũng như ngày trưó*c vậy. 

Phàn nữa lính thương thì đem đặng về Cbợ-Quán . 
liền. Còn mấy người khác, người ta lại lập nhả 
thương cũng trong trại đó. 

Trong ngày thứ hai nầy, quân sỉ hao hết ba trăm. . ’ ■ f 
Có mười hai người tử tại trận. Một ít kẻ bị thựơng • 
chết vì vít tích. Õng quan hai thủy Jouhaneau-Larey^ 
nière chịu đau đớn quá đồi trọn năm giờ mứi tắt V;’ 
hoi. Qua bữa sau ông phó quan Dấm Testard, hay 
binh bộ thuộc thủy, qua đời. 

Pháo thủ dụng trong ngày ấy có 204 trái phá với 7 
36 hộp đạn ma thòi. Cung nội buồi chiều dỏ thuốc đạn 
bẳn rồi đều thay lớp khác, lại ngưỏ*i ta cỏ trử tại 
Chí-Hòa ba muôn bì súng đề hờ sau đi đánh miền 



— 289 — 


Bên an-nam cỏ bỏ lại ba trăm thày tại hai phần 
thuộc khoản đồn đã ỉ)ị hãm lấy. Còn về linh thương 
mà người ta không khi nào biết số lả bao nhiêu, thi ít 
 ' ' nữa có một phần đem đặng về Thuận-Kiều, vì người 

ta có gặp dấu chứng thật họ đấ đi qua tại đó rỏ ràng, 
ổng Pallu de la Barriẻre rằng « đạo binh an-nam 
noi theo thói quen minh, nên dời gần hết các kẻ bị 
thương tích, phần nhiều trong đảm đỏ lả lỉnh ở 
Chí-Hòa. Vách mấy nhà nào có binh langsa tạm trứ 
đều thấy vấy máu .» Chỉnh vi ông kinh lược Nguyền- 
Tri-Phương cũng lảm thương nưa. Trọn lúc tranh 
cường, quan ấy đứng trên vách lũy tại góc Bồn-Hậu, 
lả nơi người thấy hêt cả cuộc giao chiên. Thấy mấy 
dạo colonne binh langsa ảp tới hảm đồn, ngưởi dạy 
rút binh sỉ cảc lủy gần mà dồn qua chồ ngươi ỉangsa 
chậu đánh. «ỡng Nguyền-Tri-Phương co bốn tang 
■ > ■ che, nên lảm bia cho binh tiên chiến nhắm bẳn, 

người bị một viên di trứng nơi bắp tay, còn thản độ 
người phải dạn nặng lẳm, ngã xu ong một bên. Mâv 
kẻ thủ hạ bèn đề ông Nguỵền-Tri-Phương nẳm trên 
vỏng mả khiên di. Quàn lính tưởng đại tướng minh 
. - mạng một rồi, nên thối lui, bỏ dồn, chạy do về hướng 
Tàn-Sơn-Nhi cùng Gò-Vẳp.B (Sách Monographie de 
la proưince de Gia-BỈnh). 

Người ta gặp trong trại có một trăm nảm mươi vị 
dại bảữ, lớn nhỏ nhiều hạng, hai ngàn cáy súng cò 
■■ . ' máy đả hiệu Saịnt-Etienne, giữ gìn sạch sẻ lắm, kiều 
; dỏ đã dụng trong đời Bế quốc thử nhứt, trái phá 
chưa nạp, chừng hai ngàn kĩlogramme thuốc súng, 
siêu giáo, tiền quan, bản đồ với họa đồ an-nam. 
. , Người ta khòng thấy tại trại có sủng hoa mai hay là 
V,- .> hung khi nào kinh cồ hơn. 

ỆÊ v.v ' : “ội ngày 25 dỏ, quan thủy sư Page lấy dặng 

|§$£r hết thẳy-cảc đồn lập phía trên dòng Sông 'Sài-Gòn. 



• I. ';»f ?i. 


cỏ một ít quán gia người bị tử trận 41; 

tích tại mồi chiếc tàu, vì hết thảy thuyền chiến đeu : 
bị đạn bẳn nhằm. "r : "- 

 1 ( ‘ 

Từ đây dứt chuyện Chí-Hòa ; ta dẫ kế bày nó ra 
theo lời ong Pallu de la Barrière thuật lại, vi trong 
trận đó — chủng ta đều biết — người làm quan ba 
cai compagnie linh thủỵ abordeur. Các việc vo công 
trong ngày 25 đó làm cho sanh đieu bao biem nhứt 
la chi ve sự thảm thính chẳng khắp nơi, không đặng 
kỉ lưởng cùng là về sự súng ống pháo thủ phả hủy 
phía nghịch chưa hay vừa đủ nữa. Bỡi đó ông Pallu 
cỏ nói như vây ; «.'RỒi việc mói tính toán các sự ây, : 

nen làm cho hằng định dẹo rằng, người ta chẳng biết 
được các việc trước khi giao chiến ■». ■'Ý-.. 

Thật không biết đặng sao? Ta xin xét coi người ta phải 

làm cảch nào trưó-c khi tranh cường hầu tra thử việc 
ấy ra cho rỏ, vì điều phải lảm đỏ là bởi sự tầng trảị mà 
ra, chớ khòng phải là tại chuyện đương lúc, lại thường . 
nỏ tùy theo con mắt xem qua, lòng xui giục, tánh khí ị 
và trí dốc quyết các đứng làm dầu. Có lẻ ta sẻ chỉ ra 
đặng chính loi đại binh đời Bế quốc thử hai đỏ, dầu 
vậy nỏ cỏ đủ hình dạng vừng bền mà sự chắc thiệt lả 
nỏ được binh giỏi hơn hết tại phương Tày. Chúng nó , f 

chuyên ròng vỏ nghệ (ít nữa là cho tói năm 1866). : - 

Không biết người ta có nói dăng sự như vậy cho mấy 
quan chăng ? Nhiều khi, lại cũng chẳng biết mấy khi 
nói rằng không đặng. Trong các quan đỏ cỏ nhiều 
vị tại ngoại xem sẳt sảo, hoa mĩ lẳm, bề ằn ở kỉ , 
lưởng, song lấy theo việc binh mà phàn, thi ít khi các* , 
vị ấy thòng thuộc hơn mấy thầy đội minh (phải 
nhở số phằm hạnh). Chuyện quấy đó là tại đầu mục 


1 



• — 291 — 

mả ra. Bỉnh lính chủng ta đấu chiến đường như sư 
tử, còn quan vỏ tranh cường một thề như binh lính 
mình vậy, song tròm trèm bấy nhièu đỏ mà thôi. 

; Trong : ngày 25, quan thủy sư đề đốc Charner 
ngồi ngựa đi cho tới các miệng hầm, hai bèn có quan 
đại thảm tán Laíton de Ladébat vóri ông quan tư mã 
kị De Cools; phần nhiều trong lính chasseúr hộ vệ bị 
đạn; có một quan tán lý người, là ông .íaurès, lấy 
; búa phá cữa vách ngăn; ông quan hai thủy Lareỵniẻre 

bị đạn ngả xuồng khiến nhửng kẻ muốn đến cứu 
người trỏ- lại bẳn với giặc; thầy cai thủy Rolìand bị 
bề mắt cá, người rịt lấy thương tích mình rồi lết 
tới bẳn; trong lúc giao chiến, tèn linh kèn Pazier 
(thuộc tàu Ỉmpẻratrice-Eugênie) bị đạn nơi trán, 
lồm cồm đứng dậy mà thồi lại nữa. Ba người sau 

* thiệt lả yèn hùng, cỏn mấy vị trước liều thản vò lối. 

Quí hữu có thấy đạo binh nhỏ ấy chưa bao lảu mả 
/ bị mất đầu chăng (vì quan tướng De Vassoigne với ỏng 
quan năm Palanca đã bị thương ngày trước), nẻn òng 
quan ha hay lả ông quan tư nào, không rỏ ỷ quan 
thủy sư, mả phải ra cầm binh, thi sao quí hữư cũng 
nói rằng có lẻ họ di nộp mình ; vã lại binh an-nam 
cho tới khi loán lấy bờ lủỵ thi họ cảng chống trả gan 
đởm hết sức. Số họ tử tràn làm chứng việc ẳy. Một 
điều khác cũng lảm chứng nỏ nữa. Là sự cản phàn 12 
người giết chết cho tới ba trăm người bện h mà chúng 
ta bị .trong ngảy đó, lại nó xa sự cân phân 1 cho tới 

^5, lả số sảnh mấỵ kẻ tửtrạn với những kẻ bị thương 

• trong cảc iúc chiến trường đời: Dế quốc thử nhứt — 
nghĩa lả với súng người an-nam đùrig lúc đỏ — thì 

• xem ra phần nhiều dau vít bởi chuyện khác mà ra hơn 
ỉà tại sủng: mủi giáo, xô tẻ xuống hào, sa hầm, phải 

tré quảochỉch trong lúc ham dồn, V. V. 

{ - . '-;■*> ’ 

■V . 


V. 



-■m — 


Boạn cứ theo cách các tư kì sự *bất củng lại thèm 
chuyện khảm phục binh luật vồ biên; thói' dị bụộc yệ' 
vãc theo bao tấu đặng quàn lính chịu mỏi mệt hơn 
một chút nữa mả cũng không lo cho chúng nó cỏ ' 
dồ ăn nóng cho chắc. Ngày 24, cỏ giáp chiến xa 
chùa Cày-Mai chửng hai ngàn thước^ làm sao không 
đề bao tấu lại cùng lo bữa ăn tại đỏ? Xong rồi, sáu 
trăm coolie khách cỏ lẻ đem được các bao ấy với 
soupe nóng nữa (ai nấy chớ quên trong tháng íẻvrier 
ống hàng thử xích lèn tới bốn mươi bực; sau lại, 
chẳng phải nấu đặng một minh soupe mả thôi, cỏ lẻ 
người ta còn làm được nhiều món khác). Ngày 25, . 
binh đóng nghĩ xa đồn ngánh Redoute ba ngàn thươc 
và cách Chí-Hồa bai ngàn, cỏ«vài cai quàn ( escouade ) ■ 

nấu soupe; các tốp khác mệt lẳm, nhứt lả tại mấy 
lần sau đi đi về về, nên không muốn nhúm lữa, họ 
ản bánh rả cùng uống nước lả mà thôi, thời mầy 
gần đỏ có nhiều; dó là bữa àn tối của họ.» ỏng ■ 

Pallu de ỉa Barrière xem ra lấy sự ấy làm lẻ tự nhiên , 
lẳm, nhưng vậy, đó là một cách hại binh nào giỏi 
cho lẳm củng phải hư, không chi khác, phàm như: 
có tinh trước một chút cũng lo liệu cảch khác về sự. " ■ 
cấp dưởng cho quân linh xuất trận, thi cỏ lê ngưộ-i ; . 
ta lánh dược chuyện ấy. . ! 

Mấy việc khác cũng vậy. Người ta có vẻ nhi&i họa 
dồ đàng nước, do thủm, cho tới cửa thành Biên-Hoả, , 
song chẳng cỏ một cái bòng dồ nảo sơ họa thuộc Bồng > 
Mồ-Mâ. Người ta không biết chút chì về đồn binh, 
mà dầu nó ở cách chùa Khảỉ-Tường có năm ngàn 
thước, còn đồn hờ bị dánh bữa mồng một jànvièr 
lại xa có ba ngàn mà thòi. Trọn cả chốn phòng ngự : .ỷ 
quảng đại ấy kiến tạo trong một năm, « ỏ- đó mấy 
đồn mọc lèn như nấm >. ■ ” 'ị;'v 



Thật nên sửng sốl khi đem trí suy về sự người ta 
không biết chi hết, lại người ta cáo rằng tại bữa trước 
thủ bị do thảm chẳng kỉ ! Phi lý chi ỉẳm vậy, một 
cuộc xây đẳp kia mà bề chàu vi đồn chánh đà đặng 
tám ngàn thước, hỉnh nó nồi lên không được rỏ, ở 
tại. xứ đất bằng củng trống trải, mà tưởng người ta 
do thám nỏ đặng không dụng thân trỏng, khí cầu V. V. 

' lại trưó-c hết phải trong vài giờ ! Thủ bị đã hảnh sự theo 
sức mình, người ta không đề cho quan quàn đỏ có 
ngày giờ mả làm nên việc hơn; quan thủy sư đề đốe 
Charner đã định ngày giao chiến, có khi là tại trời có 
> . trăng và nước rông mà ra — vì bữa 25 fẻvrierl861 
nhâm ngày nguyệt mẫn, nên muôn gặp nó lại, phải 
chò- cho tới 26 mars sau. 

Không, chẳng phải lồi nơi thủ bị, vì người ta biều 
chuyện khôn thảnh hành đặng, song quấy tại nhửng 
kẻ đã; trọn một năm, ở trước các đồ cuộc chống cự 
ấy mả chẳng kiếm phương thế đặng dọ cho biết 
nỏ. Bã hay rằng bồn tánh người thanh và nhơn dân 
an-nam hề có tiền thi mướn lảm đặng mọi sự, nẻn 
• người ta cỏ sức mả rỏ thấu các công cuộc trại binh 
thề nào ; với một trái khí cầu ( montgolỊière ) thì ngưòà 
ta iấy đặng các mặt ngang đồn phía trong, lại vởi 
bất kì là một cái đồ đo góc (goniomètre) nào, thời 
bỉết được cảc bề xa gần bao nhiêu. Nhửt lả người 
ta chớ đến nói chuyện như vậy ìà tần hoá, vì lúc ấy 
không kiếm đặng đồ mà bong một trái khi cầu 
tại đỏ, V. V. Trận Fleurus tỏ ra cho chúng ta biết 
, • • • nỏ kinh cừu lả dường nào; sự phản bạn vi tiền bạc 
thái cựu -cung bường dương gian vậy; eỏn về lục sạn, 
4^ ' lụa là, tại các tàụ khậu thành Chợ-Lớn có biết mấy 
tìgâỊnthừởc hàng cây dề may qu^Q vả mấy ngàĩKxẳng 
cỊutor, thảy đều nhẹ và chắc cực ki , 



Các điều rán hetrưỏ*c xem ra chằiig fch : chí-hết && 

khi ngựòri ta không biết nó. Nhưng lời đức hoàng đế 
Napoìẻon I* r khuyên bảo đề dụng làm niêm luật (1) 
hấy còn làu đời, thời nỏ đã qua Sòng RhỊn . . . đặng trỏ* 
về chủng ta trohg năm 1870, ai nấy dều biết thề nào. ■ 

Lúc đó người ta ỗr tại Sải-Gòn mà đã vẻ đặng một cáị 
họa dồ đường quaBiên-Hòa, song không cỏ một: cái nào 
vê đồn binh. Cách chỉn năm sau, các quan binh chúng 
ta cỏ mấy họa đồ nưỏ*c Allemagne, mả thương hại thay 
cho mấy quan đó chẳng cỏ một cải nào về nước Langsa 
hết; họ không biết dường Saverne qua Châlons! 

(1) « Phải dam binh di đánh giặc như ông Alexandre, Ànnibal, 

César, Gustave-Adolphe, Turenne, ông hoàng Eugẻne và vua • 
Prẻdéric; hay đọc đi, dọc iại truyện támmưoi tám trận giặc của 
các đấng nây, hãy xem lấy đó làm gương, có một minh cách ấỵ 
đè trả nèn danh tưỏ-ng cùng thn ra đặng các sự kín nhiệm binh ; 
co- mà thôi; như vậy, tri hoá chúng ngươi mói ra thông suốt lảm 
cho chúng ngưo-i bố mấy cảu luận ngữ nào nghịch VỎ1 câu luận ; 
của các đấng tri sĩ nầy. a (Sách Mẻmoires de Napoléon , cuon 
thứ II, tưố-ng quàn Đe Montholon). 

ơ dày, đức hoàng đế Napoléon lấy theo phép thau lược mả 
án nghiệm cuộc giặc giả, là phép đã đỏi kia sang đòi nọ mà các 
luật nỏ cứ giữ gần một trực luon, lại mấy dồ cuộc chúng ta tân 
tạo đe chuýên chỏr mau mắn hơn het cũng khỏng bịt no đặng. • ■ 

Hai bài luận dem binh tó-i chồ nào dó cho nhiềưlung mà dùng 
ít ngày giò- hơn hết, hay là rútbinh di mà chẳng dề hao, thì no - 
gọm cả chuyên thông thái về thau lưọ-c, lại, kầ từ cậc trân vua ; 
Alexandre cho tỏi giặc russe với nhựt-bồn sau hết, nó cung 
không đồi dời căn bồn chút nào. Lý chuyện như vảy ỉảngưòv 
nhựt-bồn vói người russe cần đi tơi, ăn uống, nghi .ngơi cung 
như ngưòi macédonien thuở trước, chúng nộ đã cỏ vĩ sẽ 
có tnró-c mắt cũng mấy cuộc đất cát hê hủng, núi sông đó luôn. 

Về phép bày binh bố trận, hay lả bề tan thối con ngưò-i 
theo việc binh, hoặc một mình, hoặc trong đám, tại chốn ' : ' 

chien tràng thời lại khác. Phép ấy canh cải chẳng ngưng tiiỵ 
theo sự tấn ích hung khí cùng chuyên nghệ nghiệp tạo thành, ' 



Ta cung xin nói một lời về cách phân bữa ban đầu 
cùng.về sự dùng súng ống pháo thủ, mà đây tính thêm 
một lần nữa, là nỏ có lễ lo liệu đặng trước mấy tháng ; 
ví như có trăm cách đề hảm đồn binh hay là một cái 
lủy nào, thi có một cách khá hơn hết mả thôi : lả cách 
bởi chính vì cuộc sẳp đặt đồn lủỵ ấy giục lòng mà ra. 
Trước hết, mấy vị nào mà dùng đặng ích trong hai 
ngày 24, 25fẻvrier, thì thiệt số nỏ không đủ: 

5 vị đại bác thủy 30 lòng nứa, 

4 vị đại bác bộ 12 lòng nứa, 

3 vị đại bảc bộ 4 lòng nứa, 

6 vị quá sơn bẳn trải phá, 

Hỏa phi đồng. 

Ta không kề tới các khẳu đại bác bẳn trải phả lòng 
22 phân mả người ta đã trí tại mấy chùa, vì làn nó đi 
' _ : ỵẹu lẳm (2.470 thước) không sức phá trại binh cho 
đắc ích. Ngưòà ta cấp ra thiệt cỏ mười hai vị mạnh 
mả thỏi, lại tính dùng nó mà phá đôn binh độ dạc 
400 mẫu tày bê diện tích. Bẵ vậy, chớ chi ngưòâ ta 
• đề nó cho phải chồ ; mà không, nên khi dùng cách nói 
ý vị của đức hoàng đế Napoléon I er , thì đề cho ta 
nói đặng rằng, xem ra súng ống pháo thủ khi ấy bởi 
một quan binh hussard nào đó phân đặt mả thôi. 

frày> cần kíp cho ta cẳt nghĩa trại lính an-nam 
ra một lần nữa. Lúc dỏ nó lả một cái hình có. góc 
. ngay đưọ-c một ngàn thưỏ*c langsa bề ngang, ba 
■ • V ngảnthưởc bề dài, có đường Thuận-Kiều đi thông 
qụa bề trưòmg nó. Muốn cho triệt hạ một cuộc xày 
đắp như vậỵ, thi khổng có cách nào khác cho hẳn 
hòị, một phải đề các khau súng tại dường ấy, hoặc 
• trên lề no, vừa xa mặt tây-nam cho dạn đi đến khoắn 
sau- hết^vấ cũng xa vừa đặng khỏi sợ súng pháo thủ 
ẩpí ' qữân nghịch bắn tỏi. Muốn đem mấy vĩ súng, thi 



phải dọii đường cho làu trước, cỏn cảc chồ đề tri • 
nó phải do thám kỉ lưởng. Các vị '30 lòng nửá, ; •< 

mấy hỏa phi đồng, hết thảy đi sáu ngàn thước, đều ■ V 
đề đặngnơkđỏ chẳng trừ vị nào, với sủng pháo thủ 
nhỏ lòng hơn' phòng khi binh vực các khầu dại bác. 

Như vậy thời hảng súng trí xa trại binh có chừng hai 
ngàn thước, nghĩa là lối mấy đồn bị hảm trong ngày 
mồng một janvier. Song khòng kề tới lòng súng củng . 
làn dạn di lảm chi, vỉ có lẻ người ta chẳng biết đươc 
nỏ, lại cũng không tính tới các đồn hờ mà có khi 
quàn nghịch đã lập đặng tại đỏ — và phảĩ đảnh lấy nó 
trước hết cũng như đã lấy đồn ngảnh Ređoute trưửc 
chùa Cày-Mai vậy— thi người ta cũng phải trí cảc khẫu 
dọc theo dường ấy luôn, không nên đề chồ nào khác. 

Bả khỏngtheo như vậy, mà khi đỏ người ta lại làm 
the nào ? Họ trí bốn vị 30 tại Kiềng-Phưdc, một vị tại 
chùa Cây-Mai, hai nơi ấy đồng xa khoản đồn chót lả ■' ! 'ị 
sáu ngàn thước, lại khi phải bẵn cho đạn đi tuốt cả 
và bề trường trại binh và đừng cho trật một phảt nào 
hết, thời mấy khầu đó bẳn xéo vừa đặng một phần 
nhỏ mã thôi, đã vậy người ta phải nhọc công hết sức 
mà dam các vị ấỵ đi qua dày đất sình. 

Ngày 19, cỏ phóng hỏa phi đồng qua binh an-nam ; 

« đặng làm cho chủng nớ kinh hải »; song thật quê quá 
cỏ ý đ’ê mất sự đắc thế về chuyện làm cho bẳt thinh 
linh như vậy. Các hỏa phi đồng nầy bảo tin cho binh 
an-nam hay trước năm ngày -vẽ sự gần giao chiến 
mả thòi. Nên lúc đỏ mà binh có đi ra, thỉ chẳng chi 
lo sợ. Từ ngày có chuyện tại Kiễng-Phưỏ-c, ‘người an- 
nam không . còn dám đến đánh với chừng một ngàn 
binh langsa giữ đưửng phòng ngự theo mấy chùa đã 
dải quá và chẳng đủ sức. Vậy gan nào mả hộ lại dám 
tới đánh năm ngản binh có hiện tại đó bây giờ ? 



— 297 — 


■ Bữa 24, ngưèri ta bẳn trại binh an-nara cđặng 

; lảm cho họ lo giữ đó» thật vô ích lẳm, rồi đán h lấy đồn 

Redoute, 

Qua 25, pháo thủ bộ nhạn hảng đánh mặt tảy-bắc 
trại quân, sự nhữ vậy nghịch cùng niẻm luật binh cor 
: - thua ấy, vi dầu miềng trải phả, dầu đạn tạp nạp luc 

• đó > cung không văng trúng đặng binh cố thu đứng 

• né P vò bò* lụy phía trong, bởi đảm đạn vả các miềng 
mấy trái ph á ngp thuốc súng đen, dều tạt lơi 

. .. trước chỗ nỏ nồ. Bó là chuyện phí tản thuốc đạn 
mà thôi, song thật nỏ không được làu. Nếụ khi ấy 
các đấng cai binh nhở lời chỉ giáo của ông Vauban, 
Cọrmontagne, Carnot củng hết thảy các vi bác vật 
binh cỏ danh tại Tầy phương, thỉ có lễ mấy quan 
ây đề súng ống pháo thủ minh nơi đường nới dài 
đàng phán đồng góc dồn muốn đánh ra làm hai, cùng 
trí một ít vị ngoải đường đó nữa, đặng phá sứt góc 
ấy di mà bẵm. Đày cảng cỏ phước hơn, vi trước hết 
các. quan phẵi đem súng đề tại dường nới dài mặt lảy- 
bẳc qua bẻn phía nam, đặng bắn iuot hết cả cấp iuy. 

yị s t n * trí xa mấy mặt đổn lối hai ngàn thơơc 
khống chi mà sợ quân nghịch, vã lại sự trại binh bẳn 
. trảiĩiau chỉ trúng mực cho minh lại gan thề iíảo. 

Chuyện phai làm, là trước hết đề hàng Sung nặng 
c }° ch ° và lây nhánh cày mà án nó Ạ, đoạn dánh 
,• 'lấy. đồn ngáuh Redoute, vi nó làm thiệt hại cho sự 
hảnh quàn. Sau rồi, tấn binh tới cùng đề hờ nỏ cho 
• • sẳn sảng mà chạy đến tiếp cứu hàng súng bộlòngnứa 

ĩ á ỉ í 1 “A** roửi nói - Trông lúc dó mả thòi, mới nên 
chường hàng dại pháo ra và khápchồ phảibẳn một lược. 
Ề&. ■ ,, Ngirồi .ta -cỏ lẻ bát lý rằng, de súng tại chùa Cây-Mai 
'ềÊÊề^ : ' ^ Kteãg-Ẹhước mà bẳn, thì ba tấm đại tường ngăn 
hreag trại ty dạn đi xẻo, lại mấy miềng trai phầ 


jĩN. , 

V ’ 



nồ có khi văng nhảm binh cố thủ nảo đi sau .mấy ■■FỆ|||| 
vách đó. Mả như tỉnh thề ấy, thi mấy ngưổi giữ đồn • ỊỊỆ 
có đứng nép' vô vách lủy mặt tày-nam mà thôi, thi 
cũng còn khỏi bỉ hại. Vã chăng, ba tấm vách ngăn 
ở xa nhau hai ba trăm .thước, nên dầu cho đạn ờ 
phía nào mả đến, thời mấy kẻ thú đồn cũng không 
ừ đặng trong khọảnh 1'rống, nghĩa là nền cảc khoản, 
nên họ hâng đứng nép đặng- vô một bờ lủy nào 
dó luôn mả lánh khỏi nạn. Sau hết, cớ lảm cho quyết 
định là phải bắn phá khoản chót nhiều hom hết. Song 
khi ấy nó ở mút làn súng đại bác các chùa, chớ như 
trí tại đường Thuận-Kiều, có lẻ nỏ phải bị bẳn tuốt 
cả bề dài và ở xa dưới 5.000 thước langsa; đoạn, một 
diều ý chỉ sau hết, là khi hai dảy sủng trí bẳn như ta 
mới chì ra thì dạn đi chấu lại làm góc ngay. Bẳn 
phả chầm rải, cho cỏ mực trong mưởi hai giờ, lại 
dang khi có tiếng hỏa phi dồng kèu gớm ghê, thời 
chầc làm cho phía nghinh chiến phải bỏ trại, lại sự 
xài phi thuốc đạn không hao chút chi hcrn là cách đã 
dùng. Khi đó cũng nhảm lúc dụng khỉ cầu montgol- 
lìère mà canh giờ quàn nghịch. Khỉ cầu có mấy kẽ 
thám thính, với sự bán xa mà người an-nam khỏng • 
biết, thì lầm cho họ kinh tàm nhiều ho*n là leo vỏ 
dồn và xáp trận nữa* Rốt việc, cúng còn chuyện hẵm 
dồn luôn, khi dỏ phải thỉ hành nó cách làm sao cho 
ít hao nhơn mạng. Song, trong khi như vậỵ, phải 
tùng theo phép đã biết, là dạy mồi ngưò-i lấy một bó 
chà cày ma lấp các hầm và hào đồn. 

Trọn hai ngày, tư bề người ta có phát pháo một ít 
mả khòng hiều cho chẳc làm sao, lại ví như binh 
langsa-espagnol bị hao nhiều dường thể, thì tại cớ 
ấy mà ra. Phàm như khơi dầu hết mà súng ống pháo 
thử tri không nhằm chồ, thỉ sự nó dọn phá phía 



nghịch nhiều hay lả ít không chí nghĩa gi. Đồn Chí-Hoầ 
chẳng phải lã một cuộc xây đẳp tầm thường trước 
mặt quàn nghịch. Theo cách thế nỏ dẳpcao, xây chẳc 
chẳn củng các đồ cuộc đề chống cự phụ thêm, thi nó 
giống đồn đã khời làm trước giặc, nẻn phải đảnh nỏ 
như bất ki là thành nào xảy bảng đá vậy. Xem ra khổng 
ai biêt bái báng dỏ. Mẹo mực tiên chiến nương theo : 
sựbinh giựm tấn, tánh hung hăng ỉangsa và, riết tới, 
lượi lè đàm! Hết thảy chuyện nay dều khá quá với khí 
giải lúc đó, song ngoài dồng trống mả thòi. Chẳng ai 
đánh vảch lủy mà dùng cách như vạy, phải no là 
bằng đất đi nữa cũng không. 

Bây giờ chúng ta hảy xem qua các chuyện phía người 
an-nam. Ta khòng rỏ, lại có lẽ đến sau người ta chẳng 
còn biết đặng chính ỷ, tri vẽ dằn tẩm cúc dấng cai 
binh an-nam thề nào nữa. Dầu vậy, nhưngười ta muốn 
do theo sự tân lập các dồn bảo, lớp lang những điêu 
sinh biên xảy đến, thi ngưới ta phải ép minh nhìn biết 
các quan đó chông trả lại với nhữngchuyện biến nầv 
bêt sức minh, song chẳng hề khiêu thách nó bao giờ. 

Khi bo thành Sài-Gòn rồi, thi họ dam quàn gia 
minh thối vê Clií-Hòa cùng Thuận-Kiều. Dầu lảm sao, 
bỉết cỏ phải là ông tôn thất Hiệp dạy lập mấy đồnlùy 
người từ Chí-Hóa đi tới, mà đến sau nó dồi ra làm 
một cái trại binh trước hết, hay lá khoản dồn, hình 
có góc ngay và trong dó cỏ đương cải hiệp vo nữa 
chăng. Ba mặt dều có đồn hộ dực, còn mặt tày-nam 
thi ngay thẳng, đến sau nó trơ nèn tấm vách ngăn 
có tiếng, vi quàn gia chúng ta dến dụng nó cảng trở' 
Vòng tường nầv có một cái đồn nhỏ (Fort du man - 
itíari/ĩ) như nó không ngăn ngửa phía tảy-nam, thì 
rnó lại bẳn .yò trong phía ây .-Bồn thứ nhứt dó thất lộật 



/ 

trong sự sẳp đặt nỏ theo nghề riêng, má ìấỵ theọ 
phép thao lược thi Ĩ1Ỏ ơ vừa phái chồ ; đứỜBg Lăng 
Bức-Cha đi ngang khít mặt đỏng-bẳc nó đặng trồ qua 
đường Thuận-Kiều, cách góc bâc chừng một trăm 
thước langsa. Khoản đồn thử hai xem ra có lập thảnh 
là tại xây nối hai mật tàỵ-bắc với đông-nam chừng 
hai trăm thước qua phía tày-íìam ; vì khó mà dịnh 
dẹo rằng, dồn cỏ góc ngay dỏ dặng mồi bền chừng 
một ngàn thước bề dài mà dã lập trước, rồi mới xảy 
<fôn nội sau. ỉlai mạt rnỏ-i nầỵ dáp ngay thẳng mà 
thòi, khòng có đồ thế hộ dực, mồi mặt đưực một 
ngàn thước. Vậy chốn ải lang nầy xày lần lần từ khúc, 
nối nhau đi qua hướng Sài-Gòn, hay tả, muốn cho 
trúng hơn, thì nói nó cứ đẳp nới dài hai mặt luôn 
ngay theo đường, Iihờ vách ngăn từ chặng mà cầm 
nổ lại. Mặt di ngang qua dường thi một mình nó có 
đồ cuộc hộ dực mà thòi. Mặt sau hết hình như cái 
kềm có bầ cái đồn ngánh, hai cái hai dầu, còn cái 
kia tại ngạt; đồn ngánh tại mút phía Bỏng ở gần 
chồ cùng Rạch Avalanche lâm. 

Sẳp đặt như vạy, thi dồn tỏ ra cho biết ý cảc người 
lạp nó mảng chăm chỉ chống trả lại với giặc đi đường 
Thuận-Kiều xuống mà đánh vả di ngỏ đỏ đặng phạt 
nghịch đảng. Họ có lo điều cần kip đặng lảnh cho 
khỏi giặc di bọc phía Rạch Avalanche; nhưng 
vậy, như bẳt từ Sài-Gòn di qua cầu Thị-Nghẻ, rồi 
vò GỊa-Bịnh (Bình-Hòa) mà lên Lăng Cha-Cả, nghĩa là 
di theo dường nay thiên hạ kẻu lả vòng Bà-Chỉeu 
lờn (grand tour de ưĩnspection), thi co lẻ họ cũng 
phải bị đánh phía hậu nữa, song họ tưởng dúng súng 
dại bác minh mà bần giữ đặng dưỡng ấy chắc chắn. 

Cảc quan an-nam không tin có lẻ di phía BỒngMồ- 
Mả mà đến đánh đặng sao? Chuyện ấy xem ra tại cách 



ngăn ngửa và trí V bày binh bồ trân người an-nam, dầu 
cho người tàu thuở đó cũng chẳng khác chi hơn, họ 
không tưởng phải phòng ngự hai bên cùng hậu diện 
cảc thành đồn minh cho hẳn hòi. Nên biết đã mấy lần 
người thanh bỊ bại tích về sự như vậy. 

Đến sau, ông Nguyền-Trí-Phương có dạy lập đồn 
hờ tại đưò-ng. Ta xin nói lại. chuyện như vậy lả ngưỏá 
muốn hoặc thâu phục Sài-Gòn, hoặc làm cho binh 
langsa đến đánh phía người kiên bế hơn hết, song 
quèn- rằng kẻ nghịch nào mà thạo việc chằng hề đánh 
nơi đỏ bao giờ, lại hầng nông sức mà làm trái ý người 
ta tròng ước. 

Dầu thề nào, các tướng an-nam cũng hoài công vò 
ích. Họ không dám xảp gần làn súng dại bảc Sài-Gòn, 
jại lúc đó người langsa khớng di dường Thuận-Kiều 
mà tỏã (lánh họ. Khi ông tôn thất Hiệp gần mản 
quyền, người day qua phía Chợ-Lớn vả lo dứt thử 
đường quan thòng dạo binh nhỏ langsa với espagnol 
tại chốn thiêng thỊ ấy. Bởi dỏ, mới khai hảo có cặp 
bờ từ góc nam rnà qua chùa Kiềng-Phước, chúng ta 
đã biết chuyện ấy bất thảnh thề nào. Hào đỏ có ba dồn 
ngành hay lả cho dãn binh, nó đi 'gần ngay thẳng. 

Nhưng vậy, phải tin rằng ông Nguyền-Tri-Phương, 
thê cho ông Hiệp, dã bỏ sự minh định chừng trưức; 
xem ra người cũng sớm hiều biết người sẻ bị đánh 
nơi khác, chớ chẳng phải lả tại chồ ngưòi tưởng. Khi 
thấy quàn sĩ mình bị đánh đuối cách mạnh mẻ trong 
lúc hãm chùa Kieng-Phước như vạy, thi các quan khác 
cũng có íẻ thấy trước đặng một ít về sự chung ta tấn 
bmh bọc hậu, bảng chẳng như vậy, lảm sao mả giải 
cho ra hảng đồn xáy lấn qua hướng Tày (nó khởi 
sự tử đồn ngảnh trước hết đâp trên hào cỏ bai bờ), 
lậrn sao mà; giải mấy mô súng xày nới dả ỉ ngay theo 



— 302 — 


mặt đông-nam trại quàn cho được. Các lủy cóigỏc 
trờm ra lại vói mấy bảo lập đài theo hàng đồn, òùng 
hướng nỏ xày nữa, thỉ coi như một cái rào kia đề 
ngăn dở hcrn Jà đảng xà đặng tièn chiền. Bó, chúng 
ta đã biết, là sự tinh lảm mà cũng còn trật đi nữa. Lại 
điều như vỏv bởi iồi ban đầu mà ra, nên các quan 
tướng an-nam phải do theo cácchuyện cơ biến luôn mà 
chẳng hề khiến đặng nó bao giờ. 

Yày làm sao các quan ấy khòng khởi sự tại chồ mả 
họ phải lảm luôn một cách cho rồi? Mặt đỏng-ạam trại )à 
một cái kềm, cả trại có hình ấy mới phải;-. ngạt thì ở 
tại phỉa tảy-nam đường, một mép bên hướng Rạch 
Thị-Nghè có đường di ngang qua, còn Tĩỉép kia nằm 
theo hướng chung tày-nam. Người ta khôilg phòng 
giữ giặc bọc hậu nhiều hơn, song vừa kbởĩ dầu thi 
cỏ khi người ta đặng chẳc ý rằng giục sẻ áp đánh phía 
sau, vi kẻ tiên chiến không liều minh mà đi dường 
ở trong góc đạn súng bắn trái trả như cải kềm dã cho 
thấy. Bởi vậy bỉnh thủ trại có thế màsẳm sửa đồ cuộc 
mình đặng, kiên bế chồ giặc đánh vã lo một đưò-ng 
thối hậu cho chẳc V, lại it nữa đàng ấy 'đừng đi ngay 
theo góc bị đánh. Mặt hậu đồn, thì hình chung nó tỷ 
như cải mò kia xây khum ra ngoài, nên . cỏ lẻ nỏ cũng 
còn bị đảnh tại góc nữa, song khó hơn; ỏ* đày phía 
khum bác miệng lờn hơn là mấy chéo’ dồn có góc 
ngay. ~ 

Sau hễt, cách sẳp đặt như vậy không ngăn cảng 
đặng đừng cho đi ngang qua đồng, hay là lập đồn bên 
phía tày từ trại binh cho tới Bạch Ông-Buôn, ? dầu cho 
công cuộc sau đày không càn xứng với những diều 
phâi đặng. Hàng dồn nào mả chẳng dựa, vô mấy nơi 
hiềm địa tự nhièn (như quèn núi, đồng bùn, bực hẳm, 
Vi v), thi hằng phải giặc bọc hậu luôn — mộtcảch cũng 



— 303 — 

như dây đồn nầy — lại ví như người ta khùng có quàn 
sĩ cho đông, nhứt ỉà quàn sỉ ao chiến đặng bủa giăng 
tại dỏ mà nghinh chống, thời nỏ không ra chi hết. 
Lức %, ông Xguyền-Tri-Bhưo-ng không cỏ Ibử binh 
lính như vậy, người cũng chẳng đặng đủ đồng cho ải 
lang quặng đại minh, lại ở đó người bất thông dụng 
cách xày vách che lưng và tưừng dờ đạn mả cỏ hầm 
ần núp.Bề trại rộng trót ngàn thước xem ra chẳng 
chỉ cho tÉáy mánh lứi muốn lâm cho binh cố thủ (V một 
mặt khỏi 'ệị đạn phía ngoải mặt nghịch bẳn vảo sao? 

Ta khôĨỊg kề rỏ các diều. khác làm chi, sự ta mói 
tỏ bày đỏ lỉi sức làm cho hiều rằng, thi như các viên 
quan an-natn mả biết đa thiều nghề lập đồn lay, thỉ 
họ lại khôrg thạo cách dùng nó. Vừa ngăn giử đặng 
một cái đẻq hai bên bờ sòng hay là một cửa biền mà 
thôi, còn Vị sự ra kiều xày thành đồn nưi binh địa, 
các quan ấýtỏ minh chẳng thòng chút chi hết. 

BUÒI THEO ĐẠI BIiH AN-NAM 

Bởi gấp t cho chác chán tại khoản dồnthâu chiếm, 
không di đỊing cho củng trại mả tầm soát nghịch tạc 
cho chỏng, Ị;ần chàm thèm thuốc đạn, dời quan quân 
thưưng tícỉị lại trên hễt mọi sự, lả binh sỉ đã mỏi 
mệt, nên lảm cho bỗ qua tạm sự rượt theo binh an- 
nam. 

Bửa sau, £6 ĩévrier, vửa mưng dòng, có vải compa- 
gnie dam tpi khầu lòng 4 theo mà di vảo cảc khoản 
khác cho ửi đồn ngánh phía Bông bèn hướng Rạch 
Thị-Nghè. Ịivậỵ, người ta raứithấy đặng một phần binh 
thù trại 'đí ngỏ nào mà tầu thoát. «Khi đạo binh an- 




nam bị đuồi ra khỏi viên trại (camp du ầkmdurặi) 
rồi, dầu cho cỏ sứng lớn các Chùa bân, thi bọ cổng 
đi theo mấy vảch ngăn mả qua đặng bên đồn tại Rậch 
Thị-Nghè.»(P. d. 1. B.) { 

Vậy các khậứ 30 ở tại chồ ngưòâ ta trí nó tóc đỏ 
mà bần, thì nỏ không làm nên việc cũng như^ự dẵy . 
khoản dồn nghinh chống, vi mới vừa đảnh lất đặng 
khoản đầu mối việc, thời đủ mà làm cho bi/ỉh an- 
nam bỏ các khoản khác, ỏng Pallu de la ìĩarríère 
nói rằng, khi soán lấy viên trại thi dưỏ*ng?Thuận- 
Kiều đề tlíối lui thẳng liền bị dứt, nền binị cố thủ 
cực chẳng dã phải đi khoản nầy sang khoảẨ nọ cho 
tới hết, rồi lội ngang qua đám đất lầy lối (Ịng Rạch 
Thị-Nghẻ, ờ đỏ cỏ hai chồ trống cày, họ thun qua 
mà lèn đặng trước hết trẻn dất cứng, $auf lên Lăng 
Bừc-Cha, rồi đó mứi băng qua dồng irốn<j vóâ rửng 
chồi mà về đường Thuận-Kiều. Song cíuyện nầy 
không àn rập cho lắm với lõi ông ấy nói Ịthủc sau : 
«Gần hết thảy các vị súng bộ đều chôn ịrong dám 
rừng chồi, giửa mấy chề đẫ thuận tìnlệghi dấu, 
đặng đến sau ngưừi an-nam tứi dó mà tim.# Nếu 
thật nhừ vậy, thỉ cả đạo binh an-nam klụng cỏ đồ 
qua mấy bưng thuộc ngọn Rạch Thị-NghèỊ vì tại chồ 
dất nào mà một người còn lấy lảm khỏ mảtdav động 
sự nặng mình, thì nó khỏng sức mả cbỊụ cho đồ 
nặng như súng đại bảc dầy qua đó đưọ-c, cầu cho có 
nhỏ thề nào cũng mặt lòng. Vậy muốn chôí các khằu 
nầỵ cho xa trại quàn, thì phải dem nỏ ra tạiịchồ khạc, 
chớ không phải tại dầu trại phía Bông, s^ấy có lẻ 
chẳc như vậy, vi người. ta khó ưDg lý rẳng^một mặt 
đồn dải ba ngàn thước mà một dầu có mít cái cữa 
mà thôi. Vã lại, sách Monographie de ỉa rouince 
de Gia-Định mà Lrưó-C ta có hài tẻn, thi nqđã minh 



giải cùng nói rẳng, binh thủ khoản đồn chảnh đã 
chạy qua Tàn-Sơn-Nhi với Gò-Vắp, nghĩa lả qua hướng 
Tày-Bẳc vả hướng Bẳc trại quàn. Dầu cảch nào, binh 
an-nam cũng đã đặng hai ngày và ba đèm mả rút đi. 

Qụa 28, trời chưa sáng, đạo binh kẻo lên Thuận- 
Kieu, Ĩ 1 Ỏ có ba cái đồn ngăn giữ, người ta ngở rằng 
nơi đó- có sự chống trả rắn rỏi không thua gỉ Chí- 
Hoà, bơi nó mới thèm điều tầng trải cho người khôn 
ngoan và làm cho mấy kẻ táo tánh ra cần thận. 
« Quan thủy sư không muốn cho động quàn sỉ đã 
chịu nhọc nhằng cam khồ trong lúc hảm đồn ngày 
25, và đôi, cách đánh tủy theo địa cuộc đồn xây, nó 
(lã nối lên lại cỏ nhiều kho tảng với một cái mò súng 
cao nữa, nên người nhứt quyết dề cho súng pháo 
thủ lảm vai chánh trong ngày ấy mả thôi.» (Pallu de 
la Barrière). Quan chương thủy Charner làm phải lẻ, 
mả sao buoí đầu người không chọn cách sữa lại dó. 
Còn về sự dồn nồi lẻn nhiều ít, đặng định nẻn dụng 
súng đại bác mà dánh cùng chăng hơn là tiều thương 
với lưởỉ lê,íhi nó là một p!;cp luận ta đề cho chủ sự 

Chuyến nầy các việc phân dặt nèn trúng lỷ, song 
nỏ không cộn gặp chuyện mà làm nữa. Người ta thấy 
trước mảt có một đoàn binh hờ chừng tám trăm, 
mả súng họ ở tại đồn tiền mà bẳn ra rân trời, lả có 
ý che lâp cỊto binh rút đi mả thôi. Súng an-nam bớt 
bẳn lần lầựmaulám, lại pháo thủ đạo colonne đối 
xạ có 15Ơ phát mà thôi dụng dứt tuyệt nó đi. Binh 
bộ đóng tròng các đồn -và trong làng, quan quàn 
không haợ bao nhiêu. Nhưng vậỹ, có vải tẻn linh 
chasseur bi-đạn sa nhằm. Lúc vừa khai trận, cỏ một 
trái hỏa p|Ịi đồng xi lớn tiếng lảm cho con ngựa ông 
quạn năíri*£rouzat thất kinh', nèn người té xưống va 
bỊ vít nặngỊíioú trái vế. 



Khi thàu ba đồn, thi đạo binh xuất trận lấy đặng 
1.400 tonne gạo, thuốc súng, đạn, siêu giáo, súng 
ống pháo thủ nhỏ lòng, 20 vị bằng gan lỏng 16, đồ 
" dạc quàn lỉnh với tiền quan. Các người an-nam bị 
thương dã dời đi trước rồi. 

Qua ba giờ chiều, binh langsa cất lèn Hóc-Mổn, 
Uạch-Tra, và Tày-Tbủy. Trong lúc di như vậy, có 
nhiều kẻ bì trúng thử nặng lẳm. «Ngày đó có một ỉt 
người phải náng mả bỏ mình. Kẻ khác trỏ* ra dièn.>; 
bởi binh sỉ chứng ta chiu theo sự sa mê tự nhiên 
một chút, nghe lời các quan và chinh vi lương y bảy 
biều nữa, nên cỏ uống nhiều rượu mạnh cùng rượu 
nho, mà tội nghiệp cho mấy người ấy không dè rằng 
rưọ-u mạnh đó làm cho thươog thử (1) mau nhiềm 
vào minh. Lối năm giờ, tiền dạo nhộp đồn Tảỵ-Tbủy 
mà binh an-nam đă bỏ đi, dinh trú lại đó cho qua 
dèm ấy. Người ta gặp tại chốn đó có mười bốn chiếc 
thuyền chiến kéo lẻn dề dựa bò* dẳp; nỏ ở đó kề 
từ khi lấy Sài-Gòn, nghĩa là đã đặng hai năm. 

Người ta cũng cỏ gặp một chuyện khác buồn 
thảm hơn nữa : lả sáu cái thày người có đạo bị chém 
lấy đầu cảch gớm ghiết một đôi giờ trước, mà mình 
hẵv còn gông cùm vấn vít. Bữa sau lại gặp bảy thày 
khác chôn cạn lắm, người ta tưởng nhìn lại được 
trong đám tử thi nầy cỏ mình thầy dội lính bộ thuộc 
thủy dã phải tay người an-nam sanh hoặch sáu tháng 


(1) Trong sách truyện của quan tưứag Koberts thuật lại về 
lúc người đi đánh giặc bên xứ Ảỉghanistan (1879-1880) thì thây 
nói như vầy, có trong một ngày mà hết mười bày ông quan 
với người nữa d'êu bị cẵm thử, song cò một mình người thoát 
khỏi mà thôi, quan tưứng lại thêm rằng mười sáu vị kia đắm 
tửu lắm. 



— 307 — 


trước (í). Chuyện mọi rợ như vậy lảm cho lương tâm 
người tày chồi dậy, vi dã lầu đời chẳng còn chịu điều 
hưng dử chỉ về việc đạo đức nữa, không nhần nhịn sự 
ăn ở dộc ác, huống lựa lả giết quan quàn bị bẳt 
trong lúc giặc giă. Nhưng vậy, theo phép an-nam thời 
những điều ấy làm phải lẻ, luật hình lên án tử cho 
cảc kẻ nảo đem dạo « tà » vô xứ (diều 144 với mấy 
chỉ dụ) hay là giục dàn dấy loạn (điều 243, 244 với 
các chỉ dụ). Khi ấy người có đạo là tội nhơn củng 
là kẻ bị băt trong lúc giặc giã nữa, vi nhà nước an- 
nam đỏ, mà lại nhà nước tảu nữa cung chẳng khác 
chi hơn, không muốn biết ở ngoải xứ minh mà có 
nước nào dã giảo hóa. dỏng cường cùng tự trị, đặng 
phải ăn ở cho quản bỉnh. Ngoài cương vực dế quốc, 
thi cỏ tinh là mấy chi phải man di, quàn đồ hung 
ác đức và đảng nghịch cùng chảnh giáo mà thôi. 

Tri dốt nát ỷ quyền, lỏng tối tăm cứng cỏi bất 
khấng kề tới kẻ ngoại phương, tánh sâu độc muốn 
riêng cho minh lộp luật như vậy, thi chẳng kíp thời 
chầy phải tàn hại cho gia quốc; vi như tám tánh 
dòng dỏi nào mà có lẻ chẫng giống đặng với tàm tánh 
các dàn khác nơi trần thế, thi như vậy dòng dỏi đỏ 
khổng cỏ phép tỏ minh kiêu căng, độc ác với dản 
khác, bằng chẳng, rốt việc rồi, nó hẳng chịu cho 
người ta dùng sự hung dử mà lảm cho nó khử tả qui 
chánh luôn. Bó là chuyện đã xảy đến cho nhà nước 
việt-nam. 

(1) Cáqh thầy đội oầy bị bẳt thì ông Pallu thuật lại như vầy: 

«Thầy ấy di tứi Ch<r-Lứn, thuỏ- dó nó lả một chồ nghịch. Chẳng 
bao lảu thiên ha tựu chung quanh thầy. Có vài ngưòú an-nam 
chi một con gà mái raả dố thay bắn cho trúng. Bó là một kế 
dùng vói ngưòi langsa thỉ chắc đưực việc lắm. Thầy ấy bắp, 
rồi bị chúng thộp liền, t 



— 308 : — 

QUI THUẬN Xứ CHIÈM ẼẬNG 


Vừa qua bữa- sau khi đã đến tại Tày-Thủy, thấy cổ 
nhiều lảng ra đâu thủ, chiếc Dragonne đi ngã Bến- 
Lức mả lẻn cho tới Tày-Ninh, đã ra công nhiều mả 
giúp vô chuyện ấy. Về (lạo binh an-nam, thỉ nó dã vỏ* 
tan tử hướng. Phần nhiều trong những binh chiêu 
lạp tại Nam-Kỳ cùng các lính đồn diên đều trở về 
làng minh; mây kẻ khác kéo nhau từ tốp mả qua 
thành Bièn-Hoà, xuống Mv-Tho cùng Vỉnh-Long. Quan 
thượng tướng Nguỵền-Tri-Phương, bị dạn nơi kiến 
Uy, đã lui về Bièn-Hòa, mà bởi người !à tưởng thất 
trận, nèn khồng nhạp thành ấy đặng. Quan nầy cùng 
tàn tốt người đóng tại nồng kia cao hom tỉnh thành 
(Giốc-Sỏi). Ong Nguyền-Tri-P hương ở dỏ dưọ-c chửng 
sáu tu im lề, cho tới khi có lịnh đòi người về Huế; 
cách hai ba tháng binh gia người mới về theo. (1) 

• Khi lấy đặng xứ xong, thi cỏ cho may đạp colonne 
mobile đi soát lục khắp chốn ; các tàu thuộc đạo tiều 
thuyền cùng mấy chiếc tàu trộn lởn nữa đều chạy 
sòng nầy qua rạch kia khổng dứt. Quan thủy sư Page 
ngữ Biẻn-Hỏa, còn ông phó quan năm thủy Bourdais 
giữ hai sông Vủng-Gù với Bến-Lửc. Cũng trong lúc dó 
quan thủy sư đề dổc Gharner truyền phàn phát vết 
thị cho nhơn dàn và dặn bảo các quan hay cuộc 
thám thính về những người ấy mả rang; 

( I ) Dó là truyện của các ngirừi trưửng lào văn chưong ỏ- Biên- 
Hoù thuật lại. Còn đảv có một cái khác của ông hạp Hưọ-C, là 
người trước tùng ỏng Phan-Tlianh-Ciàng, lại trong năn) '1861 
người cỏ ở Biên-Hoà: ((Khi thất thủ tại Chi-Hoà rồi, ôngNguyèn- 
Tri-Phưcrng lui về Phan-Ri đặng kiếm thuốc mà xức cho lanh vít 
noi cườm tay người và đọi lịnh triều, ử đỏ dặng ba tháng, 
kế ngưòi về Huế. » 



— 309 — 


Gác ông nói cho chủng nó rỏ rằng luật lẻ chúng nó sẻ trọng 
kinh; chúng nó an tàm đặng má lo buôn bán, cày cấy và chở 
huồ lợi minh đến Sài-Gòn. Chúng nó phải tin chắc rằng, dcri 
cảc quan an-nam cai trị dà mản dứt, nhưỡng chồ lại cho dại 
quốc Langsa chấp chánh, nèn nhỉrng kẻ nào nhìn biết qudrn phép 
chúng ta và lảm lôi chúng ta cho trung tín, thì chúng ta sẻ 
hết iòng phù hộ . 

Đặng làm cho tiêu tan dấu Lích tiền nhựt, thòi các ông hãy triệt 
hạ mấy đồn bảo nào mà các ông gặp noi đường di qua, ỉại muốn 
cho hủy tuyệt nó đi, các ông hảy dùng lấy dàn sự chung quanh 
mấy khi có thế dược. Các ỏng dành giết bất dung mấy quân 
hoang nào tròn bộ mà phá tán trong xứ, và nhửng dảng ăn 
cưó-p khuấy rối sự thông hành noi hòng rạch. Song các ông hăy 
dề cho các ghe thuyền diính cả hay là buôn bán đặng đi thong 
thả. Sau lại các ông phải tom góp các sự tích nào thuộc vê xứ nầy 
mả hửu ích cho phép cai trị, cuộc ngán ngừa, bề huẻ lợi và 
phương thế thương mải của nó. 

Về Ông quan ba thủy Guỵs, lảnh việc bang giao tại 
địa phẠn Táy-Ninh, thì quan chưởng thủy hạ bút 
như vầy : 

Ông sẻ lãnh sở hay việc bang giao, nhứt là chỉ về các diều 
chúng ta thống thuộc vỏ-i nhửng ngưòi cao-man. ông hãy hứa 
trọ- giúp và hộ vực cho chắc chắn hết thảy dàn sự nào ở bằng 
yên lại đất chúng ta; lại, về sự nầy, ông hảỵ còng luận vói quan 
cai binh thú ồ- Tày-Ninh. òng phải kiếm thế mà lập sự thù tạc 
thuận hao vói các đầu mục nưỏ-c Cao-Man. ỏng hảỵ nối vói chừ 
quan n'ây rằng, chúng ta ỏ- hòa thuận và ao ước giử sự ấy. 
Piỏi tắt một lời, là ông rán sức mà làm cho chung quanh ông 
đặng sự bình tịnh cũng an tàm, lại ông hảy năng cáo báo cho la 
rỏ về thi thế chốn cơ nghiệp làn tạo chúng ta thề nào. 

Sạu lại, về vua nước Cao-Man, thời quan thủy sư 
cỏ cho ngươi đam dưng lề vật với một bức thơ (24 
mars 1861). ỏng quan ba thủy Lespès, là người hết 
lỏng rạ- công gi úp một phần việc trong-lủc chiến tràng, 
phụộgỊảnh chuyện sứ sự nầy; òng ấỵ đi chiếc aviso 
NoỀỈagaray thuộc ngưòâ cai mà lên Kampot. Trong 
thơ đó. hỏi rằng : 

% 

* 



Cảc chuyện biến sau tại Nam-Kỳ đà thấu đến Bệ-Hạ. Bé-Hạ ro 
chuyện quản sỉ langsa vói espagnol dã duồi binh an-nam ra khỏi 
các dồn Chí-Hoà, còn Sài-Gòn nay dược rảnh rang, lại dạo 
binh nghịch thất thủ vở tan tứ hướng. Nhơn dàn các miền chung 
quanh, ỏ- thậm viền, đều tuôn tới hàng đầu và chịu sự phù tri 
dà hứa vói chúng nó. 

Ý nước langsa là muốn gìn gi ừ đất mình chiếm cứ, lập ra 
một cỏi thuộc dịa tại Nam-Kỳ và đem mọi ơn lành bởi sự giáo 
hoả phương Tây vào đó. 

Bấy lâu nưó-c Cao-Man hằng giao lièn hữu với nưức Langsa. 
Tôi trông cậy rằng, khi các chuyện chúng ta thù tạc với nhau ra 
năng có hơn, thì cũng ườc cho nó ra thiết yếu hơn nữa. 

Tôi là thống lảnh thủy bộ tại Nam-Kỳ, vá thay mặt nước 
l.angsa, tỏi đến tấu cho Bệ Hạ tường tận ý chúng tôi muốn ăn 
ở tử tế hết sức với nước Cao-Man, cùng báo dáp mấy chuyện 
khi trưỏ'C dửc Thái Thượng Hoàng hằng làm mà tỏ lòng hoà 
hào và tinh ngải với kẻ thay mặt dức Hoàng Bế cao trọng lang- 
sa ơ tại Sài-Gòn. 

Tỏi cũng xin trọng kỉnh cho Bệ'Hạ hay, một ít lâu dây tôi sẻ 
tính dam binh gia xuống Mỷ-Tho và thâu chiếm thảnh ấy, là 
nơ) kinh chống sau hết của ngưỏi an-nam ở phía nước Cao-Man. 

Như thánh ý. Bệ Hạ muốn tính viẻc chi, thi có quan cai tàu 
aviso Norzagaray của dức Hoàng Bế dặng phép công luận. 

Tôi xin kỉnh dàng cho Bệ-Hạ 

Sự lo ỉ ẳng với vì vương đế cao-man như vậy thi 
được viền thành. Vua Norodom (l) cỏ đáp lì vả sai 
một bộ sử tára mươi người xuống (sau ta sẻ nói 
chuyện nầy). 

Mồng to mars 1861, binh sl trở về Sài-Gòn-Chợ- 
Lớn, de một compagnie binh bộ thuộc thủy với một 

( 1 ) Vua Àng-Buông (Néăc-Âng-Đuông) băng nhằm năm 1859; 
thai tử người kế vị xưng là Norodom. Vừa qua tháng avril 
1861, thì vua nầy phải qua Xiẻm tị nạn, vì có loan lạc nồi dậy 
boi mấy quan theo phê ngự dẻ người xúi giục, tén lả ! Si- 
Vattha, con thứ ba vua Ang-Đuòng (con thứ hai là Phra-Keo- 
Pha); nám 1862 binh xiêm dem ngữòi v'ê nước, song qna cho 
t(ỳi mồng 3 juin 1864 mỏ-i làm lề tôn vương. 



— 311 


compagnie lính an-nam(t) ở lại Tây-Thủy, nỏ cỏ lành 
một khẳu đại pháo thủy 30 mả đề trong đồn. Một đạo 
colonne mobile vởi hai vị quá sơn bẳn trái phả đề 
tại Thuện-Kiều, còn một compagnie lính bộ thuộc 
thủy lại ở giữ Cbí-Hòa. Sau một ít làu, trót cả trại 
binh đều bị triệt hạ, trừ ra một cái đồn lập nơi đường 
mà thôi, củng đặt tên là Bồn Testarđ, đề mả nhớ tích 
ồng. phó quan năm bị thương nặng trong ngày 25 
íévrier. 


LÃY THÀNH MỶ-THO 


Bây giờ đạo binh sai đi đảnh giặc được rảnh rang 
vả thong thả mà lo qui chế đất đã chiếm cử. Nhưng 
vậy, xét theo việc binh, thi sự thâu đặng xử Gia-Bịnh 
không cho phương thế quản suất cỏi Nara-Kv. Đường 
đi ra Huế, nghĩa là ra chồ chứa đại binh an-nam, khi đỏ 
trống trẳi, cỏ thành Bièn-Hòa giữ nó, còn miền trung 
châu đích danh không ghé vảo được, đường thông 
thấụ hoặc khó di, hoặc chẳng biết, vốn thật có hai 
ngọn rạch làm cho Sòng Vủng-Gù thòng với Sông 
Không : 

a) Rạch Arroyo de ỉa Poste nay người an-nam 
kêu là Rạch Bảo-Bịnh-Hạ, còn các bản đồ lúc đỏ đề 
tên là Rạch Run-Ngu và Rạch Vung-Ngu. Rạch nầy 
sàu, đồ mau, trử ra chồ giáp nước mà thôi ; khi ấy 

(1) Theơ lời ông quan hai Baulmont thì nói quan thủy sư 
Charner cỏ lập bốn compagnie lính an-nani N theo lỏi nghị ngày 
24 mars 1864. Lời nghị đó Um lại không được. Quan ấy thẻm 
rằng : (Xem ra các sự dược việc về chuyện nay dều đặng phỉ 
lòng, bời, vì, qua mồng 4 tévrier 1862, có lòi quan Nguyên Soải 
Nam-Kỳ định lập ba cỡ bataillon lính bốn qnỐc.B 



nó cỏ nhiều khủc hàn bit 'lại; một cải đơồrng lộ bị 
nhiều ngọn nước nhỏ bứt ngang, di dọc theo bẻo 
phía tày rạch ấy và dang khỏi bờ khúc gần khũc xa 
không đồng, còn các cầu dã bị dứt đi hết. 

b) Rạch Arroyo Commercỉal lừ Vàm-CỎ má qua 
Bại Giang, thì mấy khúc nó ỉại kêu là Rạch Chanh, 
Kinh Bà-Bèo, Rạch Cua và Rạch Ba-Rải ; nó bị cỏ 
cây vỏ-i bùn trịn lấp cạn ; ghẹ nhỏ đi được mả thỏi, cho 
nó đồ ra là phía trện Mỷ-Tho. Bương nườc nầy xem 
dường như ngọn Rạch Arroyo-Chiuois nởi dài đi thâu 
qua trong xử. 

Sau lại, lúc đỏ người ta không tìm được lạch cưa 
tìại Giang. 

Thì thế thuở đó bề ngoài xem dường như một 
chốn giang sơn cơ nghiệp lạp vững chầc, nhưng vậy 
nó hẳy còn đơn sơ củng hòng toan sinh nhiều chuyện 
buồn sầu lúc sau cho đạo binh. Quan thủy sư Charner 
hfêu rỏ sự ấy lẳm, lại vỉ dầu quàn sỉ đang Ihỉ mệt 
mỏi, các quan cai binh tầng trải trách cứ, thì người 
cũng nhứt quyết làm sấn mọi chuyện, vì người nghĩ 
rẳng, như không lo xong YÍệc ấy cho kíp, thi có khi 
mùa mưa hòng đến sẻ trì huởn trót một năm (l). 

(1) Ta viết mấy hàng nầy ra là do theo lời ông Pallnd d la 
Bairière thuật lại. .Bề thế vị chép sách dó, sự ngưòi có mặt 
tại chồ, thì đày làm chứng thật chuyện có y như vậy, nén ta 
khồng có lý nao mà nghi ngỉr. Dầu vậy, ta cũng xin kề lại lòi 
nói nghịch trọn của ông quan ba L. de Grammont (Sách Onze 
mois de sous-préỊecture én Cochinchine, trưcmg 274): 

♦ Nhưng vậy, tri người ta dã biến hóa vạn kế man hợn là ỷ 
quan thống lẵnh ao ước, bòn tánh mực thưó-c và dè dặt ngưòi khi 
ấy có chống trả lại một chút vối sự thắng tới bắt hết thảy mọi < 
ngưòi chiu theo. Bởi đó, vụ sai binh dánh Mỷ-Tho (từ mồng 10 
cho tới 15 avril) là tại ông phó quan năm thủy Bourđais gạỵ 
đầu có danh, sau ngưòi bị dạn ma chết về chuyện ấy, nén xem 
ra như nó cỏ ép quan thủy sư một chút. » 



- 313 — 


Không chẳc rằng mùa mưa ỉt đẳc lọ-i hơn cho cuộc 
hành quàn ròng theo sông rạch ấy, vỉ kề từ đó tơi 

? hừ ' íỉí s . ựlảm thử đã chỉ ra > hề cỏ nhiều đám mưa 
lứn, thỏi djch khí cùng là bệnh rét năng sanh trong 

lúc gần cuối mùa khô dềư tuyệt hết, lại có mưa như 
vậy mặt nưổ*c nồi lên và làm cho các rạch ngòi ra 
đi đặng còn trước khi chưa mưa thời nó ià như 
doog nước rặc kia chay mả thôi (I). Song, trong khi 
chẳng rỏ các chuyện nầy, thỉ thiệt khá hơn là đừng 
đợi, đừng đề cho kẻ nghịch có ngày giờ hồi tàm 
cùng sắm sữa binh sỉ nhiều hơn; chắc íẻ khôn hơn 
hết lả ‘tấn tới dẳu cho phải liều nhiều sự cẳ thề di 
^ miềng là làm xong việc thì thổi. Ngưò-i ta phai 
hà tiện hao nhiêu về mạng sống con ngươi lúc có thế 
mạnh khỏi thí quân nhơn, thi cung phải bất vỉ tới nó 
lả bấy nhiêu khi chuyện tính lảm ma có đặng tấc thanh 
là phải liều như vậy rpới được. 


. t iỉ ác ^ gàrthán 5 ra đó khỏng trủn ể> v ề tánh ý quan chưởng 
thủy Chứner cung vậy ít nữa là ngưỏ-i không có ứ minh ra 
thễ ấy tại Chi-Hoa Ta xin d’ê sự bao biếm la lại dó. sử ký cung 
vấn tích lại gốc sái nữa, dó là hai vị dồng thi (ông De Granà- 
mont là qụan ba thuộc về co régiment ĩòĩe de lỉgne, dến tai 

Nam JồL, nh o rĩ ! tháng Juin 186í ’ n &* ời v 'ê Táy lối cuoi tháng 
mai i 862) cả hai chép cũng một chuyện mà ý ỉại nói nghicli 
nhau, nẻn không có ich mà biết vì lảm sao như vậy chăng? 

(1) Đến sau, ông phó quan năm thủy Via! cỏ viết lôi n'ẩỵ 
trong sách Les premiẻres années de ỉa Cochinchiĩìe cua 
ngưòi, chỉ về vụ chiếm cử ba tỉnh bên hưỏ-ng tây : 

<< Khi hết thảy công cuộc d'êu chở di đàng thủy, thi sự hành 
quân bạt thiệp trỏ- ra ít hiần nghèo hơn cho người tây trong 
mùa mưa. Khi dó chỗ nào chỗ nấy ngưòá ta dềìì-gặp có nươc uong 

ỉinh dtit dạng, ít bị trúng thử. Phong' tho 
u khi dồi man, còn trong mùa khô, khí trời ngụi bởi dêm thanh 
giại hưi nống lẻn mà làm cho nhiều người phai bẻnh hạ lợi. * 

21 



Sô biah SI không đũ sức cháng chường mả dánh 
Mỷ-Tho và Bièn-Hoà một lược. Các tin tức đã đặng 
về thành sau dây thì tỏ ra rang QÓ đe lấy ; vi dầu khí 
giới, dầu tâm tinh binh cố thủ cũng không đủng lực 
mủ làm cho khảm các điều địch chiến buộc. Khi chắc 
ỷ thề ấy, người ta tương có lẻ đề dẹp tạm thành 
nầy lại dạng; nhưng vậy, tại Thủ-Dầu-Một, trên mé 
tả Sòng Sài-Gòn, dã sầp đặt đồ cuộc chống cự, đặng 
hờ sau binh sỉ có đường đi qua cho chẳc ỷ, lạixbúng 
quanh thành Biên-Hoà, kề từ đồn đầu cầu. đỏ sấp 
dẫn xuống, thì đã cỏ òng quan tư Comte, hay linh 
chasseur bộ, thám thính. 

Cũng trong lúc ấy, có lập ra raột hội, kề là ông 
quan oăm thủy Du Quilio, ông quan' tư binh' ki tại 
bộ thuộc dinh De Cools với ỏng qụan tư thủ hị ÀMizé 
de Matignicourt, hội nầỵ đi tới lại Sông Vung-Gù 
đặng dọ cho biết Rạch Arroyo de la Poste . Mặ bỡi 
khi đó nỏ có hàn, lại các cầu bẳcdài theo quản lộ đều 
phá đi hết, nên -không thám thính cho Xa đặng ; 
nhưng vạy, hộỉ ấv bàn ưng rằng, người ta cỏ thế mà 
sữa đưò*ng lại trong hai mứơi làm ngày mà thôi,' đặng ; 
dầy súng ống pháo thủ. Dầu .mắc phải các sự hgărí 
trở ấy, quan thủy sư-Charner dũng nhứt quyết 
đánh Mỷ-Tho, vì người hiều thấu chuyện hậu nhựt thề 
nấo. Nhưng vậy người không bỏ qua mả chẳng trứỵ en ‘ 
kiếm các đường- khác, vả nhứt lả ngo ở ngoài Biền' ỢỊà 
vô Bại Giang.’ cỏ một vị kia giỏi việc dọ song biền, 
là ông quan ba thủy Lespès., vàng lịnh đi với chiếc 
aviso Norzàgaray thuộc về người cai mà tim lạch. 
Ngưíri trở về, chẳng gặp đặng sự chi hết. Qua tám 
bưa sau, là ngày 26 mars, hai chiếc Liỉy với Sham - 
jRocfc có đi do thử lần thứ hai, mấy chúa tàu cai nó 
là hai ông quan ba thủy Franquet với Rieunier, ở tại 



— 315 — 


Nam-Kỷ dã dặng bốn năm; quan bát vật hay về bải 
biền với đảng nước, tên lả Ma nen, có nhập vảo cuộc 
do thám ấy, như ngưòi đã dự vô lần trưức vậv. 
Chuyến nầy nữa, người ta củng khỏng tim đưọ*c sự 
chi cũng chẳng kiếm đặng nơi náo tiện mà độ binh 

c ỷ n các đổn c “ a ngưòi an-nam thì bân giữ 
một. khoảnh rộng xa lắm. 

Ngày 26 mars, ông phó quan năm thủy Bour- 
dais (cai chiếc JỈ/o/^e) đã ở đặng mươi lam bữa 
tại vàm Rạch Arroyo de la Posie, khi đỏ đặng lịnh 
dạy tấn đạo tiều thuyền tửi mả đảnh Mv-Tho. 
Binh gia tàu 'hãi. người kề đặng hai chiếc canon- 
niẻre Mitraỉỉỉe, Alarme , ba chiếc canonniẻne tiều 
hạng^ S ; (M8, 20 với 31; hai trăm lính thủy lên 
COm P a ^ e t^ủy thu thượng ngạn thuộc 
chiếc Mọnge, 30 người espagnol vỏi một khằu qua 
-nb^trái phá có mười tên linh lo việc bẳn 
thuộc tậu Impératrice-Eugénie. Ong quan ba binh 
bị MaUet với .òng quan ba Haiỉỉot tại bộ thuộc 
dinh đều. phụ vò đạo cotonne ấy. 

Tư ngay 27 cho tóâ 30 mars, ỏng phó quan năm 
thủy Bourdais lảm- hết sức đặng đi qua Rạch Arroyo 
Commercial mả không được, vi nỏ đầy tinh bun 

tr í n ; y< li cỏ cản trơ, lại nhằm mùa ấy nươc 
nó. vít lắm, nên có một i minh ghe. nhỏ tròng xứ 
- đi ^c mả thôi (0;. Kỉ?i đó mởỉ biết đàng nươc 
nay đi không đặng, nên người ta trở lại Bạch 
Arroyo de ỉa Poste. là nơi bưa mồng một avrji 
có các binh sĩ hội hiệp. 

(1 J Sự' không hiều chúi chi v'ể cuộc nước vần xây sau khi đà 
•V: ở tại Nara-Kỳ đặng- ba năm, thi lúc ấy nỏ quá lắtn, õho đến <fèi 

tcong lòidụqnan thủy sư dềdốc Charner, thấy người nóirằng có iẻ 
V a nưó,c Không dưng thình lình » lối cuối tháng mars I 
• » 



- 316 


Bang khi do ihảm Rạch Arroyo Comịnercial, 
thi chiếc Mitraiỉle lại phụng mạng đi vô Rạch Ar- 
ròỵo de la Poste, nỏ có phá đặng hai khủc hàn. 
Cũng một khi nó lại dọ được khúc hàn thử ba, hài 
bèn có hai cái đồn giử. Vừa bước qua mồng một 
avriỉ, các đồn nầy dều bị súng lởn ở xa lối 1.200 
thước bẳn phả đi. Mồng hai, người ta đi tới gần 
hơn, song rủi chiếc canonnière Mìtraỉlỉe bị mẳc 
cạn xa hai đồn ấy chừng 400 thước, nỏ không 
lui lới đặng, lại cản đường chiếc Aỉarme. Thò-i 
may, ba chiếc canonnière nhỏ số 18, 20 vứi 31 
vẹt dược một đường mà đi qua cùng đến đậu 
xa vừa làn súng đoản mã đồn, rồi cảch một hồi 
dồn ấy chịu phép và bị soán lấy liền. 

Người ta dụng ngày mồng 2 với mồng 3 avril 
mà phá hàn. Còng chuyện lảm dưới nước, dưởi 
bùn dó, thì cực khồ luôn luôn, lại chuyến nầy càng làm 
cho mấy người phá hàn phải mệt nhọc vả khốn 
hại cách rièng, có nhiều kẻ phát rét hay lả bị hạ 
lợi, cũng cỏ kẻ vương lấy hai bệnh đỏ một lưọ-c, * 
lại càng làm điều rủi ro hơn nữa, là thiên thời 
sinh ra trong đạo colonne. Có lẻ cho tới ngày nay 
miền Mỷ-Tho cũng chưa đặng tiếng tốt về sự sạch • 
sẻ thanh khi, ở đỏ thiếu. nước ngột một phần trong 
năm, lại dịch khi mà người ta gặp một ít khắp nơi 
trong Nam-Kỳ, là xứ thường sanh, thỉ nỏ có lệ nhiều 
hại miền ấy nhiềư hơn các cho khác. Song nó không 
nặng cho lâm, vì, nhờ các điều răn bảo đề phòng 
tật bệnh đã tuân cử nhặt nhiệm, cùng sự hẳng coi 
sóc nước uống luôn, cho cỏ thế mà lánh khỏi tai 
nàn, nén ngày nay người tày ít khi lâm phải bệnh 
ấy, trừ ra , đôi phen tại chẳng cẫn thận đáng chê mả 
thòi. Lúc đó họ không biết phương đủng ; cách họ 



chọn, thỉ thường, thường nghịch với cách phải dụng. 
Nhưng vậy, khi đề dẹp các lẻ xem xét chung nạy 
lại, thời phải biết râng, khi quân sỉ không được 
sức khoẻ thì nó làm cho dề sanh ra bất ki lả 
chứng bệnh nào. Mấy kẻ gan đởm ấy mỏi đánh 
giặc xong bên Tàu, phần nhiều ỏ- tại cảnh Đông 
nầy đã ba bốn năm; nên cách sống nơi dinh trại 
sự hành bộ diêu viền, cư trú lâu ngày chốn biền giả, 
phong thồ năng mau dời dồi, thời làm cho họ phải 
bị giảm khí lực khôn sai; lại như số tử chê, chẳng 
sá kề mà đung mạng họ nơi chiến tràng, thi tại đày 
nó lại ở hiềm, trở lòng rinh họ đặng hại, mả họ 
cung không biết được ở đâu mả đến, 

• « Thấy họ di cóng rống, run en như vậy nơi 
miền nhiệt đạo nầy, lại khi tiếng đại pháo vừa êm 
lặng, thì' thâu dèm thàu ngày họ nồ lực dọn một 
dường tại đất địa sát nhơn nầy mà đi qua, nẻn ngưòi 
la có lẻ nói đặng rằng, họ hưng tàm quyết theo ỷ đã 
định phải đánh lấy Mỷ-Tho. Hề có bịnh, thì đem lần 
lần xuống mấy chiếc chaloupe chở ngựa mà sang 
qua hai tàu canonnière Mitraille với Aỉarme, kề 
từ mồng 2 avril thì hai chiếc nầy đã dậu xa, vi bị 
mẳc. cạn. » (P. d. 1. B.) 

Qua mồng 3 avril, đường đi qua đưọ-c thong thả 
lại nữa, có một cái đồn thứ ba tại giáp nước, bẳn 
giữ hai khúc hản, nổ liền bị đánh tức tốc. Mới vừa 
giao chiến, quan cai binh an-nam bị đạn bẳn bay hết 
một vai; nên sự đối địch chóng mau yếu ớt, binh 
an-nam chạy trốn, còn dồn phải một compagnie linh 
thủy soán lấy. Dây thêm một điều íiữa dáng ghi dạ 
chỉ về tính khi người an-nam, nó lảm cho hộ đảo 
tản khi tướng mới vừa bị lụy. Bã không dùng cớ 
quan ấy chết mả giục lòng chống trả, ao ước chẳng 



— 318 — 

ngứt báo thù cho người, họ lại lấy đó lảm sự thất 

f hí ’ y à cho tin rần s mỉnh y ếu sức mả thoi. Đó 
lã một điều tóm thâu quyền hành mạnh mẻ quá đồi, 
một sự giáo huấn đã hai mươi đời ròng về chuyện 
phải/àng phục trọn, làm cho dân nước Đại-Nam ra 
thề ấy. Khi có một vị náo có chí cấn cố, một đau 
mục nào cỏ tải xuất thản diu dẳc, thi họ gan dạ, làm 
phấn chấn mọi việc, mả khi đầu mục ấy vừa khuất 
đi, thời họ chẳng có sự tin Cạy minh cùng mất tri 
lực nưa. Chính' vi tính khí chúng ta không giống 
chút đỉnh nào như thế sao? . 

Nhưng vậy, khi đỏ người ta mới đi đặng nữa 
đương Mỵ-Tho mà thôi, ĩại ví như cho tới giáp nước 
mả sự ngăn trở đã thắng đặng nhứt là chỉ về vụ pha 
mấy hàn, thỉ nay có khí . người ta phải lo sợ phía an- 
nam dịch chiến hẳn. hòi tại rạch ấy, sánh ra, thật hẹp 
(bề ngang từ bốn mươi cho tứi tám mươi thước 
langsa màthối), hai bên mé mọc đầy rừng bụi, ởđỏcó 
lẻ bị đánh thinh linh. Bày giờ, sợ khôn ngoan khuyên 
bảo phải bẳt binh bộ đi theo trèn bờ mà giúp cho 
các tàu canonmère tấn tới. cỏ lập đặng một đạo binh 
tiếp, nó đi chiếc aviso Echo mà ra khỏi Sài-Gỏn 
nhằm mồng 4 avril; nỏ kề đặng 200 linh chasseur 
bộ, hai compagnie binh bộ thuộc thủy, 100 lính 
thủy, 50 binh bị, hai vị 4 lòng nứa, hai khầu quá sơn 
bẳn trải phả (1), 20.000 bi súng binh bộ dự phòng 

0 ) ỏng Pallu đe la Barriẻre nói lả « súng quá sơn lòng nứa 
bắn trái phá thứ súng đó thuở nay chẳng hề có bao giơ. Bai 
pháo đả chọn dùng trước hết (nẳm 1858) la sủng bộ 4 long 
nứa, đến sau ngưói ta cỏ tiện các vị cựu đại hác 8, 12 vả 24 ra 
lòng nứa ; ngưòi ta cũng cỏ bày ra một vị kéu là sủng quá 
sơn 4 lỏng nửa ( kiều 1858). Có lẻ ỏng ấy muốn nói thứ súng 
dỏ chăng- 



vả một section lính đề lo thuốc cho bệnh. Đạo binh 
tiếp thứ nhửt nầy đến tại ngã ba Rạch Arroyo de la 
Poste nhằm mồng 5 avril, qua bữa sau nó xuống 
dirới mấy chiếc chaloupe có tảu canonnière số 22 
dác, mau theo sức, mả đem tới đầu đại binh. 

Qua mồng 6 avril, ở Sải-Gòn cỏ sai một đoàn binh 
tiếp thử hai, kầ lả một compagnie thủy thủ thượng 
ngạn, một chiếc chalpupe có trí một khẳu 15 bẳn 
trái phá, hỏa phi đồng, bai vị súng cối lòng 16 có 
cấp theo 200 phát, lói đề. bẳn hản lên với sẳt tấm 
phòng sữa tàu cahonnière bằng sầt nào bị đạn mà hư. 
.Cung trong lúc ấ£. có tống . trát lên Thủ-Dầu-Một, 
dạy chỏ* 3 vị quá son bẳn.. trải pbả xuống Mỷ-Tho. 
Cuộc hành quân được thèm sừ.c như vậy thì có ông 
quan năm thủy Le Courianlt dù Quilk), là trưởng sử 
thử nhứt của quan thủy sư, tồng lảnh. 

Muốn cho đặng trở lại chuyện đạo tiều thuyền đi 
trong Rạch Arroyo de la Poste, ta xin nói rẳng nó 
có thêm chiếc canonnière số 16, qua mồngõavril, 
nó phá -đặng một đường mà đi qua khúc hàn thứ 
nám, rồi thứ sáu; dến chặng thứ bảy. mấy tàu canon- 
niẻre bị trên bà bẳn, nó có dối xạ, lính an-nam chạy 
mất. Bó lả một điều báo tin cho hay trước. Vậy 
khòrig khôn mửi là xcrm tới nữa mả chẳng bẳt binh 
bộ theo hai bên mẻ mà giúp đả, chẳng cho người 
dọ đường trưảc đặng tấn bmh, «việc nầy khỏ lắm, 
đòi phen lảm không đặng, vỉ tại dịa cuộc tự nhiên, 
ỊỜÌ dối trá mấy kẻ thảm tinh hình vả sự thưừng khó 
làm cho người ta hiều ý minh mả ra.D (P. d. 1. B.). 
Nèn phải đợi cho binh tiếp đến, lại câng phải chờ 
han nữa, vi có một compagnie thủy thủ thượng ngạn đẵ 
ở lại mả giữ chồ giáp nước. 



- 320 - ..“S 

Sau hết, lối chiều mồng 6, lính chasseur vả lính • 
bộ thuộc thủy đã tổi trước khúc hản thử tám; Dgựò-Ỉ 
ta liền độ chúng nỏ lên bờ, thêm compagnie lính thủy 
thử mười, năm chục lính espagnol với mấy vị quá ’ 
sơn bẳn trái phá đã tháo ra cho người coolie khách 
khiêng, chúng nó kéo nhau đi trên mé tả (phía 
Đông), cỏ ông quan tư thủ bị Allizé de Matignicourt 
quản lãnh. Các tàu canonniẻre thỉ theo sau xa xa. 

Mà khi vừa chạy tởi đặng năm trăm thước, nỏ phải 
ngừng lại, bị cao cày bỏ nẳm ngang qua rạch mả 
cản, lại cỏ một cải đồn kia bắn nỏ mà không thấy 
được. Trèn bờ, quan quàn an-nam nhạn hàng dấu 
chiến, mặt tiền dài chừng một ngàn thước langsa, 
cậy có mấy tốp lính cầm súng tay trên bờ lũy va 
nhờ nhiều binh hò- giúp nữa. Bèn an-nam chờ khai 
trộn. Sự bọ đợi dó không có làu ; đạo colonne đi 
băng ra đồng, lính chasseur bủa giăng theo tirailleur, 
hữu chi có lính thủy vói espagnol đi theo, tả dực 
có binh bộ thuộc thủy (1). Hai bèn có khơi sự bẳn 
nhau xọt xẹt ít phát, kế ông quan hai MaoỊini dạy 
binh bộ espagnol người bẳn rập hai hiệp, làm cho 
trong hảng quàn sì an-nam ra lao xao lố xố. Binh 
an-nam thối lui, và không theo lệ thường, lá họ bỏ 
mấy kẻ tử trận lại. Có cho một tốp binh bộ soán lấy 
đồn, còn phần chỉ tồn trong đạo colonne thỉ đỏng tại ; 

(í ì Trong các chuyện kề ra, đày, ta do theo đặng cỏ một minh *:*■ 

lời ỏng Pallu de la Barrière thuật iại mà thôi, song ta không 
lấỵ lảm chắc trúng về cách lập binh dị thường như ngưòi da 
nói dôi phen, lại ta có phép như vậy vói một vị làm sách mà 
khai rằng : « súng trải phả 80 » vả « súng quá sơn lòng nứa bắn 
trái phá », khi thời hãi số binh đặng bao nhièu ngưòi, sự dó lả rỏ, 
khi lại kề số co đội, diều như vầy, ta xin nhắc lại, không nghĩu • ■ '• :• 

đn hết, song bời khổng có sự làm gốc cho trúng hon, nên ta . • 

phải thuật lạt theo cách ấy. 



— 321 - 


lảng; kia orơtrirớc-y đồn ấy ( 1 ). 

^ Lúc đỏ mấy chiếc canoìmière ở trước đồ cuộc 
ỉà; chặng hàn thứ tám,, kế có một khuc 
rạch độ chừng một ngàn mốt thước langsa bề dài 

u ỏ c !° cây ; sau lại ’ iớì hản thử diiĩì ỏ' ngang 

lảng mới bị choán. Ngảỵ mồng 7 avril, người ta khoa 
còng mả vét cho thòng rạch. Song, vưa hết lớp đạn 
an-nam rồi, thời tới phiên dịch khí nhiều hạí qua 
sức. Các quan lương y Champenois, Azaĩs, Dugẻ de 
BernonviỊle hết lòng cứu chữa, mà biết lảm sao cho 
xiết dăng, như^không có kẻ giúp bệnh trong những 
lức nào mà mồi người đau đều xin cho rninh một 
tên? Mấy người coolie khách thoa bóp cho mấy kẻ 
vương thiên thời, còn các chiếc chaloupe chở ngựa khi 
dó dụng làm nhà thương, lại dầy tinh bệnh với người 
la chết. Bạn bè chiếc Monge chuyên lo phá hàn, thi bị 
nặng hơn hêt, lại trong mấy người qua khỏi, đến 
sau cỏ một ít vị thiệt mạnh mà thôi. Lúc ẩy ông phỏ 
quan năm thửv Bourdaislám bịnh- rét, mà trong mấy 
? . y trước khi tạ thế, người cứ ở trong chiếc tâm 

bản mà đốc việc cảng phấn chấn hơn trước; tải 
cống cùng bạn bẻ không còn làm chi dăng nữa, mả 
người cũng khiến họ tấn tới. « Ong quan năm, người 
tải công với năm tèn chèo đều chết hết. Nhưng vậy, 
trong lức tận lực thế củng ấy, thì qua một buồi ■chiều 
kia, khi khúc hàn thứ chín mới vừa phá xong, thấy 
có vải J người langsa với một ít người tagaĩ phàn 
nàn trách mỏc.a (Pallu de la Barriẻre) 

(í ) Nói như vậy không rỏ biết phải « ữ trÌKỚc » theo bướng 
dạo colonhe di tói, hav là « ở trưức » theo hưòiig binh an-nam 
Xáp lại ? Theo bỏng dồ so- họa, thì là theo hướng sau. Chớ 
8^4 pkii ông P^llu de la Barrìẻre nói rằng ở <r hướng bắc# hoặc la 
p i dồn ấy, thi các sự tò -nghi ẫu dứt dí hết. 

.. ầ * * » « %■ * 



Cách hai ngảy sau, lả tối mồng 8 avril, đỉíờng 
đi mới thông. Qua mồng 9, khi lớp binh tiếp còn 
dư đến hiệp xong, đạo binh kẻo đi nữa. Theo lời 
mấy kẻ thám báò nói rẳng, trưức khi di tới thấy 
đặng dạng thảnh Mỷ-Tbo, thi hảỵ cỏn có một cái 
đồn lớn sau hết tại Rạch Arroyo de la Poste nữa. 
Nén trong khi tấn phát, đạo colonne binh bộ với 
các tàu canonniẻre đều phải đến tại vàm rạch 
nhỏ kia mả hiệp nhau. Thủy tới chồ định lựu có 
mau một chút, còn bộ lại lạc đảng. «Tèn hướng đạo 
gạc binh ấy, hoặc là lộn đường, hay lả không hiều 
lời người ta biều nó lảm sao. » Nên dáng mả kêu nài 
một lần nữa vê sự không làm được cho hai đáng 
hiều ỷ nhau. Trước ta cỏ nói chuyện ấy rồi, ông 
Pallu de la Barrière, cách sáu trương sách, cỏ nhẳc 
nó hai lần; ở đày người tưởng lả sự nội công,. vỉ 
cách một đoạn sách xa xa, thấy người nói rằng 
« tèn dãn đàng phi hoặc». Ta không dám dề quyết 
như vậy, vi sự lảm thử trong hơn hai mươi năm 
đã cho ta thấy, dầu thuộc khá tiếng nói đi nữa, 
thi người la cũng chẳng khiến đặng mấy kẻ hảo 
làm thi hành chuyện minh biều cho thuờng; lại, 
chinh vỉ người bon tho nữa, một đòi phen không 
làm cho kẻ khảc hfêu tức tốc ý họ muốn đi gì. Đó 
là điều thốn thiếu noá các tiếng có một vận, mà cách 
nói không hay dời đoi buộc phải tập luyện trước 
đặng làm cho trí tưởng hằng ngày và thường quá 
hiều thấu ỷ lạ. 

Dầu lẻ nào đạo colonne cũng đr sái hướng, dang 
xa rạch ra và đển trước một lảng kia có đầy binh 
an-nam. Quàn sỉ bèn phàn dặt áp dánh; bèn an.-nam 
dời ra khỏi chồ ấy trước, bỏ súng lay, giáo, và dồ 
đạt quàn lỉnh lại. Người ta lướt tới nữa đặng một 



hoi, mả mẳc đat sinh lẩm, ĩại đạo colonne khồng 
còn ủng hộ được cách chi hết cho tàu canonnière, 
nên người ta trở lại làng mà đóng, ử đỏ có một ngọn 
rạch nhỏ ăn thông vứi đoản tiều thuyền; trong lúc đạo 
colonne tấn phát, thi nó không đẻ rằng minh mới đi 
ngang qua vừa làn súng đồn là cái nó phải dọ cho biết. 

Lối mưừi một giừ khuya, có tiếng người ta biều 
nhau coi chửng trong Rạch Arroyo de la Poste, vi có hai 
•chiếc hoẵ công trôi tới theo con nước lớn. Hai ông 
quan hai thủy Joucla với Besnard lảm hết sức mới 
đưa. nỏ đi trịch khỏi vả thời may đem đặng nó vô 
ỉrong một ngọn rạch nhỏ kia, nó ỏ* mà cháy lụn cho 
tới ngang mặt nước mới hết. Chuyện ràn khuyên ấy 
hav, nên từ đỏ vê sau mồi đêm người ta mồi lấy dày 
thảo long mả giăng ngăn rạch. 

Sớm mai mong 10 avrii, ngirừi ta đi kiếm đồn lại 
nữa. Ban đầu thi ngưòi an-nam dằn lộ đi qua hướng 
Lia, sau người ấy bị xô đầy nên dồi đường và dảc 
đạo colonne đi ngay tửi trước thành Mỷ-Tho. Nghe 
trong thảnh ấy lao xao lớn tiếng, kế binh espagnol 
với một chiếc thuyền chiến bẳn đấu nhau dôi ba 
phát. Tốp tiền do thối lại, bị súng lớn ử một chồ kia 
bẳn nó mà không thấy đặng. Phải đó lả đồn người ta 
kiếm chăng? Có lẻ là nỏ; phần khác, mấy người nhà 
quê lại nói rẳng rạch đã thông thả, các đồn binh đả rút 
đi rồi. 

- Trong khi làm các việc nầy và nghe mấy tin tức nói 
nghịch nhau đó, thi thấy òng quan năm thủy Du Quilio 
định đảnh. Người dạy ồng phó quan năm thủy Bour- 
' dais dem mấy chiếc canonniẻre với 3Ò0 binh người 
M: gởi cho quan ấy di tới cách cằn thận, cho đến loi 
'Mè* kai ngản thước xa thảnh Mỷ-Tho vả ơ dỏ mả chờ 
& - • đạo colonne. 



Qua ba giờ chiềí đoàn tảu *nhỏ xiịít. hàữb, cỏ 
300 người ở dưới mấy chiếc chaloupe theo sau, lại 
chẳng bao làu cái đồn không thấy được đó liền phát 
pháo. Gác tau canonnière về chạy tỏi về bẳn phóng 
chửng, bong chúc thấy tại khúc rạch quanh, ở trước 
chừng bốn trăm thước, có một cái đồn lố dạng ra. 
Chiếc canonnière số 18 , cỏ ông phó quan năm thủy 
Bourdais, đi tiên phuòng, bắn tói một viên đạn, dồn 
liền đối lại ba phát đại pháo đều trúng hết . « Một' 
phát thi nhằm tàu, phát thử hai làm cho bị vít hết 
một người, phát sau đi bay trải tim và cánh tay tả 
ỏng phó quan năm thủy Bourdais » ( 1 ). Song các tàu ‘ 
Canon nière sẳp hàng. Bồn phải đạn bẳn lủng nhiều 
nơi, người an-nam rút đi. Binh langsa soán lấy nó 
tức thì. Bó lả chồ ngăn ngừa sau hết tại Rạch Bảo- 
Bịnh-Hạ, nèn từ nầy về sau người ta đi tới Mỷ-Tho 
đặng. 

Trong buồi ban mai ngày 11 , cả đạo colonne hội 
lại trước đồn thứ năm dó ( quan thống lảnh dạy đặt 
tèn nỏ là dồn Bourdais). ỏng phó quan năm thủy 
Desvaux lảnh quyền cai các tàu canonnière. Binh bộ 
thời độ qua mé hữu rạch (phía Tày), cỏ cho hai đoàn 
quàn nhơn đi tới trước mà do thám, một đoàn 





(t) ông Pallu de la Barrière thêm rằng:* Khi đó chiếc 
canonnière 18 chạy vọt tới, có chiếc canonnière 31 theo sau. . 
Không phải khỉ đó nó mứi chạy vọt lới, song trước kỊii đó, 
vi khúc quanh cỏ lẻ dã nhẳm trúng ỉắm, sự bắn có chỉ điều 
ấy rồi. Phải chạy mau hết sức dăng qua cho khỏi khoản rất 
hiềm nghèo ấy, rồi có đi chậm chậm đặng bẳn, là khi nào 
khúc đường chạy xa dã làm cho súng thần Cữ nghịch dẳng phải 
sữa cách bắn nỏ lại. Mấy chuyện đó là diều SO' học, lại khi 
dọc hếL truyện giặố nầy, thì dôi phen người ta lấy làm sửng 
sốt mà hỏi minh, vậy thuở đó họ dạy học di gì tại cảc trường 
bộ và trường thủy. 



— 325 — 


thời đến gần đồn thử sáu, nó là cải chót, ở gần 
làng Trung-Lương;' nó đã trống trơn, nèn hai đội 
compagnie chiếm lấy liền; đồn đỏ ở tại vàm rạch 
nhỏ kia, xa thảnh Mỷ-Tho chừng ba ngàn thưỏ-c. 
Tốp tháin thính thứ hai đi đường lộ, qua ba cái 
rạch nhỏ vả xơm tới gần thảnh lối hai trăm thước. 
Chuyến nầy nữa cung nghe có tiếng chào rảo, song 
thành không bắn. Quan binh đo thám trỏ- về. 

Phần ngày 1 1 avril còn dư lại thi dùng mà io tống 
táng ông phó quan năm thủy Bourdais, là quan cai 
chiến tâm cho dến đồi chẳng có sự gi mà ngăn cẳn 
đặng, phàm như không số chết ấy buộc người phải 
nghỉ an đời đời, hởi ôi ! sớm quá cho người củng 
cho bọn đi đánh giặc với người. Ong Bourdais mới 
được bốn mươi tuồi mà thôi, song bề thông thạo việc 
thủy, lòng mạnh mẻ quá mực nhơn loài, thời lúc dó 
hòng nhắc người lên bực cao trọng. Một hoàn đạn 
kia bên phía nghịch hủy tan một lược nào lòng tròng 
cậy đạo thủy langsa, nào ý ao ước phải phép đấng 
đã chịu tử vu sa trường (1). 

Trong đêm 1 1 avril, có một đoàn ngựa, hai khằu 
12 và mấy thùng xe thuốc đạn thuộc về section 

(1)' Lúc sau, tử thi ông phó quan nảmthủy Bourdais có chịu cho 
ngưòi ta đem dòã di nhiều cho. Theo lời ông Pallu thời nói xác 
ấy đã mai táng tại làng Trung-Lưong trong ngày 11 avrii 1861. 
Người ta lại quyết chăc vỏi ta rằng, sau khi lay xong Mỷ-Tho, 
thr chỏ - nó qua thảnh ấy cùng chôn tại chồ kia 0 - trước dắt thánh 
kiẻm thòi, ‘‘là nơi có kinh Nicoíaỉ di ngang qua. Cách it năm, 
người ta lay quan cửu lên mà chồn tại thảnh Nay chang có ai ở 
Mỷ-Tho mà còn biết chút gi về năm tháng hay là các cuộc 
nghi thuộc hai khi thiên táng đó. Nám 1893, nhà nước có dạy 
khai một cải đường lỏ-n di qua chồ mã ấy (Bouỉévard Bourdais), 
nó ĩr giữa Ịộ và dã dựng lẻn một cái bia. Qua 29 ịúin 1899, 
cỏ lấy cọt ông phó quan năm Bourdais một lần nữa và cải táng 
cảch trọng the tại dat thảnh tây ỏ - My-Tho. 



sủng lòng 4, đã đề lại sau, khí đô đến nhập với đạo 
colonne. Ngảy .12 ban mai, cầ đạo binh xuất trận tựu 
hội tại lảng Trung-Lirơng với các phần hò*, lối nữa 
dường qua Mỷ-Tho, nghỉa lả xa thành ấy chừng một 
ngán rưởi thước langsa ; khi dỏ nó kề được 900 
quân sỉ, mười hai vị đại pháo với sáu khằu súng cối. 
Dưỡng đã sữa xong, cầu bắc lại, đoàn tiều thuyền 
canonnière đậu tại rạch, ở trưó-c đạo binh một chút; 
mây tàu ây có bắn vô thảnh bảy trái phá súng lòng 
nửa; lối 11 giờ trưa có một vầng khói tại cữa thảnh 
Mỷ-Tho mà bay lên. 

Ngày 13 avril, một phần đạo colonne kéo tửi 
thành, lớp dư lại thi phòng sẳn mả đến phụ lực với 
no; còn phía các tàu canonnière cũng hòng lo giúp 
nữa. Mả khi đoàn quàn tiên phuòng tới vừa làn 
súng tay, thời nó thấy có cờ tam íẳc đa phất pho* 
trên vảch thảnh. Binh gia đều ngưng khong đọng 
nữa. Nguyên làm sao vậy? 

Bang khi dạo colonne di trong Rạch Bảo-Bịnh-Hạ 
cách gay khồ đặng mà tấn tới, thi quan thủy sư Page 
với ba chiếc Fusée, Liỉỵ, Sham-Roch đã đến hiệp 
cùng chiếc Dragonne nhẳm mồng 10 avril tại vàm 
sông lớn. Dầu đặng tiện bê cùng chăng thi ngưòi ta 
cũng kiếm được một ngỏ màđi.qua, lại trọn đêm 
ấy, trời tối lắm, có phá trống một đưỏ-ng tại hàn 
thử nhứt củng chịu cho mấy đồn bẳn nữa. Ngày 1 1 , 

đ °ậ" ^thuyền chạy lẻn, gặp một cái hản kbac,’ 
cung cộ hai đồn giữ Bữa 12, có khai được một 
đường mả qua, còn đồn thì bị bẳn lung quá, không 
cản trỏ* đặng tàu, nên lối một giờ rươi chiều, no 

íí ™i đ t u tr ước lhảnh Mỵ-Tho xa chửng hãi 
trăm thước. Binh an-nam rút ra khỏi thảnh cách ba 
giờ trưức (còn khói người ta ở trên bờ ma thấy 



lối mười một giờ đó, là bởi mấy cải kho chảy). 
Binh thủy dưới đoản tàu nhỏ, có ổng quan ba thủy 
Desaux quản xuất, lên ở trong thành và kéo cừ 
Ịạngsa'(1). Qua ngày 14, đạo binh mó-i nhập thảnh 
Mỷ-Tho mà thôi. 

Thảnh nầy trí súng đại bác lớn lòng, người ta 
không gặp cỏ vạt chi cho lầm. Tiền quan thì đã 
dốt đi lúa gạo cũng vậy; người ta có cửu đặng 
một ph'ẩn, song nó bị lửa với nước mà hư, nên bán 
lại rẻ giá cho mấy người lo đặt rưọ-u an-nam. Có 
gặp vài chiếc ghe lởn tốt, đóng bằng giá tị, đề tại 
trại, người ta sẳm sữa cuộc tiệc cho nó đặng dùng 
theo việc thủy. • 

Chuyện có nghịch với điều khẳp nơi đã làm một 
ít, là quan tồng đốc thả mấy kẻ có đạo mà biều 
họ đi hiệp với bạn : hữu họ là người langsa. Sự 
nbư vậy chứng rằng người an-nam biết hiều bồn 
tính nhơn loại một cách cũng như người phương Tây, 


(1) Về chuyện bắn thành ấy mấy phát súng bữa 12, thì ỏng 
Pallu de la Barriẻre viết ra như vậy: «Nó (nói ve đoàn tieu 
thuyền) bắn thánh hết bảy trái phá súng ỉòngnửa. Lối lt gió 
trưa, có một dám khói ló-n bay lén tại cữa thành Mỷ-ThoB. 
Boạn, cách bổn tờ sách sau, lại thấy lừi nây : <Ị Mấy trái phá súng 
pháo thủ cũa dạo binh bắn bửa 12 vó i 13 avrìl, thòi may không 
nhằm ai hết. » Hết thảy lòá dó nói nghịch và củng không cỏ )v 
mà nghe cho được, ỏng Pallu cỏ nói về vụ bắn bãy trải phá bửa 
12 trưỏ-c 11 giờ trưa mả thôi (ngày 13, ngưừi không cóklsự 
băn súng ló-n), còn quân linh ở dưó-i đoản tàu nhỏ có nhập 
thảnh là san một giờ rưởi chiều bửa 12 mà thỏi. Nếu binh thủy 
bị trái phá súng lòng nứa bắn, thì thiệt có lẻ hạbiết dạo binh sai 
di ngã Kậch Arroyo de la Poste đã đến gần,' cùng cho biết 
■ v niìnb liền, hoặc ban ngày, như trén bộ thì sai binh tuần phi báo, 
đưói rạch thín ghe thoảng, hoặc ban đêm dũng hỏa phi 
d&ng .ra: hiệp lịnh và bắn súng lổn từ chặp. 



nên không lẻ mả chữa cho đặng trỏt lồi cảc ohuyệĩ) độc II 
ảc đã phạm, bởi khác tâm tánh mả thôi. Có lê tàm 
tảnh ấy lả cớ trượng lẳm, song khi tính nhom loại 
đã luàn rành lế mà tố trần đặng, thi sự độc ậc cố Ỷ 
cung chưò-ng ra được vậy. 

Sau hết, ngưòù ta xem xẻt về sự chống trẳ yếu ớt. 

Khi đã tích trử đặng đồ cuộc cản trở đảng kinh nơi 
Rạch Bỗo-Định-Hạ, lập ra nhiều đồn bảo khuất mắt, 
nên có đánh phải lại gần lẳm,sự như vậy làm cho súng 
ống pháo thủ hai bên ra đồng nhau, mà binh cố thủ 
cũng' còn bất cảm nghinh chiến lại cho hẳn hòị ; noi 
nào họ cũng bõ đồn mả đi trưérc khi hãm nỏ, phần 
nhiều hơn củng đẵ bị lìa trước lúc bẳn phá nữa. Người 
ta không chịu đặng cho quyền cai binh an-narn mà 
chẳng thốn thiếu sự mạnh mẻ ; thật thửi mấy ngày đồ 
máu gó-m ghiết tại Chí-Hoà hảy còn mỏú quả, đặng 
trí nhớ bầt sợ đừng làm cho lòng mọi người ra bủn 
rủn; song, sau hết, khi các đấng cai binh chắc ý rainh 
thì lảm cho quàn linh tin cậy lòng chúng nỏ, lại xem 
ra mấy vị đó không chắc lấy chính vi minh, mà cũng 
chẳng chắc cho binh nhơn nữa. 

ờ Sài-Gòn, người ta tưởng quyết phải vây thành 
theo phép ; nên sai binh tiếp lứp khác, bèn an-nam rút 
di thì làm cho hộ ra vò dụng. Quan thủy $ư đề đốc 
Charner mắng tiu thành Mỷ-Tho thất thủ đang khi Dgưòú 
hòng đến mà hiệp vói đạo colonne, nhưng vậy ngựỏi : V 
cũng tới tại chọ vả tính xong mọi điều, chẳng những 
về sự ngăn ngừa thảnh ấy, mả lại về việc cai trị củng 
bang giao nữa. Có một đạo bốn trăm quân ở lại 
giữ thành, súng pháo thủ nó lả mấy vị đại bác thuộe 
thủy. Còn hết thảy binh sĩ khác dều trở về phần sở • ' 
minh tại Sải-Gòn-Chợ- Lớn với mấy Chúa. 



— 329 


Trong lúc ấy, đạo binh sai đi đánh đăng chửng sảu 
trám binh đến tiếp, đỏ lả cơ bataillon thứ hai thuộc 
101 e de ỉỉgne trước có định giúp nó, mả bỏ*i bị 
nước sông Bạch-Hả đặc, nên cam họ lại Thiên-Tân 
trọn mùa đông. Qua tháng mars, khi tảú thuyền vừa 
đi đặng lại, thi bataillon ấy đem qua Thưọ-ng-Hải; 
ngảy 31 mars, người ta độ họ xuống tàu lại mà chơ 
qua Sài-Gòn cho tó*l ngày 21 avril 1861 mó-i đến nơi. 

Cung trong lúc đỏ, bệnh hoạn biến ra cảng nặng 
hơn nửa. Sự nghĩ ngơi sau hồi mần việc nóng nảy 
quá sức, sau khi chống cự củng hết thảy mọỉ điều, 
thì nó sinh gốc bệnh, lại thêm có mấy đám mưa lớn 
trọng mủa giúp cho nó phát ra nhiều chửng hơn; 
vốn thiệt, quàn sĩ khôn rỏ chuyện hiềm nghẻo thật thề 
nào, nên các dủm mưa nầỵ lảm cho họ tưỏ-ng nghịch 
trọn vói sự nó phải bẳt họ lo. Địch khỉ chưa hết 
tuyệt, nó chuộng hại mấy kẻ nào yếu hơn, mệt nhọc 
hơn, cùng những vị di đánh Mỷ-Tho mả thôi, ông 
quan tư thồ bị Allizẻ de Matignicourt ở trong số mấy 
kẻ bạc mạng nầy. Các bâng hữu người cùng là đạo 
binh dều thương tiếc cũng bầng ông phó quan năm 
thủy Bọurdáis vậy; ta xin thèm lởi nầy, lả ví dầu 
không phải bỊ đạn an-nam, mả sự người chết đó cũng 
. chẳng kém vinh hiền hơn chút nào. Lúc xuất trận, 
thỉ mủi thiên oai với binh hoạn, hai giống sát hủy 
khôn nguôi nầy đều tru lục bất phân khinh trọng, 
phẵi ai tai nấy, nên cách chểt lả sự may rỏi mà 
thôi ; cỏ kẻ tranh công tử tại chiến trường, kẻ khác 

. ■ ' phục hoàn không bị chi hết đặng mà thệ thế tại chốn 
nuôi lính bệnh hay là nhả thương. Cả hai cung đồng 
cường đãm cung đều khi thị các chuyện hiềm yếu ; 
cách họ chết cỏ khi khảc nhau, song danh vọng họ 
cũng đồng, như nhứt. Nếu tương khác, thi có lễ ia 

T’. : - 22 



- 330 — 


một điều định chửng trước đáng ăn năn, một chuyện 
bất công nèn van trảch. 


/ 


 



THl Sự TRONG Xứ SAU KHI 

LẤY ĐƯỢC MỶ-THO 


Cuộc soán đặng thành Mỷ-Tho dẵ gầy ra chuyện 
phải chiếm lấy tức thì cả vả phần đất ở giữa Đại 
Giang Khong với Sông Lôi-Rạp. Có một dảỵ phần 
hò* đã lập ra nơi đỏ, nhứt là mấy sỏ* tại Cái-Bè, 
Chự-Gạo và Gò-Công. Đó là mấy chốn đò hội thuộc về 
việc hộ, thảy đều cỏ một cái bảo với một tốp binh ử 
mà bảo hộ. 

Bày ta phải trở lại một dây phút về sự chúng ta 
thủ tạc với nước Cao-Man thề nào. Trước ta đầ nói 
chuyện đạo sử ỏ* Nam-Vang mà xuống; họ đi đưò-ng 
bộ mả băng qua Tày-Ninh,cùng đến tại Sải-Gòn nhằm , 
bữa sau khi lấy dặng thảnh Mỷ-Tho. Chúng ta biết 
chuyện sứ bộ ấy có đem phưo-ngvảt vỏ-i một quốc thơ 
của vua Norodom tới mà dàng cho quan thống lỗnh; 
quan thủy sư Charner có tiếp rước cách hậu tỉnh 
lẳm. Bó là một chồ cậy nhờ đề phòng hậu mỏi đển 
dàng cho nước Langsa. Rủi thay, nỏ tiến hiến nhẳm 
lúc khó cho vua nước Cao-Man. Yi nhấm khi ằy 
trong xứ có loạn lạc ìàm cho người phải trốn qua 
Xiêm cuốc. Chúng ta có lẻ phàn giải chuyện ấy đặng; 
khi đó có một ỉt người cao-man ở tại giáp giái đã 
thọ bồng lộc nước Langsa rồi, và cỏ ra công giúp 
mạnh mẽ mà dẹp loạn tại miền Tâỵ-Ninh. Nhưng 
vậy, ỷ quan chưởng thủy trọn hảo lắm, người tưởng' 
chẳng nên lảm cho nhà nưửc Langsa dự vô -chuyện 



— 331 — 


bất hoả trong nước Cao-Man. Người cỏ dòm hành 
can thận thi sự, đề cho hai đảng làm sao tự ý, song 
ngưửi hẳng ngăn cấm không chõ họ qua tại phan 
đât chúog ta choán mà làm cho dứt sự họ tranh 
trưởng vói nhau. 

Ví như quan thủy sư Charner dùng trúng cách, 
thi chúng ta phải biết rẳng, theo lẻ phải; người chọn 
đặng có một minh nỏ mả thôi. Nhơn số dạo binh 
không cho có thế mà bẳt nhón một phần cho hẳn hòi, 
vi quân s ! mỏrì vừa đủ mà dùng tại xử thâu chiếm 
Cùng vi lẻ ấy, nên trong lúc đó quan thống lảnh 
bỏ qua không cỏn tưởng tới các chuyện mỏ mang 
đất mói. Biên-Hoả cúng ba tỉnh bên hướng Tày 
đều đe hại, song quan thủy sư Charner đa tĩnh 
phưưngthế rồi. Người eó viết sớ gỏ-i về cho quan 
thủy bộ thượng thơ mả rằng: (í Nếu tôi đặng thêm 
một ngàn binh, tôi sẻ lấy ba tỉnh đó ; mà biếl cỏ 

đ ,^ ngưÒPÌ mà giữ nỏ chán ể ? Tôi phải gẳn sức không 
thôi lại một bước nào. Vi oai quyềri chúng la bơi 
đó mà ra . » 

Vây các việc vỏ cổng đã ngưng lại, người ta chỉ lo sữa 
Irị xứ ỏ- giữa Sòng Không vả SỏngSài-Gòn; hai đưỏrng 
nước nay đã cho người an-nam biết là giái hạng tạm. 
Hểt thẳy sự chi ở ngoài hai sông đỏ thì thuộc ve 
người an-nam, trừ ra Thủ-Dầư-Một vói đất làng kia 

c ? 5 ạ0 t ng ? y lTlĩórc Sàỉ ~ Gỏn (An-Lọí xả kim thơi), 
cả hal đều ở ném về bờ tả sông ấy. Lúc đó cảng 
phải cần lo qui chê hom nữa, vì chưng cả vả phần đất 
chiếm cứ hòng lảm cho trọn bề ăn ở.nhơn dàn ra 
tồi hại. Khi các quan trị hai tỉnh sợ hung khi chứng 
ta mà đào tán, thời cỏ dem các sỗ bộ, sự tích nhà 
nưó-c, tờ thị vả hết thảy theo mình. Quán tồng thong 
lúc4ó, cỏ Lhi chẳc lả ông Nguyền-Bá-Nghi — VI người 



thế cho ong Nguyền-Tri- Phtrotig sau chừỵện Chí- 
Hòa — có cho các viẻn chức mấy tĩnh ấy hay rẳiìg, 
minh không truyền dạy đặng việc chi trước khi được 
lịnh triều Huế ; có lẻ quả như vậy, song sự cảng chắc hơn 
nữa, là trọn chung cả sồ bộ, tờ th Ị nhà nước, các 
quan với những người hộ tùng dều dời đi rảo. Trong 
hết thảy các so sách cỏ một cuốn hửu ích, cần kíp cho 
việc trị trong xứ, là cuốn Hoàng Việt luật lệ, thì đàu 
đàu cũng khỏng có nỏ. Người ta Um kiếm nhiều lần 
cùng gắn công lầm mỏ*i gặp đặng hai bồn của cảc 
quan còn bỏ sót lại mà thôi. Nhà nước langsa có 
dạy dịch vả in một phần cuốn luật ấy ra. 

Các quan tỉnh vói các sồ bộ tò* thị biến mất 
đi thề ấy, thi làm cho người langsa nan phàn hết 
sức, đã Vày lại thèm chuyện bất thông tiếng nói nữa. 
Người ta không có thông ngồn. Ong Pallu nỏị như 
vầy : «Sau hết, thuở trước người ta cỏ cho thấy một 
sẳc dân kia bị vua quan mình khinh khi giày đạp, họ 
nguyền ước cho dặng thong thả, sẳn lòng binh vực 
đạo Thièn-Chúa ; mà khi mới vừa bước chàn vào trung 
tim xử Nam-Kỳ, thì phải biết nhơn dân đã thuận 
tùng thói phép hoành hành tồ phụ theo cảnh Bòng 
rồi. Có khi người ta đẵ biết trưởc đặng rầng, các 
viên quan an-nam khác xa mấy kẻ cai trị nhảt lòng 
vả phế việc bồn phận mình như người ta đã họa ảnh 
hình ra vậy. Còn về những người có dạo, thì ban 
sơ phần nhiều ẳn ánh ; sau lại, trong lúc cất binh đi 
đảnh Mv-Tho, hề tàu canonnière khởi hoảng thẳng 
tới chừng nào mả làm cho quyền cai trị an-nam bớt 
chắc chân lần lần- tại mấy phần đất ở giữa hai sông, 
thi họ lại trình diện và làm cho mấy người ngọại rạ 
như một thứ hề nô kia vậy.» Cứ chuyện đó đỏ-iđòi 
khôn dứt — song tại nước Bại-Nam làm quá mực 



— m - 


hơn mọi nơi khác — là, hoục chịu cho chúng hả 
hiếp, hoặc hả hiếp chủng. 

Biều saụ đày lảm cho ta xem xét rỏ hơn về 
sự các người an-nam có đạo chung sức lo vơi 
chúng ta thuở mới chiếm cứ xứ nầy thề nào. 
Bã ghe phen ông Pallu đe la Barriẻre kêu nảỉ về 
sự lo lẳng đỏ khỏng ra gi, người có nói rỏ ràng, các 
thầy giảng tỏ bày thi Sự chẳng thật, hứa giúp một 
phần quần nhơn mà người ta luống công chờ đợi-. 
Ong Pallu làn cận với bộ thuộc đinh quan thống lãnh 
lẳm, người có chép lại đặng vô sách người lả mấy lời 
các quan cận thần nói mà thòi, người lại chẳc rằng, 
quan thủy sư Charner tưởng mình có nhiều sự phải 
phiền trách. Nầy là lửi òng De Grammont thuật về 
chuyện ấy, song người không hải tên ai hết : 

Sau lại, muốn cho mồi ngirỏ-i có phân mình trong vụ 
phàn đoán cúc chuyện thuở ấy, thòi đôi khi tôi cỏ nghe 
ngưdri ta bày ra nhiêu điều mà nói quyết, không công 
chánh là bao nhiêu, chĩ về việc bỏ-i chúng ta có mặt tại Nam- 
Kỳ nẻn sinh thù tạc với các cha giảng dạo. Tòi chịu rằng, 
có một. ít tin tức của mấy ngưíri nào mà ít lo về phép thao Iưọ-C 
hoặc ỉà binh nghệ, thòi dôi khi xem ra không trọn hay là không 
đủ đùng. Song biết lảm sao mả chịu cho phải lẽ mấy 
lòi khen nhẻ cứ thái quá luôn và thường hay lảm cho ngưò-i ta 
cỏ hai lý khắc nhau mả cũng câu kết một chuyện. Ắt thật, ví như 
mấy thầy giảng chủng ta, bị hỏi chuyện kia chuyện nọ, mà có 
trả lòi, hoặc ỉà bày vẻ điều chi, thi ngưòi ta trách sao 
mấy thầy ấy có xen vô việc quốc chánh ; nến chẳng như 
vậy, chơ yị ấy giữ sự dè dặt khôn ngoan, thòi ngưòi ta lại nói 
mấy ông ấy rằng không nong nả. Chắc có lề khi giữ sự dè 
dặt mà quả mực, vl một hai khi đình nó là phơímg thế dùng khá 
ho n hết, thì nỏ làm cho sinh sự chếch mếch 'riêng, rồi thiẻn 
hạ (fòn qué. lố. 

Vậy ôog De Grammont phải chịu nhin biết các 
chuyện ấy, song xem ra người muốn bứt cho nhẹ. 



- 334 — 


bẳng chẳng; thì lả chữa Dỏ ; rủi thay, trưửc quan thùy / ' 
sư Rigault de Genouilly cỏ thấy mình tưởng lầm nhiều 
chuyện cả thề hơn là đấng nối quyền cho ngưồà, và 
cũng có mích ĩong thật với Đức thầy Pellerin nữa. Quan 
thủy sư <1 coi dường như cỏ một mình phải gánh vác 
mọi việc trước, mặt đức hoàng đế vả nước Langsa 
mà thôi, sự đó la trúng phép, nên người chỉ lo — các tờ 
biều người gởi tấu tỏ ra đieu ấy — làm cho một 
vị chứng kiến kia bẳt người cực trí dang ra cho khỏi, là 
gơi ong ấy theo tảu mà đưa qua Hương-Cảng. tìức 
thầy Pellerin làm cho quan thủy sư khỏi vương vấn 
diều phi lề như vậy; bởi người đã chứa chang sự 
cay dắng và nhàm lờn, nên chính vi người tính lui 
về trưỏrng Pinang mà thôi, là nơi người thiên triều cách . 
sốt sắng, nhẳm ngày 13 septembre 1 862 . B (P. Louvẹt). 

Trong sách ông đạc đức Louvet (Lữ Cochiỉichiĩĩe 
relìgieuse ) thấy người lo dần giải rằng, khì trước Đức 
thầy Peìlerin « không có hứa điều chi vửi đức hoàng đế 
Napoléon III về sự con dần cỏ đạo nước Bại-Nam sẻ 
xúm nhau chồi dậy khi người langsa gần qua và 
hiệp củng kẻ cửu mình, đặng làm cho cuộc hành quàn 
tac thanh nội trong một ít bữa. » Ta bằng lòng mà tưỏ-ng 
người chẳng cỏ hứa sự gì cho chẳc, song cũng một 
khi ta chịu rông, đửc giảm mục ấy có nói và có cho 
nghe vừa đủ đặng làm cho ỷ thiên hạ định tính, cũng . 
như xưa có một vì giám mục anh danh kia trước 
người vậy ; bẳng chẳng làm sao mà giải mấy điều 
tưởng lầm và lời trách cử củahai quan thủy sư đỏcho 
đặng. Phàm như mấy quan nầy dem lòng trông cậy , 
nhiêu chuyện, là vì người ta — hoặc lả tại bộ, hoặc 
chinh vi cảc thầy giảng— cỏ thông cho mấy òng ấy 
biết những chuyện như vậy ; chẳc các quan đó không 
cỏ bày đặt nó ra, vỉ ít nữa rất khỏ mả tín nó . 



835 — 


Trong khi quan thủy sư Jaurẻs dọc bải giảng mả trả 
lừi cho ông Perrin, thấy người có tỏ bảy các việc ra 
ro ràng, song, dầu làm cách nào, người cũng không 
chữa mấy chuyện ấy : 

Ngưối ta nỏi rằng, lúc ban SO-, quan thủy sư Rigault de Ge- 
nouiily thấy minh Urửng lầm nhiều chuyện đại sự, vi người 
ta có quyết chắc vói người rằng, hề chung ta vOra đánh cho 
hẳn hòi, tlũ có năm vẹo dản an-nam có đạo se chòi dậy mả giúp 
, chủng ta. Ay vậy, tôi là ngưòi lúc sau có chung lo vỏ cuộc hành 
quân.tại cỏi Nam-kỳ, tôi cáo thật có lẻ chúng ta lấy lảra nan 
phản về chuyên ửng nghĩa như thế. Vi, sau hết, có khi phải 
cho nảm vẹo Dgưòi dó khí giới và cỏ lẻ của ăn nữa, diều ấy 
thật lả thậm khó. Vậy tôi tưửng thà người cỏ đạo ử yên tại 
làng minh thi hay hcrn . 

Trước hết, ta phải cho ai nấy ỷ chỉ về mấy lời nói 
thải quá vả không suy đỏ. Thái quá, vi chẳng phải lả 
năm mươi muôn người cỏ sức mà cầm khỉ giải, 
song thật là năm mươi muôn người nam phụ lão 
ấu, số đó mả cỏ xuất ra đặng nhiều hơn hết lả 25.000 
vị cỏ sức mả luyện tập nghề binh mà thôi. Khòng 
suy, lả bơi mồi khi dấy loàn đều tỷ thỉ đã chiếm 
đặng quyền lảm chủ một cỏi nào đó, hữu thế vầy 
, . hiệp nhau lại, vả cỏ phép, ỉt nữa lả tạm dở, mả làm 
- cho phía nghịch không cử động đặng hay là đánh 
thẳng nó đi; mả lúc đó, năm mươi muổỊi người 
cỏ đạo tại nước An-Nam đều ở riêng nhau, rải rác 
trong cả vả xứ, như lộn mất trong mươi lăm triệu 
kẻ đồng hương giử dạo Phật hay la điều răn đửc 
Khồng-Tử,lảmấy người hềm khích với họ. Lấylỷmà 
xét một chút, không cần chi phải cho rỏ thấu hơn về 
phong tục, tảnh ỷ và bề nhơn dàn an-nam ăn ở với 
nhau thề hảo, thỉ ngưỏ*i ta có lễ hiều rằng phải chiến 
thẳng trước .đã, sau rồi mới tưởng tới vụ rủ quến 
vả nhỏm các người cổ đạo đỏ lại, V! họ ỏ* rai rác 



— aăô.— 


trong xứ rộng mênh mông, nên cỏ muốn qui tụ 
nhau lại hay là trốn đi, thời phải chiu chẻrn giết lục 
vừa mó-i khối động. Có một ít người tầu thoát 
dược, song biết bao nhiêu kẻ khác đã bị tru lục tại 

xỏm làng chúng nó ở ! * 

Theo 'ỷ ta tưởng rằng, nào các thầy giảng, nào 
các quan thủy sư vả chư quan thuộc dinh cũng đồng 
sơ sầy vụng tính, mấy ông trước cỏ nỏi chuyện 
thường khi theo lòng mình sỏ* nguyện, theo kẻ bất 
thông vụ giặc giả và việc quốc chánh, không xét coi 
có làm dạng, và cảc việc có thành củng chăng. Các 
ong sau khong suy, lấy nhửng lời hơn thiệt ấy làm 
gốc song khó mả thi hành; khi chẳng biết ý cùng thế 
lực nhưng kẻ đến sau cỏ lẻ giúp dặng cách hào 
cho trúng, thíri trước hết người ta đừng tính tới nó, 
cứ lo sẳm sữa đánh giặc dường như không có mấy 
ngưòi ấy vậy. Người ta chẳng còn bị phỉnh phở nhự 
thế, lại như lúc sau mà cỏ nhơn dàn, đồ cuộc tới 
giúp, bất luận là thử nào, thì nó đều khả cho mình 
luôn, không sinh cớ phải ưu phiền và làm cho sự 
trông cậy ra' sai suyền. 

Cung nên cho ai nấy hay rẳng, chẳng phải một 
minh các quan nguyên soải thủy lầm, cảc th'ây giảng 
cũng như vậy nữa. Nguyên có- và chính y cuộc chiến, 
trận, là cản trỏ- vụ chém giết con nhà đàng nội củng 
cho đặng thong thả trong việc phượng thờ. Bỏ-i các 
chuyện gây ra khòng ngăn đặDg, nên nổ làm cho 
lý ban sơ đi sai cách lạ lủng, củng tại khi rốt việc 
nỏ nhỏm lại tại một phần chật ^hẹp trong xử Nam- 
Ky, no không biết cách chi mà cản trỏ- cho đặng vẹ 
chuyện lien tiếp sát hại con dân ccrđạo khầp nơi 
trổng xử, từ nảm 1859 cho tới 1862. Đến sau ta sẻ trở 
lại chuyện nầy. 



Mấy điều bất thuận ta mới tỏ bày đó, đầu cho nó 
có sự chua chảt chóng qua, thời nhưng vậy xem ra 
cũng không vi phậm tới việc thủ tạc thường ngày các 
thầy giảng vửi các quan bộ .thuộc đinh. Cha Croc làm 
thông ngổn cho quan thủy sư Charner, người dịch 
các giấy tờ gặp tại đồn Chí-Hòa vả nhứt là s ồ tên quan 
quàn an-nam. Những thầy giảng khác biết tiếng vả 
hiều phong tục thòã đặt lảm thông sự, mấy ông nầy 
cũng giúp nhiều việc trọng; sự chung lo như vậv 
được các « quan đốc lý » trưó*c hết — cả thảy là 
quan vỏ có đánh giặc bển Trung-Quốc, lại vài vị cỏ 
học chữ nhu — khen ngọi trong vụ sữa sang trường 
bố và địa phương mấy ông ấy cai trị. 

Chuyện đó làm cho ta nói qua vụ quản trị các phần 
đất đã chiếm cứ. Trong lúc thiếu thốn mọi sự và lộn 
xộn bậy bạ bởi mất các quan tỉnh, phép luật vả sồ 
sách mà ra, thi cỏ một điều dã thành tục còn y mà 
thôi, là cách sữa trị làng xóm an-nam. Nó cho cỏ thế 
ngăn trở khỏi ra hư hốt bề ăn ở nhom dàn, vì sự nó 
mau tồi bại đã khởi sự làm cho nhiều người ra kinh 
khủng. Phần nhiều trong những làng còn giữ đặng 
các điền bộ và đinh bộ, cũng có phần nhiều dã xuất thú, 
hoặc sau khi bị hủy tan mấy điều minh sử ước tại 
Chí-Hòa, hoặc sau lúc thâu chiếm Mỷ-Tho. Thảy đều 
xin phủ hộ và phép cồng chính trừng trị đạo tặc cảng 
ngày càng sanh tấn, thảy dều nài nỉ cho có một đấng 
làm đầu hành chánh. 

Cách phải sữa trị lảm sao đả chỉ ra tỏ tường, nồn 
ngươi ta cỏ do theo nó mà không bỏ bớt và không lưởng 
lự chút nào; là sự sữa trị thôn lỹ đềynhưcựu lệ, người 
ta nhìn biết nó lả cốt tử cách phải lẻ, dường bằng 
một vật thảnh kính kia mả Iigười ta gìn giữ. 



Khi quan thủy sư Charner vừa sang đến, ngưởi 
có phủ quyền cai quân sĩ tại Sài-Gòn cho ông D’Aliès, 
cũng một khi người phong cho ông ấy làm Thông iỷ 
bồn quốc sự vụ. Dưởi quyền ông D’Ảriẻs thời có 
mấy quan vỏ đã bẵt nhón trong các cư binh và cho 
xuất sỉ. Các viên quan nầy, kêu lả đốc lý bon quốc 
sự vụ, dều đặt tại chồ các tri phủ và tri huyện đã đào 
biệt. Chuyện mấy quan đó lãnh thi hành chỉ ve nhứt 
lả sự xử đoán cho cổng, chăn sóc dàn chủng, bát buộc 
chuyện cướp phả, học biết phong tục và gieng mối 
trong xử thề nào. Dần cho phần việc các quan nay 
chỉ ròng theo hộ, thời mấy òng ấy cũng có pbẻp. mà 
khiến binh đã đặt tại mồi sở đề tùy biến mà dùng, 
dường như chồ nương cậy cho quò-nphẻp mình vậy. 
Các phần đất của người an-nam đã chia ra mà trị . 
thi đề y vậy, lại quyền chư quan đốc ìý chẳng ra 
khỏi giải hạng dịa hạt mình. 

Mồi tuần, các quan phải chạy một tờ minh khai 
mọi việc thuộc bon sở, lại với những điều mình xét 
nệt về thi thế trong xứ thề nào. 

Cuộc thòng chảnh bồn quốc bị dứt đi một ìúc 
củng phả hư nề nếp, khi ấy đã lập lại- Bởi vậy, vừa. 
qua thảng juillet 1861, thấy có tạo thành một cuộc 
dùng ghe thoảng mà loan đệ văn thơ theo đảng nước. 
Cỏn về sỏ- thơ tín trên bộ, người ta cỏ lảm thử nhiều 
lần, lả giao cho kẻ đem đi riêng, đoạn phú cho các 
làng, sau hết người ta trở lại theo cách au-nam, là; 
lập trạm mà gởi, vỉ nó được việc khá hơn hết. Nhờ 
mấy tờ cảo báo cảc quan đốc lý, cùng nhơn cỏ 
phương thế chuyền đệ văn thơ, nên quan thủy sư 
mới giao thông đặng có chừng với các trỉ châu. 

Ắt thật, khi phong lập nhưng người Jhay mặt đồi 
lời cho nhà nước langsa trong các chồ có dàn sự ử 



— 339 — 


đông đảo tại mấy miền đẵ soán như vậy, thì ke cho 
là đẳc sự một ít, song như không biết tiếng an- 
.nam vả chử nhu, thời cách đó đủng nên sự chi cho 
được? Các vị thế hành hầy không đàm đạo đặng 
với nhơn dản, đã phú minh, không khác chút nào, 
cho sự hất trung,.cho sự chẳng đủ dùng thông 
ngồn bồn quốc nói tiếng latin, là crmấy người giảng 
sách phần đã bị các giám mục minh đuồi đi vỉ không 
chịu ăn ở tử tế, lại họ lấy tên latin đặt cho mình, 
mả tỏ ra chuyện quĩ quảỉ tắt, phế kỷ phận củng lạm 
' tang thuộc v'ê cảnh Bông. » (Pallu). 
f Thiệt thì trong sổ đó cũng cỏ vải vị lương thân, 
song biết thuở ấy ít có mấy người như vậy là dưỏ-ng 
nào? Ta xin hải tên ra hai vị mà thôi. 

Lấy theo tuế thứ, ngưò-i thử nhứt, là ông đốc phủ 
sử Huinh-Tịnh-Của, hay là Paulus của, nay là một 
vị cố cựu hơn hết trong ti nhơn hành. Người vào giúp 
nước nhằm năm 1869, lảnh chưc thông ngôn cho ồng 
quan hai thủy Boresse.khi ấy đã làm tri phủ(người lên 
chức quan ba thủy trong năm 1861). Khi trước ông 
Paulus Của học tại trường Pouỉo-Pinang ; trong 
lúc người giúp nước lâu năm, người có đặt ra một 
ít cuốn sảch chữ quốc ngữ đặng thiên hạ khen lẳm, 

. ta xin kề ra đày cuốn Bạỉ-Nam quỗc âm tự vị ló-n 
mà thôi. Chỉnh vì ta có nhờ ông ấy cho biết nhiều 
chuvện quỉ về sữ Nam-Kỷ. 

Người thử hai, tên đáng kính hảy còn lưu tâm 
mọi người, là ông Trương-Vỉnh-Kỷ, mà tên thiên hạ 
biết nhiều hơn là Pétrus Ký. Khi trựởc cảc thầy giảng 
thấy người muốn tường đạo lý, cho người vò 
■ trường tại Poulo-PinaDg, sau học giỏi ^ người ra ; 
ngưto cứ tiếp trao tria kinh sữ, song bởi chẳng sở 
I . mộ về chức phận thầy cả, nên cách hai năm sau 



— 340 — 


người từ giã hội giảng đạo củng đặng cấp bẵng lảm 
thông ngòn liền (nhằm 20 dẻcembre 1860). Quạn 
thuy sư Bonnarđ đặt người lảm đốc học trưửng thông 
ngon : khi đó người m<H vừa đặng hai mươi lăm tuồi 
Không kề tiếng bỗn quốc, ông pẻtrus Ký lại biết 
tiếng latin, langsa, espagnol, anglais, tàu, malayu, 
cao-man và tiếng xiêm nữa. 

Muốn cho đặng lo về chuyện cần hơn hết, quan thủy 
sư Charner mới dạy đặt ra một cuốn tự vị iangsa-an- 
nam bẻn tiếng an-nam thì viết bẳng chữ quốc ngư; 
lại, bơi thứ chữ nầy ở Sài-Gòn không cỏ, nền người 
dạỵ msách dó bên Thiên-Trước. Cũng một khi cỏ khai 
hai trường học, một cái đặng lập ra thòng ngôn langsa, 
cái kia dề dạy con trẻ an-nam học tiếng langsa. 

Trường thứ nhứt đó cỏ cha Croc cai « lả một thầv 
tu hay chiu lòng thiên hạ lâm, người biết tiếng an- 
nam sự như vậy ít có noi những kẻ nói tiếng ấy.» 
(Pallu). Đám sỉ nhàn của người thi ròng quàn binh 
rnà thôi, trong đó, có một ít quan vỏ, lính bọ vơi linh 
thuỵ; ngườỉ dùng-một cách kia được việc của người 
mới bày mà khòng tế nghiệm trước là bao nhiêu. Có 
khi mâỵ vị sĩ nhơn dó đã lảm cho người dược thảnh 
đến sau cỏ một it vị trở nên thông ngôn giỏi 
lắm, dầu vậy, số mẩy người đó cũng không đủ dừng. 

Trường đề cho con trẻ an-nam ít nữa có một phần 
cung chỉ về ý đó, vì như chủng ta khôn thổng qaoc ngư, 
thì phía người an-nam cũng chẳng biết tieng ỉangsa. 
Trước ta có nóị về sự mấy thầy dạy sách phần nói 

/5 J a .^ n n át> c ° v ài người an-nam 

nọi tiêng angỊais vừa hiều đặng mà thòi. Khi trước 

đế T ?- Bửc có th °i quen gởi mồi nam la 
mười lăm người còn trai qua Phố-Mơi mả hoc tiếns 
anglais. ' T ° 



— Ui — 


Những phương thế dã chọn dùng trong máy tháng dầu năm 
1861 , nhừ lòi người ta nói, đều chỉ phong tục và sự công 
binh: là làm cho dang các thói xấu mới ra, lại như có thế 
dược, thì gìn giữ phép cầm những ngưối ờ nựức Bại-Nam lại 
vả làm ra môt sắc dàn d% khiến. Rủi thay, pbẵi chịu thật rằng, 
ngưòă phưomg Tày, theo tánh khi và ý mình nghĩ trước, thật 
lấy làm bất tiện mà cho quản trị người cảnh Bông, Sự dem 
việc quốc chánh mả xen vô các chuyện xem ra đã làm cho chủng 
ta ra -khác tánh nưỏ-c mình; dôi phen ngưòi ta nói đặng răng, 
lòng đại dộ vối mấy kẻ yếu đuối, vài những kẻ chịu thua đã 
ra bó-t rồi. Tánh khí hảy còn như một điều ngăn trỏ- : người 
an -nam quen theo bộ điện khoan thai, mực thước các quan 
mình, nên thường khi không htèu chút chi về những lúc chúng 
ta giận, chẳng chịu nhẫn nhịn, cả tiếng óng la, cùng mấy vòi 
mảu phung lèn đó mà làm cho đỏ mặt ha tai như vậy. Sự bất 
thông tiếng nỏi đã làm cho bối rối mọi việc cùng hoá sinh nhiều 
điều hư hốt, song mấy vị tàn dáo không có gánh vác trọn những 
chuyện ấy. (Pailu). 

Từ ngày lấy đặng Mỷ-Tho cho tỏi khi quan thủy 
sư Bonnard sang đến, thi phía bên người langsa có 
dường như một thử đình chiến kia vậy, song nỏ khồng 
yên, phải mảu rơi thỉt nát, bởi chuyện cướp phá bọn 
ửng nghĩa mà ra, vì tại binh sỉ chúng ta ngưng cữ 
động tỏ tường, nên làm cho mấy vị ấy ra dạn dĩ. 
Người an-nam nói rằng, coi bộ quản đó ở dưửi tàu 
và trong đồn mả ngủ hết. Song trước khi nói qua 
lúc hành hung cùng tao loạn, ta phải viết thêm vài 
hàng chỉ về một cuộc kia đã lập thành mà đặng birih 
an hơn và hữu ích hơn cho xứ khôn cùng. Ta muốn 
nỏi qua việc ch& chuyên dàng biền. 

Cho tới thuở đó thời sự chuyền vận tùy theo 
dường đi vỏng qua Mủi Bonne-Espẻrance. Tàu ở 
'nước Langsa mà qua Nàm-Vìệt phẳi đi từ ba cho tới 
năm thảng, hoặc hơn nữa, mới đến nơi. Ngưòi ta 
gần đi theọ đảng mới, là chạy qua &Ịa-Trung hẫi, 
Hồng hải vả Ắn-Dộ dương, song phải chỗ 1 bộ bẵhg 




qua xử Ẹgypte từ hải môn Alexandrie cho tới cưa 
Suez, nó thâu vẳn đường lại nhiều. Vậy, ỏ* tại cữa 
Marseille mà qua Sài-Gòn thỉ phải đi trong 35 ngày 
(bề xa hai cưa nầy, không kề đường xe lữa xứ 
Egypte, thi tinh ra đăng 6.992 miỉỉe , nghĩa ỉà chừng 
12.949 kilomètre, lại sự tàu chạy mau tầm thường 
mồi giò" đặng 9 nceud, hay lả 16.668 thưó-c langsa). 
Hãng tàu Messageries Impẻriales có kí tên vào tở- 
giao ước kia vó*i nhà nước minh nhằm ngày 22 avriỉ 
1861, theo tờ ấy phải khai ra một ít cuộc quá hải từ 
khoi cữa Suez mà qua cảnh Củng-Bông. Ngày mồng 
3 juilỉet sau, nhả nước có chịu cử mả ỉập một điều 
luât châu phê sự giao ước đó, lại cỏ chỉ đụ đức hoàng 
đế ra nhằm 22 juillet 1861 mả bang hành nỏ nữa. 

Mấy cuộc đi biền làm cho ra cần cỏ : 

I Một dưò-ng chảnh từ Suez qua Sài-Gòn, cử 28 ngày có 
một chuyên tàu. 

II Vài đường phụ, là : 

1° Từ cừa Aden qua hòn Réunion vái hỏn Maurice. 

2® Từ cữa Pointe de Galles qua cữa Pondichérỵ, Madras 
vói Calcutta. 

3° Từ Phổ-Mới qua cữa Batavia. 

4° Từ Sài-Gòn qua cữa Manille. 

5o Từ Sải-Gòn qua cữa Hưong-Cảng vỏi Thượng-Hải. ' 

6o Từ Hưo-ug-Cảng qua cữa Yokobama. 

Bỏ-i cổ' thương mải mả ra— vì lúc đó Sải-Gồn 
chẳng có buôn bán vật chi vỏi chòm củ-lao Philip* 
pines — nên đường phụ từ Sải-Gỏn mà qua cựa 
Manilỉe không có khánh táng bao giò', còn đưỏmg 
chảnh thời chẳng khỏi bao làu lại nỏ-i dải cho t«w 
cữa Hưcmg-Cảng, sau cho tới Thương-Hẳi. 

Luc khai kinh Suez (nhằm ngày 16 novembre- 
^69), thì cỏ bội nhị chuyên tàu đưừng chánh, cư 
mbỉ 14 bữa khai hành một ỉần; song sự như vậy 



— 343 — 


lâu đặng cỏ ít tháng mả thôi. Trong lúc giặc 1870- 
1871, cuộc quá hải bớt lại còn có một chuyến, cứ 
hè 28 ngày mỏì cỏ tàu, việc nầy có dư dùng về 
chuyện buôn bán. Qua năm 1873, khi hãng Messa- 
geries Maritimes sữa các cuộc chở chuyên lại, thi 
tảu đi qua Sải-Gòn và cảnh Củng-Bông mói tải lập 
cứ 14 ngày một lần, như nay nó hẳy còn vậy. 

Khi đã nông sức dường ấy mả bấu lo chấn chỉnh 
phần đất chiếm cứ cùng chiêu an nhcrndân phải chịu 
cai trị, thi người ta cỏ phép mà trông thấy yên ồn lại 
một chút, lại thêm khi đỏ lấy Chí-Hoà đã đặng hai 
mựoi ngày, cỏ ông Nguyễn-Bả-Nghi làm thống lãnh ỏ* 
tại Biên tỉnh, đang xin cầu hòa (sau ta sẽ nói qua 
chuyện nây). 

Vẵ chăng, quan thủy sư cỏ làm mọi điều mà vồ về 
lòng dần. Người chuần thuế năm đó, người lấy lòng 
tốt mả nhậm lòi những kẻ trước đã trốn đi, nay trử 
về xin ruộng đất mình lại; người tha cho mấy kẻ bị 
bắt trong lúc giặc giã đặng trờ về làng mà đăng tịch 
và an cư lạc nghiệp theo dân chúng. Dầu vậy cũng 
không đù tay nòng phu cùng là con vật mà cày cấy. 
Nên có cấm không cho làm thịt trâu. Sau hết, sự 
thầu thập tiền kẻm đề thủ phần tư lợi mả bấy lâu 
chẳng cấm đặng, thời khi ấy đã ngán đón nhờ tích 
trử nó lại phải lẻ lắm, vả có lo một ít phưưng thế làm 
cho ra bdrt châu lưu nó nhiều, qua ứnh Hầy tĩnh kia. 

Dầu vậy, trong xử cung chẳng đặng thái binh. 
Chuyện cướp phá trong nước Đại-Nam hẳng có luôn 
chẳng nhiều thời ít, lại có nhiều kẻ ử Nam-Kỳ bề 
pgoải coi như người rầy bải, chải lưứi, bạn bẻ, mả 
họ dề ta rập với nhau lạ lủng đặng khi thi chiếm thâu 
tải vật GÙa tay hảo hộ nào đỏ, lúc lại đảnh lấy ghe 



buôn. Đảm- -'giang --hả vô số tại miền trúng ohâu 
cho có thế dề ăn cưởp lẳm, lả chuyện buộc phải 
cho bạt thiệp chẳng những lả trong lúc hạ thủ mả' 
lại trong lúc dào tản khi đã thành hành. Khi quan 
an-nam đi mất, nhiều kẻ lánh minh tạm vả không có 
hương chức coi sóc, lại đôi phen dùng cơn bất bỉnh 
mả cầu lợi nữa, thỉ tự nhiên chuyện cướp phả ra dẫy 
tràn. Quân nhập bọn chẳng thiếu cbi ; nên mấy kẻ quen 
thỏi gian ảc có lính thất tán đến hiệp với, lại họ lấy 
nghề đạo kiếp lảm hạp với ý mình hơn, vỏ-i tài năng 
minh, hơn là công chuyện lảm ăn tử tế vả có chửog. 

Thì thế các việc lại càng thêm bối rối và khỏ lòng 
hơn nữa, bỏ-i các quan an-nam dùng tân cơ mà xui 
giục chủng dân cách kỉn đáo. Mấy chuyện tại Chí- 
Hoà và tại Mỷ-Tho đã dạy cho mọi người biết hẳn 
hòi, dầu nơi đồng trống, dầu ở sau tường thảnh đi 
nữa, thi đại binh an-nam cũng không cự địch ĩại cho 
đặng với người ỉangsa. Vậy người ta mỏ-i bỏ sự giao 
chiến đông, mà dùng thử phương thế ít võ biền, 
song đẳc sự hơn nhiều, đặng làm cho đạo binh sai 
đi đánh ra mệt nhọc. Phải phá chung quanh đạo bĩnh 
ấy cho trống trải và làm cho xứ ra ở không đặng. 
Nên chủng cưò-ng đạo đưọ-c người ta bày biều và giục 
lòng mà lảm như vậy. Chuyện đốt phá nhả cữa 
ra năng cỏ, sự sát nhơn càng sình thêm nhiều. 
Bởi đỏ hóa nên một cuộc giặc ản cướp chán.chứỏmg, 
khi ấy nó còn một bưỏ-c nữa mả thôi, lạị chẳng 
khỏi bao lâu bước đó phải quá. 

Chờ cho tới chuyện như vây, thi mấy người mật 
thám đi ruồng trong hai tỉnh mà khuyên chuyện phả 
hại cùng chém giết ngưò-i ta, dụ mấy kẻ trai tráng 
mà nhập vô đạo bình thiệt, lại cả gan cho tới dảm lấy 
tên vua mà thâu thuế của quan thủy sư đã chuằn miễn. 



345 - 


Hết thây những người an-nam nào má thuận theo 
nước La.ngsa đều bị ngăm đe giết chết; cỏ một ít kẻ 
vong mạng vi như vậy. Khi các quan an-nam hồi 
tâm rồi, họ lại lấy lỏng dạn dỉ cho đến ‘dồi dám tới 
ban đêm mà thăm mấy cựu dân mình; họ dến hoặc 
khuyên giục chống trả, hoặc đe hại cách dử tợn lẳm, 
tùy theo tánh ý phỏ kẻ ấy thề nào. Người ta có trách 
móc về cách các quan ăn ở như thế, songsự đó chằng 
công bỉnh. Nên không cỏ tinh toán mà huởn đấu 
hay iù đinh chiến chút nào, lại chuyện như vậy thật 
nên làm, song cũng một khi khiến cho nhom dân và 
chính vì họ nữa phải người ta chiếu luật dử mà 
báo ác. 

Tại Sải-Gòn cung cỏ sinh ra sự thề riêng. Các làu 
chở lương và than có đem Jại cưa nầy một tốp người 
tính nết hung hăng củng mấy kẻ bộ tịch dễ nghi 
nan; đó cung là lủ liều mạng, buôn lậu, thường 
gặp phía sau các đạo binh xuất trận. Phần nhiều dến 
thương mải, song nhứt lả bán khí giái vả thuốc dạn 
lậu, là chuyện người thanh dã lãm ra cả thề lám. Các 
tội trọng chúng nó phạm mà hại bọn minh, thời 
không ai trừng trị. Ong Pallu thuật rằng,- lối giữa 
tháng avril (1861) cỏ một tên bạn amẻr-icain kia bị 
giết chết trong lúc ấu đã với một . đứa đồng hương 
với nỏ, mả quan quyền langsa không bằt buộc đặng: 
vi ỉúc đỏ tại Sài-Gòn nào toả, nảo quan thẩm án chi 
cung chẳng có. 

Thì sự nhơ vậy không đặng bao làu, nỏ lảm cho 
chung quanh người langsa ra trống. Nên phai biện 
phương thế cho mạnh mẻ mới dạng. 'Quan thủy sư 
Charner có dùng lấy nó. Ngày 23 avril 1801, cỏ rao 
truyền cho ai nấy biết, Hại Giàng Không và các sòng 
rạch.ịặi miỗn trung qhàụ nầỵ đã hl vảy (Mocựs), 



- 346 - 


trừ ra Sông Sài-Gỏn mà thôi, lại cũng cấm chỏ- lủa 
gạo đỉ ngã biền mả đem ra *)ại-Nam quốc. Qua 19 
mai, cỏ rao báo rằng phần đất chiếm cử đã giao 
cho bèn vo hành chánh ( ẻtat de siège). 

Sự giao quyền mả rao báo như vậy, thời làm cho 
sinh (liều bức trẳt tỉnh cờ trong chuyện thông vạn 
quốc còng phảp. Vì trong từ công vàn không cổ hài 
tên nước Espagne. Vày nước Langsa tính lấy trọn 
các phần đất đã chiếm đặng tại Nam-Kỷ mà không 
chia cho ai hết- Quan khảm mạng toàn quyền ôửc 
vua có đạo, là ông quan năm Palanca Guttierez, 
tưỏ-ng phải phàn phô chuyện ăy, song người đành 
phần lại cho nước Espagne định liệu. Quan thủy sư 
Charner có đặng lời du tỏ tường, nèn quyết giữ lời 
minh đã nghị định. Ngưcỵi ghi lấy lòi phản phò đó 
mà thôi, «song người tỏ ra rằng minh có đặng 
lệnh trẽn dạy chiếm soán Sài-Gòn, giữ nỏ không 
chia chác, roi đảnh lấy và sữa sang một phần đất 
xử nầy, người nhẳc rầng nước Espagne sẻ^tim 
đặng một nơi khác trong xứ Trung-Kỷ,^đẽ mà bồi bồ 
cac sự nước ấy đã thi liều cách vinh hiền.B 

Ghuvện đỏ dinh lại như vây, đến sau hai chánh 
quốc có tính toản vứi nhau. Tại Sài-Gòn thì nỏ phân 
rẻ hai quan toàn quyền, song nó chẳng làm cho sự 
giao liếp đòi dàng ra phai lợt chút nào, hay là giờ nào. 

Giao quyền hành chánh về bên vỏ là một điều phủ 
trợ cả thề rỏ ràng cho người langsa cai trị. Người ta 
cũng không hiều vỉ lảm sao vừa lúc ban sơ đã thấy 
khìem khuyết cả bộ hình văn như vậy mả chẳng giao 
nó cho bèn vỏ ; người ta càng ít hiều về sự cần phải rao 
báo làm gi, bởi chưng các phần đất soán được chẳng 
thuộc về chúng ta theo phép, khi ấy giặc giã chưa dứt, 
nên chính vi sự thề sau đo cần cho bên vỏ quản trị 
và dụng phép còng thẳng khiền binh mà hình loạn. 



— 347 — 


Cách sang quyền văn qua vỏ mà dùng cho khôn 

TT- í' ?/: và nhứl là cho có nhán > thi chẳc có iẻ 
đầc lọ-i khá hơn hết. Song rủi, chuyện cướp phá tầm 

thượng pha lộn với việc mấy kẻ ứng nghĩa tác vi, 
thì lảm cho người langsa coi mỗi người an-nam nào 
mả cầm khi giái ra như một dứa hung ác kia vậv. 
ôríg Pallu deja Barriẻrecó minh giải sự thề lúc đỏ và 
tâm tánh nhiều người langsa thề nào : 

tiếng nói ’ tại cỉlủ ' D ể ciy s ian dôi » cân binli 
Vực phản minh, băt chưỏ-c Ihói tục anglais cùng con đôc dữ 

choi dậy no-i lòng một ít ngưừi, và nhắc lại tánh sát bại khi 
trước dãgiụcngựò-i espagnol tàn diệt nhom dán hổng bi: đo 
là mấy cớ Chánh lảm cho dừng phàn biệt các ngiròi an-nam 
kình dịch lại vói chúng ta là như- vậy. Biết cỏ bao nhiêu ke 
trong đám ăn cu-ỏ-p nầy là quân linh dụng khí trượng quấy qua 
vậy mà thôi! 6 4 y 4 

***** ch “^ n ., cùn £ thế chịu chẳng nồi, nẻn phải cho hai 
« P hái . viê , n đ f g phép tha bắt, lại vỉ dầu quyền đấng 
“ mà cỏ tử tế và vững vàng cách nào, thi nó cũng 
khỏng sức sữa tảnh xấu ngưòi ta lại đặng. Trong lức dép 
giặc tại hai dày dất có sông bao hàm do, thây có ra lênh that 
nện kinh hải, song nó chẳng hề bất nhom bao giừ: <rCac ông 
đừng cho há hiếp dán sự vố can.» (Lời dụ gỏ-i cho cac 
quan cai mấy dạo colonne mobỉle.) 

BÓ lả một lúc thảm thiết cho truyện xử địa hạt, 
Ịf ví như chúng ta muốn tin theo lòi thiên hạ ki bay’ 
P hải kết rẳng, các lúc xử tử tẳc ấy đã trơ nên 
một cuộc tập lủyện kia đề cho một ít kẻ chơi. Vậy, 
những người nào gọi lá giáo hoá có lẻ lấy đặng mấy 
chuyện gờm ghẻxư Nam-Kỷ mả chưng ra trưỉc xa cđc 
chuyện quái gỡ tại phía tây phương Atrique củng 
tại Quảng-Châu-Vàn. Nhưng vậy, ta chuộng tương 
trong mấy chuyện thuật lại đeu có nhiều lòi phỉ thường 
dối thế, củng đôi khi sự khoe khoan thiết lập dang 
một ít truyện ki cục khó tin. Ta xin . nhắc lại chuyện 



— '348 — 


ngưòi thông ngôn an-nam kia trước cỏ lâm thầy dạy 
sách phần, biết nói tiếng latin, mả đã bị chết treo 
vơi sau tên ăn cướp dẵn theo một bọn. Thầy ấy cỏ 
làm hết sức đặng cho người ta biết minh là ai, khi 
dây dã vòng qua cồ, thi_thầy hảy còn kêu la bải hải: 
«Ego sum Petrus!». Thay cai binh thủy lảnh việc 
xơ giảo, không có họctrường nào khác, một chuyên tập 
việc khoanh day cuong bườm dưới tàu mà thối, nên 
nghe tiếng latin mà chẳng biều chi hết, lại không muốn 
biết nó chút nào, cử việc rútngười thông ngônlên trên 
đau trục buồm cho đưa qua đưa lại . . . như mấy kẻ kia ! 

Nhưng vậy cung cứ tiếp công luận vó*i nhả nước 
an-nam luôn; còn mấy kẻ gian ác, lập công, cậy the 
không ai trưng trị, vầy hiệp theo một ít kẻ làm 
dầu, sau lập ra đậng vài đoàn đông đông mà chông 
lại với mẩy đạo colonne mobile nhỏ, cùng hảm đảnh 
mấy phần hờ nữa. Trong lúc đầu mưa, lại hề còn cày 
cấy bao làu, thi chuvện động dụng có huỏ-n một chút; 
mà khi xong rồi, nỏ lại trở ra loạn lạc. ^ 

Cho tới luc đỏ, vụ tính toán và sự bối rối dều có 
mọt lược, nên chúng ta cung phải theo hết cả hai. 

Ta co nói rằng, sau khi lấy đồn Chí-Hoà đặng haị 
mươi ngày, thì ông Nguyẽn-Bả-Nghi cỏ cho người tửi 
cùng quan thùy sư Charner mà bày tọ việc giao ho ả. 
Người dó là ồng phủ Khả, phụng lảnh đêh trao lời bàn 
tính (1). Người xuất bành tại Biên-Hoà, cỏ một ít bộ 
hạ theo ma thôi, người xuống tàu Prỉmauguet đậu 
tại Sông Sài-Gòn, lối chồ giáp đường qua Bièn tỉnh 

(1) Ngưòi khác lại nói là cựu quan án Văn, thuộc tỉnh Gia- 
-Binh, lúc đó đã bị cách chức, lảnh di bây tỏ việc cầu hoà. Bởì 
các chuyện còng iuận dày dưa mấy thảng, nẻn cỏ lẻ hai vị nây 
diu cỏ dung tiềp nhau dăng dến mà trao lời. 



— 349 — 


(Point A). Có một chiếc tam bảng tàu corvetle đưa 
người xuống Sài-Gỏn. Ong phủ Khả lả người dem 
(in ròng theo cách phương tìông, nói dòng dài các 
việc tai hại giặc giã, nhưng mà rốt chuyện không tỏ 
bày sự chi hết. Nên phải lập ra các diều buộc kết, song 
ban sơ bên Biên-Hoả không chịu, ông Nguyễn-Bá- 
Nghi nói trong thơ thứ nhứt rẳng, «các chuyện ích 
lọ*i đều về phần nước Langsa, khòng có cái nào cho 
nước Bại-Nam hết Người an-nam tính ỉo việc giản 
hoà đó giã đò không biết điều cần nhứt bỏ’i cuộc 
giặc giã mà ra, là kẻ thất trộn không đòi đặng phần 
thạnh lợi nào cho mình. 

Ngày 26 avril, quan thủy sư đề dốc trả lời râng, 
« như tờ giao hoà mả kí lên xong, thi cuộc buòn hán 
của người an-nam ở ngoài xử, bấy lâu bị các tàu croi- 
seurphá đi, sẻ đặng thong thả lại như trước; lại bởi 
người langsa dã lạp giang sơn cơ nghiệp lại Sài-Gòn 
vối Mỷ-Tho, nên sự thạnh lợi xứ Nam-Kỳ sẻ mở 
mang cũng có khi quá hơn là lúc trước giặc; sau 
hết, nưức Langsa dã không gày chuyện túng ngặt cho 
triều dinh Huế làm chi, mà có lẻ giúp dở dăng trong 
nhiều lúc nữa. Khi quan thủy sư phúc lại mấy điều 
suy nghĩ ấy cho quan phòng bìẽn quàn thứ, người nói 
minh lấy làm có phước mà dạng tin trả lời cho thấy 
xoáng qua sự có giao hoà đặng cùng chăng.)) 

Quan thủy sư Charner có thêm vò sự người trả lời 
một chuyện đề làm chứng chẳc chắn hơn, đặng cho 
ông Nguyền-Bả-Nghi biết cách thế người đã đùng bà 
ngày trước, là: cấm chở lứa gạo đi ngã biền mà 
đem ra raấy tỉnh ngoài. 

ỏng Pallu nói rằng, tin ấy làm cho người an-nam ra kinh 
khiếp. Dầu cho khi đã lấy đặng Mỷ-Tho rồi, thì họ cũng còn 
trông cậy luôn v'ê các diều khồ hại giặc giã không dóng tới 




* • 

chuyện vần lơcrng phạn, vỉ nó lả một sự cần thứ nhửl cho 
họ đặng sống. Quan kinh hrợc cỏ van trách về mấy chuyện 
gay găc, mấy việc tác thảnh, v'ê sự chí quyết những diều buộc 
ép đã gỏi cho minh, sau lại về tân nạn dỏ nữa (nhằm 3 mai 
1861). « Bã ba năm. trời ngài đảnh giặc vỏi chúng tôi, thỏi 
chẳng cỏ sự hại nào ngải làm mà trong nước lâm lụy nầy lánh 
khỏi. Kho tảng dêa đốt phá, thảnh quách chiếm thâu triệt hạ, 
tàu thuyền chảy tiêu, cuộc bán buôn ra hư nát, ghe cữa 
chở vải bô quí giả bị phá chim, binh lính giết sát, nhồ cữa 
tan hoang. Ngải dòi chúng tỏi bạc, chủng tỏi dã ra nghẽo. 
Vậy cỏ phải ngài làm bấy nhiêu chuyện tai hại dỏ cho vui 
lòng Bức Chúa Tròi chăng? Bâỵ gifr ngài lại dón ngăn 
lúa gạo; vày thòi dản sự chúng tôi chắc phải bị chết dói mà 
thôi.x* Sau hết, thấy cỏ nói lòi khí khải nầy: « Bởi nỏ là 
phưong chót mà quí quan đề lại cho chúng tôi, vậy được lắm! 
chúng tôi cung còn kiếm đặng binh khí khác mả dối địch lại 
vói ngài.» 

Quan thủy sư đề đốc cỏ phúc thơ ( nhằm mồng 7 mai 1 861 ) 
mà nói rằng « mình sẻ ra sức dùng hung khí mà tống khứ 
hung khí», 

Dẫu vậy, sự trả lời đó cũng không làm cho đửt 
chuyện tính toán, ta xin chép thêm ra sau đày bức 
tho* quan thủy sư Charner gởi cho ông phòng biên 
quàn thứ nhằm mồng 7 juin; nỏ đẳc ích về sự nó cỏ 
đủ các điều buộc kết đặng mà giao hoà lại: 

Có lẻ tôi trả lòi^ ít chậm trề ho-n về bức tho- Qui Quan dã 
gỏi cho tôi, phải chì tỏi chắc rằng trong thơ trước tôi 
không cỏ nói cho Qui Quan rỏ tự sự vê các điều dai khái dề 
cho chúng ta đo theo dỏ mà lập thành cuộc giao hoà cho 
trưò-ng miên. 

Nhưng vậy, bỏ-i e bỏ sót một ít diều, nên tỏi xin kề tắt lại 
cdc chuyện buộc tỏi phải do theo dỏ mà nghị luận : 

1° Việc thớ phượng dạo Thiẻn-Chủa cho thong thả. 

2° Nhượng thành Sài-Gỏn và tỉnh Gia- Định. 

3° Nhưụ-ng thảnh Mỷ-Tho vả cuộc dẩt bao chung quanh nó. 

Nltưọng Thỗ-Oầu-Một ở trong tỉnh Bièn-Hoà. 

Bi thong tha trong các sông rạch tại hướng Tây. 

6o Ngưộ-i lảv thông thưong đặng trong dế quoc, miền là 
họ phục tùng luật nước. 



— 351 — 


7o Giâo nhưng ngiròi tây bị Ciio rang phạm luật lại cbo 
quan lãnh sự ả tại cữa biền nào gần hơn hết. 

80 Hai bổn có phép mà tỏ bày mọi việc tại hai triều thế 
cho hoàng đế nước Langsa và hoàng de nưóc An-Nam. 

9u Lập chức , lãnh sự ra và dề cho cuộc thương mải 
người tây đặng thong thả tại các cữa chánh. 

10 o Ân xả hết thảy các chuyện chỉ về giăc giã. 

Ho Bồi thường bốn triệu ngụyẻn bạc. 

12o Cho quan sử espagnol dự vào tờ giao đặng phép 
can gián. 

Cho tái bày giò" thời Quí Quan cũng không sá đến các viêc 
dã thảnh hành, Quf Quan chịu có hai diều, là sự thong thả thờ 
phượng dạo Thiẻn-Chúa và cho quan sử espagno! dự vào tò’ 
iróc mà thỏi. 

Qui Quan cứ trách móc về sự tôi xin mấy diều dó rằng (ỊUÚ 
mực, cùng cho tỏi biết thật Qui Quan chi quyết ao ưỡc làm 
hoạ, song cho tói nay Quí Quan lánh không nói cách chi cho 
chắc v'ê các diều Quí Quan bằng lòng mà nhường cho chúng 
tôi làm sao. 

Qul Quan có cho rỏ nhiêu lân, rằng chúng tôi chẳng có sự 
gl mà bù lại cho Quí Quan v'ẽ những việcich. lọ-i chúng tôi dỏi, 
lại sựnhưọ-ng tỉnh Gia-Bịnh thì bằng nhưọ-ng hết thảy các tỉnh 
phía Tây xứ Nam- Kỷ. 

Tỏi kính xin trả ló i thèm rằng, sự an hoà sẻ làm cho nưỏc Bạt- 
Nam buỏn bán ra chắc ý vả đặng thạnh lợi; không còn mắc 
phải chúng tôi dảnh phá nữa ; giao thông dăng vói các tính 
phía Tây, là mấy tình trong lúc này bòng thoát ra khỏi quyền 
mình cai trị. 

Bằng như giăc giã ra dây dưa, thòã sư thề đế quốc chẳng 
khỏi thém hiầm yếu. Chắc có lẻ Qui Quan dã rỏ thấy dèo 
nó di như vậy ròi. 

Ta không nói lại cho láu dài về mấy lẻ yếu đuối, 
cùng theo- tiều nhi mà hai bên dùng đặng trirng ra 
trong lúc tính toán đỏ. Giặc không thựa theo câu nói 
bao giờ, các cách quỉ quái về sứ sự,- tráo trở còng 
chuyện,, thòi không dụng dược việc chi vô đó hết. 
Kẻ mạnh hơn buộc điều kia điều nọ, người yếu 
hơn phải ép mình mà chịu trọn hay là một phần, tùy 



theo bực mình sút. cỏ cẵi lầy thíri chi về cẳc điều đỏ 
mả thôi, lại có một minh bề tài phép hai đàog giao 
chiến trong iủc cầu hoà giục khiến người thẳng phải 
bỏ mấy điều minh đòị thề nào, vk kẻ thua giữ bớt lại 
chuyện buộc bồi thưỏ-ng ỉàm sao mà thôi. Mỏ- việc bản 
luận ngoải mấy điều nầy thi là đi dựa một bên chuyện 
phải tính, nó chẳng ra chi hết. 

Phàm như quan thủy sư đừng cỏ nói tỏ*i những sự 
đẳc ích và thạnh lọi mà mồi người, mồi dần đều hiều 
theo cách mình, lại thật vô ích mà cải lằy nỏ, người 
cứ gởi các điều mình đỏi buộc mả thôi, cho biết 
rằng như chịu nó mà đề trề, thì nỏ ra nặng hơn, lại 
trong lúc chờ trả lởi, giặc cử đánh như ừước, chắc 
cỏ ìẻ không yên đặng dày phút nào cho só*m hơn, 
song quan thủy sư khỏi các sự tưởng lầm, cực trí và 
có khi người lánh đặng trót nữa phần loạn lạc kề' 
nối dài theo năm đỏ. Khi bẻn yếu hơn chưa mất hết 
lòng tròng cậy, thỉ họ kiếm cách tính toán cho lâu, 
kéo dài các việc ra, nghĩa là cho minh đặng thêm 
ngày giờ. Đỏ là cách của triều đình Huế đã dùng, họ 
tròng cậy làm cho chúng ta lao lực, họ vọng tưởng 
sự tầm phào, là sẻ cỏ«iột đại quốc nào đến xen vào mà 
binh vực; đòi khi người an-nam cỏ cho biết chuyện 
nầy,- dầụ cho họ khòng nói dạng là nước nào yà 
chẳng chỉ sự chi ra cho rỏ. Họ đem lòng mơ tưỏ-ngv 
tròng ước luống còng, củng không muốn lảm hoà 
chút nòo cho chẳc. Cách một ít lâu, ỷ thật họ dã tố 
trần, nèn phảỉ tin nó. Vã chăng, muốn cho nhơn dán 
bại tích bằng lòng chịu các điều buộc, trước hết phải 
làm cho họ dầu phục, dó là chuyện thuở ấy phải lậm 
mà thỏi : Nước Bại-Nam khi đó dã bị thất, song chưa 
tận lực thế cùng. 



— 358 — 


Người ta bất hoà với nhau hẵy còn lâu. Vỉ tâm 
tảnh nhơn dân ở chung quanh đất chúng ta chiêm 
cử tỏ lòng chẳng thuận chút nào. Yỉnh-Long, củng 
như Biẻn-Hoả, đã trở nên một chồ trung tim châu 
truyền sự chống trả. Phần nhiều trong những nhả 
hảo hộ, những tay quyền thế tại mấy miền đã đầu 
phục, dều rút qua phía Tày cùng ở đó mà lám cho 
dấy động luỏn. Trong vòng phần đất soán xong rồi 
đi nữa, thấy cững có một ít chồ nghịch. Trong mấy 
nơi bất thuận hơn hết, thì kề đặng iâ Gò-Công. Tại 
miền nầy nhà Nguyền cỏ nhiều người theo phe; cỏ 
một ít vị trong hàng tôn thất ở đó, có vải vị khác 
đã mai táng tại nơi ấy nữa. Bởi vậy, khi sự cướp 
phả biến nèn loạn lạc, thỉ Oò-Cộiig lảm dâu dấy dộng 
trước hết. 

Ong huyện Toại cai trị miền nầy trước khi chúng 
ta sang đến, có qui đặng chừng sáu trăm người, 
trong số kề nhứt là lính đồn điền và binh ròng dã 
đánh giặc tại Chí-Hoà. Ngày 55 juin, trời mới rạng 
đòng, ổng ấy lới dánh Gỏ-Còng. ông quan hai thủy 
Vial, làm đốc lý bồn quốc sự vụ, lúc ấy có một ít lính 
thủy cầm súng tay mà thôi, hất thảy dạng 57 người 
kề về quan vỏ nữa; vả chăng, chiếc lorcha Am - 
phitrite cũng cỏ đậu gần lối dọ. 

Nhỏ- kẻ do thám cho hay kịp, nèn ông Via) canh 
giữ nhặt nhiệm cả đêm ; vừa tảo tình, linh an-nam cầm 
giảo, phàn lảm ba đạo coỉonne, gióng chiêng trống 
kẻo tói, tưởng đánh đặng thình lỉnh binh thủ đồn, tẻ 
ra họ bị súng tay rước bẳn. ông Viạl với mười tẽn 
lính thủy lước tới, bắn họ ngửng lại 'một dày; song 
người phải mau thối về cho chọ*, bởi thấy minh gần 
bị boc hậu. Hồi quàn như vậy vửa kịp, vi binhan-nam 
đã lố tỏi đầu mấy nẻo dượng. Binh langsa bẳn tề tỉnh, 



- 354 — 


nhắm chỉnh vả gần nhu- vậy; thi ìàm cho mấy người 
xòng đến trưửc hết pbải ngã; song cỏ kẻ khác nối 
theo, nên phải tiếp giết luôn, Bến lúc kia, mười 
người langsa xốc tới một lược mả đánh, nèn thành 
ra hồn chiến. Tên lính thủy Bodiez đứng núp trong 
chùa nọ với một ít bạn hửu nỏ, ngó thấy ỏng quan 
hai bị bên an-nam áp tỏ-i đánh gần quá củng hiềm 
nghèo lắm, nên chạy ra mà cứu người. Thật tên lính 
nầy cỏ đến án đặng ông quan hai, song bị giết chết 
tưo-i mả cung không xồ kịp phát súng carabine mình. 
Còn về phần ồng Vial, thì người bị hai mủi giáo cùng 
phải hoả hồ an-nani xịt cháy nơi con mẳt. 

Song cảc chánh đảng an-nam đi tiên phuôn dã 
lụy hết rồi. Một phần quân nhơn bị súng carabine mà 
chết, dựt mình, thấy không còn ai dằn đàng nữa, nèn 
thối lui, đem mấy kẻ bị thương vổ-i một phần người 
tở trận trở về. Nhưng vậy, họ còn bo rmrò-i bon vị 
lại nơi chiến tràng, trong số cỏ ông huyện Toại. Ong 
Via] dầu bị vít nặng, thì người cung lên cho đặng 
trên chiếc lorcha và truyền xạ vài phát đại pháo xuống 
mấy dọc chúng ứng nghĩa đang rút đi trên bỏ- ruộng 
trong đồng. 

Phía người langsa, nhờ hết thảy ai nấy dều cần 
thận và tỉnh tâm, nên cỏ một vị chết với một vị bị 
bịnh mà thôi. 

Qua bữa sau, tròi vừa sảng, thấy có một chánh đẳng 
khác, tên là quản Định, mả bọn người không cỏ dự 
vô chuyện bữa trước, nay tới phiên dàn quàn nhơn 
tới đánh Gò-Còng. Bẳn một phát súng đại bác thi đủ 
mà làm cho họ lui về. Ngày Ỗ4 juin có binh tiếp đến; 
ông phó quan năm thủy Lebris di chiếc corvette Du- 
chayla tới đậu tại vàm Rạch Lá. Người cỏ đi khắp 
trong miền và phá tan đặng các bọn. 


I . 


« 



- 355 - 


Nhưng vậy địa phương ấy cũng không trang tịnh 
]ại, vì ông quản Bịnh, thế cho ông huyện Toại, lảm cho 
xứ hảy còn kinh hải lầu ngày. Khi trước ông nầy lảm 
quan cai cơ đồn điền — nay mới lên chức lãnh binh — 
người là con nhà hảo hộ trong xứ, vả có cai đạo binh 
tinh nguyện mả đảnh tại Chí-Hoả. Đến sau, ông Định 
nồi tiếng van danh, nhờ đảnh phá mấy lần cách dạn dĩ 
lắm cùng vì sự người ăn ở thẳng phép khôn nguôi 
với những người an-nam đã thuận theo nước Langsa. 
Người cảng lảm nên việc hom nữa, nhơn có nhiều phe 
thuộc thích lý cúng những quan cựu có gia quyến ở 
trong xử Gò-Còng đỏ vùa giúp, cỏ một ít tốp khác ít 
dông hơn, trong số kề lả mấy người có viên diền cùng 
là con chảu hoặc sui-gia với mấy tay làm loạn trong 
năm 1833 (ngụy Khôi), họ « cố thù các quan triều vù 
nhà nước an-nam, nên lẩy lảm bằng lỏng mà qui thuận 
với người langsa mới cai trị trong xứ, lại giúp chứng 
ta đánh đuoi các đảng cường đạo đang kiếm thế mà 
phá tán nhả cữa họ. » (Vial). 

Trong mấy lần ông Bjnh phá hại, người ta kề ra 
đặng chuyện ông ấy giết người cựu nghĩa với minh, 
lả bả hộ Huy; ông nầy đã làm cai tồng cho người 
langsa, ở tại Bòng-Sơn, gần thành phố Gò-Công, là chồ 
có tàu chiến chúng ta bảo hộ, người mới sai một đứa 
gia thần minh dam một bức thơ cho quan langsa mà 
chỉ chồ ông Định trú. Tên đầy tớ nầy trở phản lại với 
chủ nó, lả trao thơ cho òng Định, mà chính vì người 
chủ ấy nữa cung là một vị vô tâm (bởi kế nào nộp 
người đồng bang vdi mình, thòi hẳug kề là một đứa 
vô tảm, chẳng lựa lấy cớ chi trưng ra mà chữa lỗi: vi 
người ta cỏ lẻ đảnh với nhau, song không nên tương 
phản). Ong Định đến bắt tồng Huy liền; song phải 
binh langsa kíp đuồi theo bén gót, nên người vái 



— 356 — 


bọn đồng tàm đều chạy băng ngang ruộng mả trốn, bỏ 
thây cai tồng đã bị trảm thủ lại dọc đường. ' ' 

Cũng ở tại Gò-Công, òng ấy cỏ hăm giết tên xả 
trưởng cứ tiếp giúp việc làng cho tân chánh. Tên 
xả vô phước đỏ sợ mất trí, xin dàng hết thảy của cải 
mình cho quản Định, sau hết, cho đến đồi đem mình 
mà nộp vào tay người nữa. Ong Định dạy giết di. 

Tại miền Mỷ-Tho thì có ông phủ CẠu quản suất cảc 
đảng. Quau lẵo nầy là một người quyền thế lớn, 
hùng tàm, mả mắc tạt đơn, ba phần châu thàn đều 
bất toại, song àn cần lo lẳng đáng khen; người cử 
dộng các bọn mình bạt thiệp (1) cách lạ lủng lầm, 
khỏi một năm chinh vi người mó-i bị bẳt mả thòi. 

(I) Một hai khi sử ký cho ta thấy một chuyện siêng nãng 
ngoại trừ như vậy mà ỏ- trong minh một kẻ tảng tật, gân hết 
động địa đăng nữa. Lúc cuối Giặc Ba mưcri nám (Guerre de 
Trente ans), bên đạo binh suédoìs cỏ quan tưỏ-ng Torstensson 
thống lãnh, ông náy làm bệnh hư phong tầu chú, không dộng 
dạng dược, mà cũng dạy ngưòi ta deni mình ra khỏi phỏng, 
dề trên gưòng má khiêng dến trước mặt tiền quân Ngưòi càng 
bại nhiều chừng nào, thì xem ra qu;n lính ngưòi sai khiến 
mau chừng nấy, Ohẳhg có lúc nào trong con giặc làu năm dó, 
mà hành binh đặng bạt thiệp như thế. 

Nói qua chuyên phủ Cậu, thấy ngưòi ta không tin cho chắc 
về quyên tước người và cho tói tên người nữa. ỏng De Gram- 
niont nói rằng, <1 dã lảm bịnh don phung, thì theo luật an-nam 
ngưòi không đặng chức nào trong hàm quan, song thiẻn hạ nói 
rằng đức hoàng dế Tự-fìức có hạ chỉ kí tên mả phú quyền vồ 
hạng cho ngưò'i.» Ta xin nhắc lại, dức hoàng dế không cỏ ki 
tèn vào sự chi hết ; sau lại, có lẻ ỏng phủ Cậu làm quan dã láu, 
rói tật do n mó i phát. Dầu vậy, ngày nay thiổn hạ cũng chẳng lấy 
chi làm chắc về hình duông quan ấy. 

Theo lợi ông Paulus của nói rằng, thật ông Cậu có làm tri 
phủ tại tỉnh Mỷ-Tho trưức khi người ỉangsa sang dến; còn tên 
ngưòi thì chẳng ai còn biết nữa. Dàn sự kèu người lả phủ Cậu, 
chỏ- không phải phủ Cao hay là Kao như hai ông Pallu vó-i De 


3 ĩ % 


t 5 % 



- 357 — 


Có một ngưò-i chánh đẵng khác đảng kề ra đây, là 
ông thiên hộ Dương, cũng có đánh phả trong tỉnh Mỷ- 
Tho nữa. Sau hết, có một it tay đầu đảng nhỏ đi rão 
trong xứ cùng thâu thuế, lại, như họ chẳng lảm hại 
đặng người langsa cho hẳn hòi, hộ lại lâm cho nhơn 
dàn an-nam phải khốn khó quá sức. 

Sự thề tao loạn như vậy gan biến ra nặng hơn nữa, 
còn vụ tính toán giao hoà cứ khiên tri mải, nèn nó 
làm cho càng ngày cảng thêm khó. Lúc đó phải cần 
phưo-ng thế cho mạnh mẻ mà dùng, vã lại, rốt việc 
người ta thấy đặng lòng xấu mấy người an-nam giản 
hoã. Ngày 21 juiilet 1861, ông quan ba L. de Gram- 
mont, khi ấy làm đốc lý bồn quốc sự vụ (ban sơ 
người trấn nhậm tại Thủ-Đầu-Một, sau tại Hóc-Mòn, 
từ cuối thảng décembre 1861 cho tới 26 avril 1862), 
người có dạy bắt, trên phía Tảng-Bàng, ba tên (Mưu, 
Tri, Thới) đem giấy tờ nói ve sự ngưòi langsa ăn ỏ- và 
lảm những việc gi, lại với một chỉ dụ, thật phải lả của 
đức hoảng đế cùng chăng, thì không lẻ bên Biên -H oà 
chẳng- biết. Ta xin chép lại theo bồn của ỏng quan 
ba De Grammont đã diền ra theo ý mình : 

Mồng ba tháng ba ( Jer rnars 1 861 ) (1 ). 

Trương* Bâng-Qu ế, Làm-Duy-NghTa vói Nguỵễn-Luàn có gỏ-i 
sỏ- dàng cho Bức Vua, thì Bức Vua có chàu phê như sau nẩy : 

«Ngưòi langsa dến tại xử Gia-fiịnh .dã dặng ba năm mà làm 
rối cho trầm; chúng nó triệt hạ thành, giết phá binh cố thủ. Bởi 

Grammont viết ra trong sách; song tiếng cậu không phải là 
tên, nó ỉà tưỏ-c tăng các con quan, nghĩa là em mẹ. Vậy chính 
vi ông phủ Cậu là cou quan, nên qua lúc sau, khi nhon dân đã 
kèu trồng ngưò-i bằng Cậu, thì có lẽ họ dề,jphầm ngưòi trước 
tưóc tăng. Vã chăng, càng có lý nghiệm hơh nữa, ỉà theo tục 
iệ connhà an-nam, hi họ nói về chuyện quan nào, thi họ kiêng 
nl không hải danh quan ấy. 

(t) Thảng ba nhằm tháng avril. „ 

) 



358 — 


đó, cdc kẻ trung vói trầm đều giàn quả -sửc, nhửt ỉả nhon dân 
xứ Nam-Kỳ, là kẻ trầm tirông hết thảy đều sẳn lòng hiệp cùng 
binh sỉ trầm mà bảo thù chung về các hic chúng la thất trận. 
Người langsa không phải đồng loại với chúng ta, họ muốn hà 
khác chúng ta vả hảm hiếp thê tử chúng ta. Vậy những kẻ 
nào lấy các chuyện ấy làm sỉ nhục, hảy theo chủng ta. 

«CÓ ai trong chúng ngưoi mà muốn giúp cùng theo hầu tíạ 
chúng nó chăng? 

“Tiền nhựt trầm có giáng chiếu mà bố cảo cho các quan 
lục tỉnh hay, trong đỏ trầm cỏ nói rằng: 

Mỗi người trung thần nghe lời trầm khuyên, hảy giục 
dân choi dậy và lập ra một đạo binh theo cách như vây: 

Kẻ nào mà chiêu đặng ĩ 0 người, thi nó sẻ đặng chức 
bá hộ. 

Kẻ nào chiêu đặng 50 người sẻ cho làm chánh lục 
phầm suất dội. Nó sẻ lảnh đặng một phan lương Nhả 
Nước phát cho với khi trượng mà luyện tập. 

Kẻ náo chiêu đặng Í00 sẻ cho lãnh chức phó vệ. 

Kẻ nào chiêu được từ 200 cho tới 400 sẻ phong chừc 
tùy theo nhơn số nó dụ được. 

Kẻ nào má lập đặng một đạo 500 người sẻ phong cho 
tám chánh nguyên phầm cơ. 

Phàm như ai bắt đặng một người langsa, nó sẻ lãnh 
bốn nén bạc thưởng. 

Aỉ mà giết đặng một người langsa, nó sẻ lãnh hai 
lượng bạc. 

Như ai giết đặng một tên dàn an-nam nào mả ỗ giúp 
người langsa, nó sẻ lãnh một lượng bạc. 

«Khi hứa các phần thưởng nẩy, thi trầm muốn khuyên dán 
trong nư<írc bẳt ngưdri langsa. Tại Gia-Bịnh, dã cỏ 308 ngưdri can 
dãm theo quản sỉ chúng ta mà đánh lại vói họ ; tại vĩnh- Long, có 
140 người. Không nói chi về năm cơ binh vả cơ lính hương 
dồng trước ỉr tỉnh Gia-BỊnh mà đã dem qua Biẻn-Hoả, thi cũng 
còn năm cơ binh khảc nữa đã cần mật tu thành. 

«CÓ phai thổá vận hết theo ta nữa sao? 

«Trầm biết rỏ nay có nhiều sự gay trở hơn tại ■Gia-Bịnh và 
Định-Tường, là chồ trầm dã mất các tỉnh thành. Vây trầm tựỗmg 
mấv kễ nào dã trỏ- về nhà mình, thi là phải lẻ, song bãỳgiỉrphải 
hiệp nhau ứng dảỵ mà đến với chúng ta ; trầm lấy làm vui iòng mà 


* 


* 






rưức chúng nó đặng dánh duồi ngưừi iangsa ra khỏi các tĩnh 
chúng ta. Sau thắng trận rồi, thi chúng nỏ mcri an lòng mà hổi 
qui hưỗ-ng lộc thương xứng dáng chủng nó dã đặng. » 

Vuă Tự-Bức. (1) 

Tự nhiên các chuyện tính ìàm hoà đều dứt đi lập 
tức. Sự thề ra tỏ rỏ hơn, song nó cũng đồng khó; 
VI như tỉnh Gia-Định hưởng đặng bề an tịnh một chút, 
thi xứ Gò-Còng vả Mỷ-Tho lại không được như vậy. 
Tại tỉnh sau đày, thấy òng phủ Cậu chuyện lo phá 
phách hết sức. Trên phia tây-bẳc thành Mỷ-Tho, cách 
chừng ba mươi ngàn thước ỉangsa, lúc đỏ đã lạp xong 
phần hờ Cày-Lậỵ (còn dài theo Sòng Lớn, đi lên, lại 
cỏ hai phần hờ Rạch Gằm với Cải- Bè); gần lối chính 
giữa đường băng ngay tử Cầỵ-Lày mà qua Mỷ-Tho, thời 
cuộc đất nồi cao hơi hơi và ra như một thứ giồng 
kìa, là nơi bắt từ thảnh mà đi tới phần hờ, thấy cỏ 
hai chồ kêu là Thuộc-Nhiêu với Mỷ-Quí. ỡ đỏ ông phủ 
Cậu có xày lủy đẳp đồn mả thủ, tại đó ngưỏ-i sai mấy 
bọn người đi đánh các phần hò- của chúng ta. Nhứt 
là phần hờ tại Cày-Lây thì chịu ngưò-i phá phách 
nhiều hơn hết (29 aoùt, 15 septembre). ông quan 

(I) Tò- bô' cáo nầy mà viết cách như vậy, xem ra sái phép. 
Ong De Grammont dien theo cách táy nhiều. Các từ công văn 
an-nam không cỏ đ$ ngày thảng hay là chức tưỏ-c dứng dầu, 
dôi. khi cũng chẳng có hài tên quan nảo gởi nó : ấn dóng vào 
đủ lẻ, lại phía sau các tờ ấy thì đè niẻn hiệu cùng ngậy tháng, 
thí dụ như vây, Mỉnh-Mạng, thập nhứt niên, bát ngoạt, nhị 
thập nhị nhứt, nghĩa là hiệu Minh-Mạng năm thứ 11, tháng 8 
V. V. Bức hoàng dế không có ki tẻn từ nào; nếu như người 
phải thủ kí, thì ngưừi chấm một diềm son trên đầu hàng chừ 
thứ nhứt (châu điềm), rồi dóng ngọc ấn người vào (xin coi 
sách ỉnstìtutions annamites, cuốn thứ nhứt, trứo-ng 265). 

Ta chẳng bao biếm sự tích nầy cho lảu dài lảm chi, vi mấy tên 
bắt đặng dã đủ cứ, chúng nó vói ý tứ cùng sự chủng nó thù tạc 
vói cảc quan an-nam thi chẳng nghi nan dăng. 



- -360 - 


ba Chassẻrỉau {về binh bộ thuộc thủy) thật kiên tâm- 
lắm, người có gìn giữ nó đặng một ít làu. Sau hết, 
«chợ bĩ đốt cháy. Muốn cho mấy chồ chúng ta soán 
đưọ-c yến ồn một chút, thì chẳng khỏi bao làu chủng ta 
cũng phải đốt một ít như các ngưòù bồn thồ vậy, nên 
khi hai bên phả phách cho mình đặng ích, thửi lảm 
cho trong xứ phảĩ mau tản mạt. Cũng trong lúc dỏ, có 
sai ông quan năm thủy Lebris đến dày đất có nưỏ-c 
bao hàm Ợ) là nơi người dem binh đi đi về về đã ba 
tuần lề tại xứ bị nưỏ*c ngạp gần khắp chồ, thời 
người với compagnie thứ hai thuộc 10P de lỉgne, 
ỉa cơ quân chịu mỏi mệt giỏi lẳm có ông quan hai 
Bellinger quản suất (sau làm đốc lý bồn quốc sự vụ 
tại Cần-giuộc), mới phả đặng mấy đảng chánh và ngăn 
cằn lại các cong việc phòng ngự họ dã khởi sự lập 
tại Mỷ-Quí. Mà sau khi giải vây mạnh mẻ như vậy cùng 
lúc nó làm cho chúng ta đặng rảnh rang (từ mồng 
'một cho tớil4 septembre), thỉ có thiết lập một cuộc 
hành quân cả thề hơn có òng quan năm thủy Desvaux, 
là chủ tỉnh, quản lảnh đặng chinh phạt cũng Mỷ-Quỉ 
đỏ*; trong việc nầy chúng ta nhờ binh espagnol giúp 
hẳn hòi lầm (14-25 septembre)^. 

Muốn cho ai nẩy hiều rỏ hơn nửa về các lúc giặc 
chòm giặc xóm khôn hay vừa dứt như vậy, ta xin 
chẻp lại sau đày khúc Lục trong sề nhựt kí của 
quan vỏ kia sai xuồng Mỷ-Tho (theo ỏng Đe 
Grammont) từ ngày 29 aoùt cho tới 30 novembre 
1861. 


(1) Ngưòi viết khúc nầy, lả ỏng De Grammont, có lẻ muốn 
nói về địa phưong thuở- đó ngiròi ta gọi là 0 dây đất có mró-c 
bao hàm bên phía tày » nghĩa là xử ở giữa Sông Không, Sông 
Yủng-Gù, biền vói nước Cao-Man. . . 



— 36.1 


2.9 aoủt. — Đánh dôn Cày-Lậy, có ông Chassériau thu cự 
Jbọn của phu Cậu); ỏng Hanès tiếp cửu, còn 50 ngưòi rào 
chung quanh d'ổn mà ngăn dỏ-. 

4 septembre,— Mấy bọn 'ày trinh diện lối dồn Bourdais tại 
Rạch Bảo-Bịnh-Hạ, cách Mỷ-Tho chùng ba milỉe (4.956 thưóc 
langsa); có^sai ông Mac-Uermott, là quan ba thủy, duồi theo 
(vó-i Hnh thủy cầm súng tay). 

5 septembre.— Bắt lấy các ghe chỏ- súng tay cho ngưòi 
an-nam. 

74 septembre. — Cất binh qua đày đất có sông bao hàm 
mà tìm kiêm ông phủ Cậu. Bến sau ông Desvaux mó-i xuất hành. 

75 septembre. — Chính vi ông phủ Cậu tỏ-i đánh Cây-Lậy. ông 
Chnssériau dùng hai khầu súng dông an-nam vói mấy hôp do 
ăn không dã sừa lại làm hộp dạn tạp nạp mù bẳn tra hung lắm. 

27 septembre. — Binh liếp espagno! đi chiếc Norzagoray 
đến nơi. 

22 septembre. — Đạo colonne thử hai vó i ông quan năm 
thủy Desvaux xuất hành. 

23 septembre — Chiếc íelouque Soledad dã dùng tại Rạch 
Gằm dặng miròi lăm bữa rồi, nay phá dược các hàn tại Thuốc. 
Nhiêu mà khai dưòng di qua. 

25 septẹmbre.— Bánh lấy dặng Mỷ-Quí; nghiêm tử ông 
phủ Cậu bị chết bẳn. * 

28 septembre. — Các đạo colonne phục hoàn. 

29 septembrc. — Bi xuống .phía hạ lưu dại giang mà tỉm kiếm 
mấy kẻ giết xa trưỏ ng b Go-Công. 

74 octobrẹ. — Chiếc canonnière Gougeard phải mấy dồn 
ỏ- Cái-Thia (Mỷ-Urong vỏ-i Mỷ-Bức) bắn nó. 

..?ĩ.? ctob . re ~ 0U °' theo ăn cưó 'P ỏ' Rạch Cả-Hôn (phía dưới 
Mỷ-Tho mỏt chút). 

30 octọbrẹ. — Đánh vói ăn cưỏ-p tại Hạch Gằm : 22 ngưòũ 

an-nam bị vít. b 

3 novembre. — Bánh với ăn cưỏ-p tại Rạch Gằm : u ngưòi 
an-nam bị bệnh. 

9 lìovembre. — Sai binh qua Mỳ-Qui vói Phú-Mỷ mà do thám. 

74 novembre. — Khỏ-i sự thám thinh lại nơi Song Vủng-Gu. 

15 novembre.— Quan an-nam thâu thúếMỷ-Tho cựu. 

77 novembre. — Chuyện dại ác phạm nơiTíia noi nọ: cưó-p 
phá, lấy của người langsa nữa. Thấy’ dội ỏ' Cây-Lậỵ bị chàn 
đánh dọc dàng. 

28 và 30 novembre. — Chuyên tạp cùng dốt phả lối chung 
quanh. - • 

24 



Ai nấy đều thấy, cách Sòng Không chẳng bao xa, <■ 
nghĩa là gần lối tam tĩnh hướng Tây, lúc đó còn thuộc 
về quyền người an-nam cai trị, thì hẳng có chuyện 
phá hại luôn. Chắc có lẻ trong vụ đó phần Vỉnh-Long 
có nhiều hơn hết, là tại nó lân cận, lại vỉ như kinh 
địch với nhau tạm vậy mả không thành cuộc giặc 
thiệt, là vi các bọn đánh phả trong miền không làm 
cho nhơn số minh đặng đông hơn, cùng đủng khí 
giới cho xứng đảng : dàn sự trong dịa phương : thâu 
chiếm không theo hộ. Trử ra một ít chuyện tại Mỷ-Quí 
mà thỏi, thuở đó tảnh khỉ mấy lúc nghịch nầy không 
cỏ chút chi gọi là vỏ công, hay lả tạo loạn nửa ; nó cử 
giống như trứớc mà thôi, là : giết người lấy của. 

Phía Đông, dề canh giữ hơn, ứng tiếp đẳc sự hơn, 
không có bọn nghĩa sỉ nào liều mình đến tại Gia- 
Bịnh ; nhưng vậy, binh an-nam lại đóng mà giữ câ 
và mẻ tả Sông Sài-Gòn. Ban sơ, họ có chạy về cho tới 
Biên-Hoà mà trốn, sau trở qua mé hữu Sòng Bồng- 
Nai, nhằm bữa 31 septembre, tại Bồng-Váng (đường 
Biên-Hoà qua Thủ-Dầu-Một), lấy đó làm chồ thế hành 
binh. Sau họ kiến tạo một cái trại quân tại Mỷ-Hoả, 
nơi đường Sài-Gòn lèn Bièn tỉnh, đoạn soán lấy Lải- 
Thiêu vởi Thủ-Bức nữa, họ đẳp mô giăng ngang vả 
tri súng lớn mả giữ đường. Sau hết, họ lần lên Thủ- 
Dầu-Một cùng vày thử tỉnh thành ấy, nên làm cho 
binh giữ nỏ phải trở qua Sông lại. Ngoài có áp vô 
đánh mấy lần, trong cũng cỏ kéo ra mả phá vây, đến 
sau ta sẻ thuật chuyện nầỵ; song, trước hết, ta tưởng 
cần mả nói một đôi lời về những người cỏ đạo ỗ- 
tạị tĩnh Biên-Hoà. 

Tại miền nầy có Sông Sài-Gòn với Sòng Bồng-Nai 
phàn hạn, vậy qua khỏi sòng sau đầy, thấy có nhiều 
nhà có dạo ở dó đã mấy mươi năm, lá kẻ trốn lánh 



cho khỏi bị bát buộc gia hỉnh tại xứ Trung-Kỷ. Chắc 
có khi các quan an -nam thuở ấy muốn đề địa phương 
nầ y Ỳ c b? đông dần, nên không nỏi điều chi hết, may 
bồn thồ theo Phật giáo cũng không tưỏ-ng 
^ v ỉ tân đảo chút nào, lại sự giảng dạy củng 
cỏ làm cho một ít kẻ vào đạo nữa. Song từ ngày 
chiếm cử, nhứt lả tử khi tu bồ Thủ-Dau-Một lại mà 
phòng ngự, nỏ ra như một cái đồn kia đề cho binh 
xorm tới Biên-Hoà, thi các quan an-nam lại đồi cảeh 
ăn ỏ- vỏ-i con dản cỏ đạo. Trước hết, mấy ngươi 
nào trong đảm vô phưỏ-c nầv mà đã an cư tại mẻ tả 
Sông Bồng-Nai, thời bỊ soát iục tầm nẳ. Họ chạy qua 
trú tại huyện bẻn mé hữu sông mả tị nạn, tương 
hết nhọc lòng lo sọ- chuyện sảy đến ; còn mây kẻ mạng 
bạc chạy trốn không khỏi, bị người ta sanh hoặch ma 
nhốt, số chửng 300 vị, vô trong một cái chùa kia 
chung quanh cỏ tường ở gần Bien-Hoà. 

Khi binh an-nam dộ qua bờ hữu, thi họ đuồi theo 
đánh bầt mấy ngưỏ-i có đạo dã viền tằu vả tóm thâu 
lúa gạo cùng thú vật. Trong những kẻ vò phước đỏ 
cỏ nhiều vị chạy đến Thủ-Dau-Một, thấy nên thương 
xót họ xin quan langsa cho nơi đồ nhỏ- vả phủ hộ 
minh, õng De Grammont rước như vậy đặng chừng 
* BgKồi mả cha tạm ngụ trong mấy nha dã bo 
không, nhờ cỏ thay cẫ Robert, cai bội giảng dạo, 
phụ lực cả thề. Phần nhiều kề là đản bà vơi con tre! 
Ong De Grammont dùng mấy tên traĩ tráng mả lập 
ra một compagnie binh tiếp, người nói rằng d en 
sau cơ lính ũầy giúp nèn nbieu việc., 

Thưfrđó,ởtạỉ Thủ -Dầu-Một khỏng tinh tóá quan 
quản thự đồn, nó cũng có một đoản thuyền chiến nữa 
kề lả chiếc írẻgate Persẻơérởnte đề ngử( thuộc quan 
tưửc bá D’Harcourt, lảm phó quan năm thuỹ quan 



— 364 — 

đốc), chiếc Duchayla (ông quan năm thuv Lebris) 
vớt một chiếc canonnière nhỏ. Trong mấy ugày 15 
với 21 octobre, 19 với 21 novembre vả mồng một 
dẻcembre, thòi phần hờ cùng các làng phải bên an- 
narn dánh hung lắm. Nèn chuyến nào cũng phải kéo 
binh ra nhiều lần mà giao còng cho lận lực đặng lủm 
cho dang xa phía tiên chiến, vì họ dang kiếm Ihế mà 
dốt nhứt là làng. Mồi lần dụng hung khí dều có khi 
thời ỏng quan năm thủy Lebris, lác lại quan tước bá 
D’Harcourt đốc chiến. C*c chuỵOn nầy làm cho đạo 
binh cố thủ hết 2 người lính an-nam tử trận, 2 òng 
quan vỏ, 'Ằ tên lính bộ thuộc thủy với 5 người an- 
nam theo phe phải thương tích. Bèn nghịch hao hơn 
150 người. Rốt việc rồi thì thảnh Thủ-Dầu-Một với 
'các nơi chung quanh khỏi ra tan nút. 

Trong lúc binh an-nam tới đánh phá phần hờ tại mẻ 
lả mấy lần kế nhau như vậy, thì có lớp binh khác lập 
dồ thế tại Lái-Thiẻu mả ngăn dở, họ binh vực và xui 
giục mấy kẻ cướp phá theo sông rạch. Bởi không oi 
trị tội, nen những tày dó hưng tàm xuống cho tới vàm 
Rạch Tra mà đot cháy một cái phần hò’ của chủng 
ta đề cho người bồn quốc canh giữ. Muốn cho đặng 
ngần đón các chuyẹn xàm lăng hủy hại như vậy, thi 
ông phó quan năm D'tỉarcourt đánh lấy Lái-Thièu 
thật may lắm, rồi dề cho người làm dầu bọn theo 
chung ta có ăn lương, là ông Nguvễn-Văn-Thiết, giữ 
lấy. Chiếm thẳu như vậy cùng lập vài cái phần hờ nơi 
kia nơi nọ dài theo Sông Sài-Gòn, thi làm cho ghe 
thuyền đi đặng an tàm một chút và ép binh an-nam 
vói đảng đạo kiếp hộ tùng phải lui về trại Mv-Hoà. 

Khi lấy đặng Mỷ-Tho xong rồi, các việc vỏ còng 
cả thề phải ngưng lại, bơi bi mưa và cũng tại binh 



— 365 


gia không được đòng cùng quàn sĩ đã mệt mỏi nữa. 
Vốn thiệt còn Biẻn-Hoà với Yĩnh-Long phải chinh 
phạt mả thôi. Bó )à phần việc đấng noi quyền cho 
quan thủy sư Charner phải gặp khi đáo nhậm, _ lại ví 
dầu binh an-nam đảnh nhiều lần cùng bị các chuyện 
cưóq) phá, thòi chốn cơ đồ đã gầy dựng mà cai trị 
cho chính lý, vững vàng, nó cũng đặng hưng thạnh 
vậy. At thụt đến sau cũng còn việc hành binh, chuyện 
bối rối củng loạn lạc khác nữa, song nó lả điều không 
lánh đưọ-c, nguyên bởi chiếm đặng xứ mã chưa cỏ 
tờ giao ưd*c phè ưng, chưa cỏ cả nhơn dàn nhìn biết 
mà ra. Chính vi dịa thế các phần đất soán đụng dã 
phàn xử Nam-Kỷ an-nam ra làm hai khúc, nỏn nỏ 
cung phải giục bên an-nam khụấỵ rối người langsa, 
và kiếm đường băng ngang qua xứ thuộc về chúng ta 
dạng mả giao thòng với nhau; nỏ cũng khiến chùng 
ta phải đánh lấỵ cả hai khúc ấy nữa. 

Lúc dó, phải chờ mùa thuận mà thòi dạng làm 
tiếp theo các chuyện khơi hoàn tại Chi-Hoà và Mv- 
Tho dã khởi còng. Là lo xuất một trận mới, song 
quàn SỈ phải ăn ỏ’ cho hảo tàm và kiẻn cô’ hơn mới 
dặng. 

Khi mãn cuộc giục năm 1861, quan thổng lãnh tưỏ-ng rằng 
tài phép binh sỉ an-nam đă lụy rồi, lại tự tư dỉ hậu cuộc chiêm 
cừ sẻ noi theo dấu ngưò i ta dã xem thấy dăng trong lúc ngưò i 
langsa mới soán lấy xứ Algẻrie. Việc dó phải cho lâu ngày và cần 
nhiều quan tưỏ-ng ra công, nó không có ăn nhập vô phan việc 
ngưiri phụng lảnh thi hành, song nó dã làm hoàn tất. Quan thủy sir 
Bonarđ đặng chỉ dụ mông 8 aoủt 1861 phong ngưỏ-i làm thông 
dốc và thống lãnh binh Sỉ langsa ỏ- tại Nam- Ký, ngưò i vượt bien 
láu ngày và bị đi‘êu trắc trử, cho tó i ngày 27 nọvembre mứi sang 
đến Sài-Gòn. Bửa 30 novembre 1861, lúc 9 giò' ban mai, các 
quan dj>c lỷ các sỏ- d’êu hội nhau tại chùa Bồn Tàn-Thiết ( Ouura - 
ge-Neiỉf). .Quan. cựu thống lảnh nỏi vói các quan thủy bộ vảy 
chung quanh người, song chẳng còn tùng quyền ngưỏ-i nữa, 



— 366 — 

mà rằng « ngơòi từ giã các quan ; trong iúc người giúp nưó-c láu 
nắm kề tử đòi Đế quốc thứ nhứt cho tỏi khì ấy, chằng cò lúc 
nào mà ngưtri gặp một hội quan quàn thủy bộ màrộng lòng hửng 
chi bam hố lảm vièc bồn phận mình cách sang trọng thầ ấy»: 

Bạo bịnh Namdíỳ biết lỏi tặng khen dó qui giá là dưỏmg nào. 
(Pallu de la Barrière). 

Ta CÓ thẻm đặng vào mấy hàng của ông Pallu viết 
ra đó lá lò-i nầy mà thôi : Gác kẻ đánh giặc tại Nam- 
Kỷ nhập làm một đạo binh nhỏ giỏi nhứt ít khi người 
ta thấy. Trong mọi việc chi thì đám quan vỏ lảnh 
sự trị iý trong xứ cung đều tỏ mình giỏi hơn, lại 
chúng ta phải nhin biết thiệt tinh rằng, kề tử đỏ tới 
chừ, đầu công việc làm, dầu sự thông biều, cũng 
chưa có ai trồi hơn hội quan ấy. Các ông D’Ariẻs, 
Aubaret, Boresse, Lamaille, Philastre, Gamier, ta xin 
kề mấy vị dó ra mả thôi, đều có đề dấu tích về sự 
sièng sắng minh mẫn, thòng suốt cùng vô sánh lại 
xứ Nam-Kỷ. 


KHOẢN THỨ V 

THUY SXJ 3 TH ồNO-BOC 


___ ______ X 

GiXTA.3^ THÚT STT 3 B o NABD 
Tri vẽ quan thảy su , — Dấy việc bỉnh lại — 

■Đăng thánh Biên-Hoà — Chuyện bối rối tiếp sanh vủ đánh 
lấy Bả-Rịa — Lấy thành Vhìh-Long và chuyện hành 

binh. —Sữa sang lại. Lập các sở và khai công 
việc. — Lê-Phụng dấy loạn tại Bẳc-Kỳ. — Lúc 
bình an năm Ì862. Thù tạc với nước Cao-Man. 
Noi loạn năm 1862-Í863 (Lấy Gò-Công lại). 


TRÍ VẼ QUAN THÙY sư 

Thuở chúng ta thuật chuyện đến đó, thi bên nước 
Langsa cùng một ít nơi khầp cả và phương Tầy, 
thiên hạ có cải lẻ về cách phải qui chế dịa hạt thề 
nào cho khá hơn hết. Người anglais, tên lả Money, 
mới iri ra một cuốn sách đề hiệu lả Làm sao đặng 
mà cai trị một cỏi thuộc địa. Trong sách đó ông 
nầy có khen quá mực về sự người Hollandais sữa 
trị xử Indes néerlandaises, do theo chuyện đã có 
tiếng đon là Kultuurstelsel (Cách thế trồng trỉa) của 
quan tồng thống Van den Bosch bảy ra, lại kề từ 
năm 1840, thì nó đã làm cho ngân khổ nhà nước 
đặng thạnh nhiều. Rủi thay — lại nơ lả điều ông 
Money không nói — các phần huê tựi lảm cho choá 
mắt mả được như vậy, là bởi khinh khi trọn các phép 
con ngưỏâ ở đòú và nghịch vó*i những điều ích lợi 



dán chịu cai trị. Vừa năm 4848, cách ấy phải mấy 
người Hollandais thuộc phe binh vực lảm cho các 
luật lệ thuế khoạ ra nhẹ hơn có chống cải đặng mả 
bỏ nó, vỉ nó. buộc nặng nề đặng giục Iọ*i riêng mả 
thòi; nỏ bị chống cải cho tới 18B5, là năm hội bộ 
nghị thuộc quan Thorbecke dạy bải nỏ di. 

Tại nước Langsa, lả nơi người ta ưa lòi 'khoa ngôn 
ngử, là chồ trí tưởng tượng chuyện bông lông nhiều 
khi muốn thẳng trồi việc đã eháng chường, ở đó người 
ta chẳng xem xét cho cần thận. Mấy kẻ đoan chính 
thuở ấy không nói tới vụ tái lập một vương quốc 
arabe tại xứ Algẻrie chúng ta sao! Đức hoàng đế 
Napolẻon III chẳng có lấy chuyện minh cùng chuyện 
một ít kẻ khác mơ tưởng mà lảm ra điều khởi sự 
tác thành khi khai cuộc giặc tai hại bên xử Mexique 
sao ! Một thứ xày xầm kia đã nhìềm vảo trí nhiều 
người, nên họ tưởng thiệt tỉnh râng, kiếm đặng một 
cách cho phải lẻ thỉ dủ mà cai trị các miền thuộc dịa. 

Bởi tri quan thủy sư Bonard minh mẫn bặt thiệp 
lắm và ỷ hay bày biến, nên có lẻ người lánh, ít khỏi 
hơo mấy kẻ khác, cảc sự tưởng tượng theo thì tục bẳt 
ai nẩy phải chiu. Bởi vậy, khi nhả nước phú cho 
người tạo lập một cỏi thuộc địa lỏn tại Nam-Kỳ, thi 
ngưòà lấy làm hớn hở mà cung phụng. Kề từ ngày 
ấy, người tom góp hết thảy các chuyện ngưừi gặp 
(lặng hiền biết việc tại cảnh Cùng-Bòng, vối cảc đỉa 
hạt lớn trong cả và thế giải thuộc ngưỏi phương 
Tày chiếm ti Ị, thề nào. Vậy chang lấy chi lảm lạ về 
một ngưỏà như thế, khi bước chần lẻn Sài-Gòn, thì 
dã cứ một tớ blèn các còng việc dã định làm hẳn 
hòi vả theo phép, vã chăng, nó là một cái ánh kia 
chiếu ra ỵ theo lòng thần dàn tại chánh quốc muôn 
thề nào mà thôi. 



Ta không cảo, như thièn hạ khi trước, rẳng người 
lả «một vị hay dùng mòn mạch.»; người cỏ sự vẻ 
vời riêng trong trí, hay là nói cho trủng hơn, là 
mấy điều tưởng lượng đỏ bởi lẻ thông thải đề luận 
lý mà ra, song các chuyện từng trải 'chưa có ngày 
giử mà phân biột nỏ the nào. Mấy việc quan thủy sư 
Bonarđ nông sức lâm củng ỷ tốt người, đều phải 
tỉnh cho người; người làm chuyện không ai biết, 
nên phải thấy minh phạm nhiều điều quấy; song 
các lỗi ấy nữa cũng lả sự dạy răn đề đến sau cho mấy 
đấng kế vị do lấy đó mà sữa mình. Phàm như thiên 
hạ có phép trách móc người, thì chẳng phải lả vì đòi 
phen làm không chinh lẻ, song tại không biết tu chỉnh 
các việc người tính toán khi đa. thấy nó vụng về. 

Mấy điều chánh trong cách thế của quan thủy sư 
dùng, lả «phú cho các tù trưởng bồn quốc xem sóc 
nhơn dàn, còn mấy quan tây hành chánh thi khỏi 
dự vào các chuyện nhỏ mọn về việc trị lý, đề lo mở 
mang cuộc thương mải và khai tạo mấy việc nông 
nghẹ dại khái cho dề mà thôi. Vi bằng dân sự có chồi 
dẠỵ hay là như các dầu mục khòng lãm việc bồn phận 
minh cho trung tín, thời sẻ cho mấy dạo colonne di 
phạt tội.» (Vial). 

Quan thủy sư Bonard là một người chẳc ỷ về việc 
minh, lại khi gặp gở các sự gay trỏ’ trong còng 
chuyện làm ra, người cũng cử đeo đuồỉ theo cách thế 
người luổn; ít nữa là cho lới trong mấy tháng chót 
người cỏn cầm quyền thống dốc, thị xem ra người 
mới có sự bày vẻ dề thi hành hơn, lả tạo lập bủng quan 
giám đốc (mồng 7 janvier 1863). Hề khi nào người 
lảm đặng, thi người liền cho các phủ, huyện an-nam 
thế cho các quan đốc lý bồn quốc sự vụ, song phải 



- S70 — 


tùng một ít quan vỗ langsa lảnh quyền giảm đọc hay 
việc bồn quốc. Cách đó sớm sanh chuyện đáng van 
trách; khòng phải bởi chính vi nó chẳng ra chi, 
song tại nó chưa nên thông đụng trong xứ tân chiếm. 
Muốn phân phát quyền phép cho các đấng đầu mục 
bồn thồ như vậy, trước hết phải kiếm cho đặng 
mấy người ấy. Mà các quan an-nam đã lìa ra khỏi 
xứ chẳng sót một ai ; còn kẻ tàm tánh can đảm ở lại 
có lỗ đủng họ mà lảm ra đặng một it người hành 
chánh chịu lụỵ, song phần nhiều bị xử tử vì chẳng 
phục quyền phép nhả nước langsa. Vậy, lúc đỏ tại 
phần đất thâu chiếm còn tinh nhữDg người dàn giã 
thường mà thòi, dốt nát, ít biết hay là chẳng biết 
chữ chút nào, nghĩa là có minh mà không đầu (ì). 

(1) Phàm như xứ Nam-Kỳ chẳng hết yếu sức như vậy, thi phải 
cáo rằng, cách giáo huấn đã chọn dùng bởi hai điều cội rề mà 
ra, một điều chống cải dăng iắm, diều kia lại sái irọn : 1» học 
hành không chịu tiền ; 2® giảo hoá mà đùng tiếng ngoại quốc. 

Cuộc dạy sơ, gần khắp trong b'ău thígiái, dềuphằi khỏngtiền 
và buộc chung thảy thảy : mồi ngưò-i phải biết đọc vả biết viết. 
Cúc sự học cao hon phài trả tiền, trử ra cấp dưởng cho mấy sỉ 
bần nào mà dặng thiẻn tư, song như vậy thì nhà nưfrc phầì cho 
các học trò ấy hằng cỏ chỗ làm đặng chúng nó khỏi ra thất 
học ; nhửng con nhà khả lảnh đưọ-c chuyên hiềm nghèo ấy. Ngưửi ta 
cỏ lẻ mà nói dặng với ta rằng, cách nầy chẳng theo đỏi dư 
chánh. Vậycònviéc chiếm đoạt mộtdịaphươngkia dã có một dòng 
dối nọ choán ở, cách xa nước mình 3.000 ỉieue (chừng 13 muôn 
kilomètre), bắt dòng dồi ấy phục tùng, thi có phài theo đò*i dư 
chánh chăng ? — Phâu phát sự thồng thái cho một dân nào mà 
quá mực và quả cần dùng, thì nó sình bối rối trongphầmhạnh dàn 
ấy mà thôi, không thạnh lợi chút chi cho nhơn loại. Mồi ngưòi 
thông hiều tùy theo tri hoá và bề thù tạc với nhơn -hỏi thề nào. 
v'ê mấy kẻ hào hộ, thòi việc thỏng thái cò lẻ là một sự phụ 
thêm, nó không làm cho họ lạc dáng ; v'ê nhưng người gia ban, 
như họ chang dăng chức phận cho khả, thi thường thường sự 
trlcách ấy trỏ- nèn môt diều xúi giục ghen ghét chống cùng nhon 


% 



Ngưỏ-i ta lấy trong mấy kẻ ấy mà cử dụng viên chức 
bồn quốc, lại như người ta không làm cho một thẳng 
gánh hồ trỏ- nẽn quan phó trấn lập tức,, thời người 
ta cũng khòng làm cho một đứa đồng bộc hay là 
một tên lính ra một vi quan huyện kia đặng. Mả 
nhưng vậy đó lả chuyện người ta làm cung gần 
giống một cách. 

hội, mà nhưng vậy hội ấy có cấp dưỏ-ng dăng là cho một ỉt kẻ 
hửu tài mà thỏi. Bẳng đẳng ai nấy không làm quan văn hay 
là quan vô dược, các ngạch đều có mực, số tiền xuất cũng một 
th£; đoạn, như pbài có mấy quan bát vật, thi cũng phải co thợ, 
máy không tạo hoá ra và chạy mốt minh đặng ; vả chăng, trong 
các việc ngưòi ta làm : có vải vị dốc công còn nhiều kẻ thi hành. 

Trưó-c dày ta có nói phải cấp dưởng cho những học trỏ 
nghèo nào mà xứng đáng, diều ấỵ không tỏ ra cho trọn ý ta. 
Bửi chưng, cách nầy thưỏmg .không cho hết thảy con trẻ dặng 
thiên tư có thế mả học giỏi, nó cũng chẳng cho cỏ phép ma 
phàn biệt cho tất sự có của vứi thế nó dược. Theo lệ, mòi 
trường nào mà trên trường sơ, thời phải chịu khảo bạch mới 
V , ảo mà thôi ’ *** như phả* ỉà cần* thời hội hết thảy lại mà thi. 
Mấy kễ nào ứng thí mà dâu, sễ dược cbuần khỏi các tiền sờ phị 
về sự học và cũng cỏ khi đặng nuôi dưòng nửa, như tra ra 
quả thiệt chủng nó không tiền mà trả (vì các phần cấp dưởng 
dề cho nhửng kẻ bần cùng mà thôi ) . 

Cách dó ngăn đón lập tức khỏng cho các con nhã giàu có mù 
dở, mây dứa vô trí phải ẻp uồng, lúc sau, cũng làm đặng quan 
cao phầm, song bất tài và ngu muội. Thông dụng cách ấy cho nho n 
dản xứ tbuđc địa có khi sanh ra diều nầy — có lẻ ít kẻ chẳng 
bằng lòng, song nó công thẳng lắm — lả phong cho mấy kẻ nào 
trong dân chúng ta có sức mà lảm quan lửn. Vi như người an- 
nam t^i Naih-Kỳ không học hành nữa khi vừa ra khỏi trường, 
thi phải dò cho tại bồn tánh dải dọa minh một ít, còn phạn 
nhiều cho sự khiếm khuyết chuyện đổc giục;. .Thuở trước, cảc 
cuộc khoa thi cỏ lập ra trọn cả và đòi người nho sỉ ; dến tuồi 
nào thì cùng ao ước đặng phầm trật cao, nhờ hộc hành ma 
nện. Ngày nay, sự thông biết không dùng việc chi cho họ; họ 
cũng không học giỏi dăng. Chuyên nầỵ bởi cách chúng ta caị 



Bởi cở nguyên tuvền; nên các quan an-nam mới 
thất oai thề trước mẳt kẻ dồng loại với minh; họ lại 
mất quyền phép nữa tại đốt nát mả ra; sau hết, 
chuyện càng nặng hơn nữa, là có nhiều vị không 
xứng đáng cho người ta tin cậy mả phủ việ.c cả thề. 
<t Họ là phầm trật nhà nưửc đặt ra vô dụng cùng 
sinh hại mả thòi. Trước mẳt nhom dàn, người langsa 
phải gánh vác các lỗi quan an-nam phạm, lại cỏ biết 
minh sai lầin là khi đã trề quá không còn sữa nó 
đặng nữa.xi (Vial). 

Yi như quan thủy sư Bonard làm quấy một hai 
diều trong việc sữa trị địa hạt theo hộ, thi, phần 
khác, người lại có nông sức cả thề trong việc hành 
binh, bởi người xét nó phải cách. Ngựòi hiều biết 
chỉnh lý lầm về sự phải ăn ở làm sao, vả thấy trước 
rỏ ràng công việc chủng ta làm ngày sau cho xir 
Nam-Kỳ đặng hưng thạnh rở rở thề nào. 


trị dản hộ mà ra, khi phải phản biệt ngưòi tri kẻ ngu mà thôi, 
thì nó lại làm cho chúng ta phàn biệt dàn bồn địa vói người 
langsa. Vậy mà ngưòi ta lại nói tỏ i chuyện quốc chánh chung trị ! 

Còn về sự dùng tiếng ngoại quốc mà dạy dồ, dã dặng nữa 
dòi rồi ngưòĩ ta có làm thử tại một ít noi bên phương Tày, 
thày nó dược việc sai ý muốn và dáng thương hại (khi trước ta có 
giải chuyên đó trong một ít bài nhựt báo, dến sau ta sẻ nói lại 
nó trong sách ta cũng gần in ra, hiệu là: Lalangue annamite 
de Basse-Cochinchine (nghĩa là Tiếng an-nam tại cỏi Nam - 
Kỳ). Người ta học mà cho thông thấu dăng, là trong tiếng nước 
minh, trong lieng người La dùng mồi ngày, người la nói lăng liu 
Irèn tay mọ bồng mà thôi. Lại mấy xứ nào mà có một tiếng 
nói thứ hai, thường khi nó dề dùng vê việc quan , thì phải lấy 
dó làm diều học hành riêng và, nhứt là, phải bỏ vọng ưóc dùng 
nó mà làm cho nhon dàn an-nam ra ngưòi chánh quốc. Ta xin 
mượn trước lệ ngôn nầ.y trong sách la gán in ra: «có một minh 
bồng lộc tốt làm ra ngưò-i langsa tốt mà thôi - » 



— 378 — 

DÀY VIỆC BINH LẠI 

Khi quan thủy sư Bonard vừa sang đến, thì người 
đã biết phải cần mà lảm cho dứt cơn giặc bất tận 
ấy, nó gần đặng ba năm rưởi trời. Hai chồ trung 
ưưng thù nghịch cần phải chinh phạt, là Biên-Hoả 
vỏi Vỉnh-Long, lả nơi truyền khằu hạo, sai quản 
nhơn và đồ. thế mà hành sự. Khi quan thống lảnh 
duyệt dại binh tại sàn trong thành, lúc mới vừa trấn 
nhậm, thi người có cbo quàn sĩ biết ỷ minh thề nào. 
Người nói với quan quàn rằng, việc giặc giã hòng 
dấy lại mạnh mễ dặng làm cho toại thánh ỷ Bức 
hoàng thượng, sau ngưòi lại thèm lời nây: « Chủng 
ta lèn Biên-Hoà, lại như phải ra Huế, chúng ta cũng 
di nừa.» 

Hết thảy các sỉ tốt nào mả có lẻ dùng được, thời 
nhóm hiệp chung quanh Sài-Gòn, sẳn sàng tấn phát, 
lóp dề băng bộ lèn trại dồn Mỷ-Hoả, tốp theo đường 
nước mà lèn thảnh Biẻn tỉnh. Sám sữa cuộc tiệc dăng 
diều quàn hết vài bữa, quan thủy sư dũng dịp ấy 
mà tính xong một chuyện kia, vi nếu bỏ qua, chác 
có lẻ sau nó sẻ sinh bối rối trong việc quốc chánh 
với nước Angleterre, là: chiếm lấy hòn nỏn-Nôn. 
Theo tờ giao ước lạp tại thành Versailles, thời cù-lao 
nầv hứa cho chúng ta, song đã dặng một ít ldu nỏ 
làm cho người anglais ý chỉ lấy nó ; dâu ấy có tỏ 
lòng muôn đến đó mà gầy dựng cơ nghiệp, chúng ta 
cung biết, trong năm 1702, họ có lập một hảngbuỏn 
tại đó thật đặng một ít làu mà thoi. Nên sự khôn 
ngoan buộc chúng ta chiếm nó trước họ* 

Vậy ông quan thủy Lespès xuất hành với chiếc 
aviso NoFzagaray người, nhằm mồng 9 décembre 
1801, đặng lấy hòn Côn-Nôn, là chồ, thuở 1 dỏ, dề 



- m - 


cho mấy lay đánh cá nương dựa, ỉạỉ cũng đã cỏ một ít 
kẻ loạn thần bị đảy nữa. Có một qợ quần — biên tại 
sồ — đã cấp ra đề mà canh giữ họ; song, thiệt số có. 
chửng một trăm linh mà thỏi. Khổng kề mấy người 
nầy, tại hòn cụng có dạt ựớc đặng chín trăm dán 
thường an-nam, cao-man với thanh khách hiệp nhau 
ở bốn lảng. Cù-lao đỏ không cải dụng về chuyện 
khác, vì qua ngày mồng một ĩẻvrier 1862 , có lửi quan 
thống dốc dịnh nghị lập chốn giam cầm tội nhơn tại 
nơi ấy mả nay hảỵ còn. 

Khi ông Lespès ra hòn Cỏn-Nôn rồi (nhắm mồng 
lOdécembre), qua bữa sau có một chuyện buồn thảm 
biển sanh lảm cho các ngưòì langsa cảm động khôn 
xiết, còn ngưòi an-nam thì nó lại làm cho trí họ 
tưởng nhiều chuyện phi thường lâm. 

Cỏ một vị chánh đảng kia còn nhỏ tuồi, tồn lả 
Nguyền-Trung-Trực, mà thiẻn hạ thưỏrng kêu là qụảíĩ 
Lịch, đến đốt tàu lorcha Espẻrance vả giết một phần 
thủy thủ. Chiếc Espérance đậu tại làng Nhựt-Tảo — 
nơi vàm rạch kia đồ ra Sông Bến-Lửc (mẻ hửu), lối 
nừa đường từ Bến-Lức xuống ngẵ ba Lôi-Rạp— lúc 
đỏ òng Paríait là quan hai thủy cai nỏ, ngưỏi đề nó 
lại đơ mả đi xa chứng chin ngàn thước đặng đuồi 
theo đánh bẳt mấy kẻ hung hoang, ông quản Lịch 
a ý vó-i lảng đem vải chiếc ghe cỏ mui lốí giò* ngọ, 
mà đậu dải theo tàu. Khi ấy quàn lính bẻ bạn đều 
nghĩ, thầy đội binh thủy phụ sự, quyền cai tàu, 
tưởng lả mấy người buôn bán đến xin phẻ giấy thông 
hành, nèn chờm ra cữa hông đặng coi. Thầy ấy 
bị đầm một mủi giáo mà chết. Cũng một khi, hết 
thảy mấy ngưòi an-nam đến đánh đều leo qua tàu; họ 
cỏ hơn một trăm rưỏ-i. Dầu đòng số như vậy, thời bạn 


% 


t . 


% 


• * 



- 375 - 


tàu cưng chổng cự lại cách chiến tàm lẳm; song, 
đặng một hồi, mui iá bị ỉữa cháy, tràn tới mau lắm. 
Nào tiên chiến nào cố thủ cũng đều phải nhảy rảo 
xuống sông mà lảnh nạn. cỏ nảm tền bạn tàu, hai 
ngườỉ langsa và ba người tagal, không cỏ khí trưọ-ng, 
nhảy đặng xuống dưới một chiếc tam bản, nồ lực cheo 
hết sức mà trốn khỏi, ỡ xa bọ thấy chiếc Espérance 
nồ; cỏ mười bảy tên lính thủy langsa với tagal chết 
trong cơn đại nạn ấy. 

Dầu vậy, chiếc tam bản dến hiệp đặng với chúa tàu, 
người bèn mau mau đi tới chiếc Garonne đậu tại 
sỏng Bến-Lức mà xin binh tiếp. Cũng nội ngày đỏ, 
người cỏ trỏ- lại chốn cũ, thời may gặp dăng ba tên 
tagal bị bọn an-nam ứng nghĩa bắt, mả nhò tàu nồ 
nẻn chạy thoát khỏi; mấy người vổ phước nầy 
xuống dưới một cái bào kia mả tị nạn, đứng nước 
ngập tới miệng mà chờ cho hgười ta tỏ-i cứu minh. 
Trong lúc đánh phá, có vài mươi người bồn quốc 
giúp chúng ta, ở trên bờ ngay trước chiếc lorcha, 
cũng bị đảnh giết thinh linh mả chết. Muốn cho đặng 
phạt nhơn dân Nhựt-Tảo về tội đồng ìỏa, thi làng 
ấy bị đốt đi. 

Chuyện người an-nam ứng nghĩa phả hại dỏ cũng 
tỉ như việc lảm thử trước đặng mả áp đánh gần hồ 
thảy các phần hờ langsa một lược, lá mấy chồ quan 
thủy sư đẵ sức trát dạy phòng ngự thủ thế mà thôi 
trong lức người đem cả quân sỉ mình lên Biên-Hoả. 
Chuyến nầỵ người an-nam cử động khÒDg hở khoản, 
hết thảy xem dưò-ng chung sức dùng dịp binh số 
các nơi đang bớt tạm mà dánh. Từ ngày 14 dĩ chí 
30 dẻcembre 1861, phần nhiều trong các phần hử 
dều bl đảnh luDg lắm, song chồ nảo người an-nam 


♦ 



— m — 


cŨĐg phẫìthối về cung hao quản nhiều. Tàn-An-(thuộc 
về ỏng Avezard cai), Gò-Công (ông d’Àrfeuille), Cần- 
Giuộc (ỏng Dumont) dều bị đánh trong ngày 14 
dẻcembre; Gia-Thạnh (hai ông Robiuet vỏì Pineau), 
nhằm ngày 18 dècembre; Cái-Bẻ (ông Bottet với ông 
Gonon), bữa 20 và 25 décembre; Rạch Gằm (ông 
Rolz de Couzalaz), ngày 29 décembre; Rạch Cà-Hòn 
(hai ông Gonon với Thouroude), ngày 30 décembre. 

Không kề tửi các trận đánh phá mấy phần hừ dó, 
có nhiều chuyện âm mưu tiếp nối nhau nên kinh hải 
mà giết cùng đốt nhả các viên chửc bồn quốc giúp 
chúng ta với gia quyến họ. Ngày 22 décembre, người 
ta giết xả trưởng làng Mỷ-Quí; bữa 23, xả làng 
Trung-Lương; ngày 27, xả lảng Tàn-Lỷ với thê tử 
người; mồng 2 janvier 1862, xâ làng Vỉnh-Kìm-Bông; 
mồng 3, xả làng Phú-Mv vỏi gia quyến ông ấy. 
Người an-nam nương theo mấy lúc đảnh đi đảnh lại 
các phần hò* chúng ta đặng tiếp làm cho diìn sự ra 
kinh hoàng theo cách minh. Chác cỏ lẻ họ không 
đưọ-c điều chi cho đáng, song họ bẳt lương tri nhơn 
dàn dầu phục phải xao xát, nên lo sợ cho cuộc người 
langsa quản trị. Thời may chuyện đánh lấyBièn-Hoà, 
sau tới Bà-Rịa, hòng giải cho phía đông xứ địa hạl 
khỏi bối rối cùng cho quan thống đốc cỏ thế mà sát 
phạt mấy kẻ cướp phá vả ứng nghĩa. 


ĐÃNG THÀNH BIẺN-HOA 

Từ Sòng Sải-Gòn qua Biên tỉnh, có ba ngã đi: 1° 
Đưò-ng sông tư Bến-Thảnh mà xuống cho tỏ*i Nhà-Bè, 
chồ Sòng Sài-Gòn vửi Sông Bồng-Nai hiệp nhau, rồi đi 
theo sông sau dày mả lên. 2° Quan lộ từ Sài-Gòn thông 


I , 


1 ! * 



- 377 - 


lên Biên-Hoà (đường lúc nầy đi theo quan lộ cho 
tới lối xa b.ến -đò Thủ-Bửc chừng 400 thước lang- 
sa, đoạn nó tách đàng sứ ấy mà qua Thủ-Bửc, 
rồi saú nó cỏ hiệp lại vỏã nhau là phía Mỷ-Hoà mà 
thôi). 3° Đường Thủ-Dầu-Một qua Biên-Hoà. Ngã 
sau đây -ăn đụng vdri Sòng Đồng-Nai tại Bồng-Váng, 
phía trên Biên-Hoả, người ta không dùng nó đặng, 
bởi chẳng có đồ thế mả độ binh qua sông, yã lại, nó 
bất tiện lẳm, lả nỏ bị đồn Níỷ-Hoà ngăn trử mà lảm 
thiệt hại. 

Vậy còn đường sông với quan lộ mà thởi, đường 
sứ nầỵ bị ngưòi an-nam đào đứt ngang vả trị súng vải 
chồ mà ngăn ngừa củng có đồn Ittỷ-Hoà giăng cẫng 
nữa-; nỏ ỏ* cách Biẽn-Hoà chửng 8 ngàn thước và xa 
Sải-Gòn dạc ưỏ-c 17 ngàn. Đồn ấy dặng 3.000 binh 
thủ. Gòn Sổng Bồng-Nai, đã mẳc phải lố rạn mọc tự 
nhiên mả. ngăn, nỏ lại bị hàn chỉn khúc chẳc chắn vởi 
một chặng đả giăng ngang mả bít đài chừng mươi 
ngàn thưỏ-c xuống phía dưới Biên-Hoà. Hết thảy các 
chồ cảng trở đó dều có đồn tri súng đại bác trên hai 
mẻ sông mả ngăn ngửa, lại cung cỏ hỏa còng thuyền 
đã sẳm sẳn nữa. 

ơ đàỹ, cũng như tại Chi-Hoả, là chúng ta gặp 
dường phòng ngự theo bề trường thật nèn kièn cố 
lẳm, song hai bên lưởng dực không canh giữ cho 
hẳn hòi. Ngưòú ta có lẻ mả nói đặng rằng, quan quân 
an-nam đấ trực chỉ về dường nghịch tặc’ phải di 
theo mả thôi, ỡ đảy, cung như tụi Chí-Hoả, là người 
langsa không do theo nó. Lấy đặng 'Mỷ-Hoả thi chỉ 
nghĩa lả khai dường đi thông tới Sổhg ngay trước 
thảnh, củng là lạm cho hết thảy đồn bảo bên mẻ 
hưu phải thất thủ .khi đảnh phía hậu, vả làm chủ 
các chặng hàn. Vậy phải đi đến trại binh ấy mà 



dửng tùy theo cả bề trưởrng quan lộ. Người ta làm 
cách nào mà tỏi. đặng đó, .thi chắc trong Sớvtét 
nhâm ngày 19 dẻcembre í 86 1 GÓ thuật lại; song rủi, 
tờ biều ấy ở~bẻn Paris, lại khòng có một cuốn sách 
nào trong mấy cuốn dã chép truyện ấy ra — ỉt nưa 
ỉà mấy cuốn sách ta có — mà nói tới nó. ông 
quan năm thủy Vial kề lại đủ việc hơn — người 
lấy nó trong tờ Sớ — song không minh giải chút nảo. 
Người có chỉ rỏ cách mấycolonne tu thành làm sao, 
song chẳng nỏị về vụ hai đạo chảnh dến tại Hon-ỉoc , 
lả chồ phải hiệp nhau lần trước hết thề nảo ; ngườt 
cũng không nói Hon-loc đó ở đàu, kiếm không 
thấy trong hoạ đồ. Dầu lẻ nào, khi do theo chảnh 
văn của ông Vial, ta cũng rán lập thử các chuyện 
ấy lại; song, muốn chủ đặng như vậy, ta tưỏ-ng 
có ích mà chỉ một ít diều về địa đồ các noi đó ra 
cho rỏ. ... 

Phần đất hửu ích cho chủng ta đặng biết, là chồ ở 
trong hình ba mặt, mà mấy góc nỏ là : a) ngã ba Rạch 
Chiết vửi Sông Sài-Gòn ( cách đường quan lộ, bèn 
phía nam bến đò Thủ-Bửc, chửng mộ.t ngàn thước); 
b) ngã ba Sông Tắc với SòngĐồng-Nai— nó ỏ* xa ngã 
ba trước chừng \ ngàn thước bên phía đông;c) sau 
hết, thành Biên-Hoà. Ba mặt hình tam giảc nầy là : 
phía tây, có đưò-ng quan lộ; phía đông, có Sông 
Đồng-Nai;' phía nam Rạch Chiết với một phần Sông 
Tẳc, cả hai ăn giáp nhau vả thòng vỏú lảng Gò-Cộng, 
lả chồ cỏ một cải dồn ngăn giử. 

Đường quan lộ đi theo hưỏ-ng chung nam-tây- 
bẳc-đông, nó ăn đụng với Sòng Sài-Gòn, xa thành 
chửng 9 ngàn thữớc. Địa cuộc tại phần thứ nhứt nầy 
thi thấp, phải nước lớn tràn ngập, nỏ đề cho ruộng 
nương hay là ao vủng với một ít nhà lả ỏ" rải rác 



— 379 — 


mà thôi. Bẻn mé hửu, đất nồi lẽn lần lần mau lẩm, 
^ /ách Sông chừng một ngần thước, thỉ khởi sự 
thấy có một trảng đất cao la cho đường quan lộ đi 
dải, mả khỏng có cuộc tự nhiên nảo ngăn trở, trừ 
ra một dòng nước nhỏ kia mà thôi, là Suối Ọum- 
Gốc, nó ờ xạ Sòng chừng '6 ngàn thước; thuỏ- đó 
người ta phải đi qua một cái cau xây bằng (lả, như 
tên ngọn suối phía nam vái dấu tích đầu cầu còn lưu 
lạ L đã ra vậ y ^-dòng nưác đó có hai khe hay la 
suối : Suối Nhum với Suối Cằu-Đd. Suối nầy hai 
bồn bờ có vài chồ giốc đứng một chút, lại đầu CỈ10 
mổ nỏ mả chốc như vậy, thi nước nó cũng không 
dược sâu là bao nhiêu,- trong mùa mưa di nữa, gần 
khắp noi đều đi ngang qua dược ; nỏ chảy qua hưang 
tảỵ-nam rồi lảm ra Rạch Gò-Cồng, chỉnh vi rạch 
nầy lại đồ ra Sông Tẳc. 

Trên phía bẳc Suôi Bum-Gốc cách chừng hai ngàn 
ihưởc thời có trại đồn Mỷ-Hoá, bên hướng đòng đồn 
nầy cuộc đất hê hủng, cỏ một ít cái gò gioc hẳm. Tại 
đưừng từ bến dò Thủ-Bức- (Point A) cho tái MỶ- 
Hoả, xem ra không có nai nào gọi là thị tứ. Làng 
Thu-tìửc ở xa quaố lộ, bèn phía tầy, đưọ-c hai ngàn 
thước, nó có một cái dưcrng ản thông với quan lộ 
ấy. Lối ngang Thủ-Bức và cach quan lọ cung xa vậy, 
song bên phía đòng, thấy có một xóm kia mà trong 
các họa dồ thuả dó đề tên là Tang-poo, nỏ là Tân- 
Phú xã kim thài. Từ lảng nầy mả qua cho tới làng 
Gò-Còng, bề xa không đặng bốn ngan thưác. Bẳt lư 
phía tâỵ mả qua .đỏng, thòi ba lảng Thủ-Đức, Tàn- 
Piiú vổi.Gò-Cđng đều ở gần ngay vai' nhau một dọc. 

1 Nói về Tanẹ-poo hay Là Tàn-Phú, ta tưảng phai 
cho íd nấy biết, tại Tàng tha làu Sài-Gỏn cỏ một xâp 
bản đồ yẽ bằng tay, coi ra giống hinh họa trong lúc 




mới chiếm cử. Song, trong mấy bản đồ ấy, thấy có 
một cái lại đề là An-Lõc tại chồ Tang-poo. cỏ một 
minh bản đồ đó biên tên như vậy mả thôi, song rủi 
không cỏ tấm nào mả đề ngày hay lả kí tên ai hết. 

Chuyện nầy đã tất giải, ta cỏ lẻ khởi sự mà kề bày 
các cuộc hành quán đặng. Trước hết, từ hồi lấy đặng 
Chí-Hoà, thì chín ngàn thước đường quan lộ từ Sài- 
Gòn cho tới bến đò Thủ-Đức(Point A) đều có người 
langsa choán, vã chăng, Sòng Sàỉ-Gòn phân cuộc đất* 
đã chiếm vời huyện an-nam riêng ra, nên khúc đường 
ấy khồng ăn nhập vô chuyện tranh giành. Binh sĩ 
cũng không hội tại nơi ấy đặng, bởi chẳng có nhà 
ỡ và đất mả hạ trại, có khicũng tại thiếu nưởc uống 
nữa. Vi vậy, ta sẻ xem coi tự thủ chí vỉ các cuộc hảnh 
quân kề từ mẻ tả lối bến đò Thủ-Bức sấp lên ra thầ 
nào. Ong De Grammont nói trước khi lảm mấy 
chuyện nầy, cỏ sai ((đòng quân sĩ đi do thảm đàng 
sứ». Vậy thời mé tả Sông Sài-Gòn với vài ngàn thước 
đường quan lộ đẵ thuộc về tay người langsa, nên có 
lỷ mả định dẹo rằng, quân sỉ langsa có tụ hội lối dầu 
giồng, cách Sòng chừng một hai ngàn thước. 

Bày giờ chúng ta hảy xem qua vụ lập các đạo 
colonne lảm sao. Rạng ngày 14 dẻcembre, đạo colon- 
ne thử nhứt đẵ có mặt tại Hon-loCy trong đỏ kề ỉà lỉnh 
chasseur bộ, một trăm binh espagnol củng bốn VỊ 
súng bắn trái phá, nỏ thuộc về ổng quan tư bộ Comte 
quản suất; có lẻ trong đêm đỏ nó phải ỏr tại chồ ấy, 
lại cung có khi mấy ngày trước nữa. Làng đó tọa lạc 
nơi nào? Địa thế Tàn-Phú (Tang-poo) cỏ vửa dủ các 
điều cần đặng cho đạo colonne hành sự; phần khác, 
tên An-Lốc cung gần mĩạ mai với Hon-ỉoc ( 1 ). Đất 

(1) Thuở đó ngirò-i ta kéu sải tên an-nam cho đến đồi cbẳng 
có sự gi mồ bắt lấy làm ]ạ. ông Pallu kéu làng Trung-Lương 


1 . % • 



— 381 — 


nó cứng, súng ống pháo thủ lui tới nơi ấy được, có 
một mình Suối Bum-Gốc phai qua mả thôi đăng kéo 
tới Gò-Công, hoặc lẻn Mỷ-Hoả, cả hai cưng đồng xa 
Hon-loc . . 

Bạo colonne thứ hai có ông phó quan năm Dome- 
nech-Diégo quản lãnh, nó ke đặng một cơ bataillon 
thuộc về 3 e Rẻgiraent binh bộ thuộc thủy, một trăm 
lính espagnol, một độị quân kị vái hai khiu đại bảc 
4 lòng nửa; «đoản binh nầy phải đến tại Hon-loc 
mà thế cho đạo thứ nhứt khi nó cất qua Gò-CốngD. 
Yậy đạo thứ hai đỏ ở phía hậu .đạo tiền, nên có le 
nó phải đỏng tại một nơi nào lối giữa từ bến đỏ 
Thủ-Bức mà lên Tân-Phú ( Hon-loc ) đặng nghĩ cho 
qua đêm ấy. 

Đạo colonne thứ ba tính được hai đội compagnie 
linh thủy lên bờ, cỏ ông quan năm thủy Lebris quản 
lảnh, có khi nỏ phải đi theo Sông Đồng-Nai mà lên, 
rồi vỏ Sông Tẳc đặng dến Gó-Gông. Yề đường hai 
compagnie nầy đi, ta xét thấy mấy chặng hàn Sông 
Bồng-Nai không xuống cho tó‘i ngă ba 'Sông Tắc, bởi 
vì các chiếc tam bản (hay là ghe thuyền khác) đều 
cỏ đển tại lối đó. 

Bạo thứ tư, cũng do theo đảng nước, cỏ khi nỏ phải 
vò ngọn Rạch Chiết cùng tấn tới Gò-Còng nữa ; nỏ 
tùng quan cai' tàu Renommẻe. 

Sau hết, có một đoàn tàu nhỏ, kề là chiếc Renom- 
mée, A larme với Ondine , lảnh đi theo Sồng Bồng- 
Nai mả lên đặng phả các đồn bảo và các hàn. 


là Tam-ỉéon. ỏng De Grammont viết Kiloà thế cho Chí-Hoà’ 
Jòcong cho Gò-Công (thuộc về huyện kia tại tỉnh Biẻn-Hoà) 
Cài-bec cho, Cáì-Bè, Ca-hou lâ Cà-Hồn. Còn Thả-Dầu-Một 
thỉ viết là Fou- Yen- Mol lâu lắm mói thôi. V, V. 



Ai nấy củng đều thấy chuyện khiền độrig quân gia 
đó phảisẳm sữa một ngày hoặc có khi vải ngày trước 
mới đặng. Binh thơ đồ trận tiên chiến chỉ tóm một 
điều, là cầm người an-nam ở trước mặt tiền đồn Mỷ- 
Hoà cho qua thì. vả tấn bà đạo chấu tới mà đánh lấy 
dồn Gò-Còng. Khi được chồ đó rồi, người ta mới đi 
đặng trèn đất cứng, tấn tới hòng Mỷ-Hoả (phía 
đông), nộ đánh phía sau đồn ấy cùng phục hậu mả 
đoạt các bảo nơi bơ hửu đi. 

Trước khi ra lịnh áp đảnh, quan thủy sư Bonard 
có gởi một bửt thơ quyết qua Biên-Hoà. Quan thống 
chế Nguyền-Bá-Nghi, hay lả -quan tuần phủ Nguyền- 
Đửc-Hoan (lủc đó cai thành với ông án sát Lẻ-Khẳc- 
Cần làm phó) có phúc thơ, song chẳng đặng toại chỉ 
chút nào, nên Cuộc phân bủa binh gia dã sẳp đặt 
trước phải thi hành. Ngày 14 décembre, trò -1 mới 
rựng sảng, các colonne đều lướt tới. Đạo binh thuộc 
về ông Comte tồng quản phải bắn một phát súng đạỉ 
bác làm hiệu lịnh mà khai chiến. Phảt sứngnầv-bản 
lối 6 giờ, qua 7 giỏ- rưởi thì đồn Gò-Còng bị lẩy di, 
Cỏ đề vài compagnie lính chasseur bộ ở lại giữ đồn. 
Ki dư báo nhiêu trong đạo ông Gomte với lính thủy 
tùng òng quan năm Lebris liền kẻo qua mấy mỏ trí 
súng dại bác ở bên mẻ hữu Sông Bồng-Nai, đặng 
bọc hậu . mà đánh lấy nó. Các mò đỏ cở bắn trả lung 
lắm mà địch lại vói mấy chiếc tàu đậu giăng ngang 
của ông quan ba Harel đốc chiến; chiếc Alarme 
(thuộc ông Sauze cai) tính ra một minh nó mà thôi, 
bị năm mươi bốn viên đạn sa nhầm (khi kiềm sát sự 
như vậy mả không nghe nói tới vụ quan quân tư 
tràn hav là bị thương tích thề nàọ, thơi ngươi ta lay 
làm lạ). Khi các kẻ giữ mấy mò súng vừa thấy minh 
gần bị trên bộ đánh, thi họ bo mà chạy ráo. Một cái 



đồn trong bốn nồ vỏ* hư, còn ba cái kia binh an-nam 
bỏ rút đi mất. Cả đèm đó lính thủy ra công khai 
đưừng thông qua các hàn. He đi lần tới đặng bao 
nhiêu, thì cỏ quan bác vàt Ma nen, hay về họa đồ sông 
biền, dỏ các lạch mả cậm bòng tiêu. Chuyện nầỵ lảm 
luôn luôn trọn bai đèm hai. ngày. 

Sớm mai '16, đạo binh Domenech-Diẻgo trưửc có 
vâng lãnh làm cho chồ thế (1) Mỷ-Hoà kinh sợ, nay 
đặng lịnh dạy áp đánh nó và, cũng một khi, thỏng tin 
cho biết rằng đạo ỏngComte, ở bên Gò-Công kẻo qua, 
cũng gần đánh phía tả dực binh an-nam. Lính bộ 
thuộc thủy thi dấu với trung quàn, bên phía tả nọ có 
„ ■ linh espagnol lảnh việc xáp đánh phía hữu an-nam ; 

- còh phần đoản mã kị lại đi chung quanh phía hữu đỏ 
đặng kiếm thế mà dứt đường nó thối hậu. Trong 
lúc ấy, lính chasseur ở Gò~Còng tấn qua bọc tả dực 
binh an-nam cung ngản đón phía sau họ nữa. Bên an- 
nam thấy minh bị đấnh ba mặt lại hòng phải bị 
chận đàng thối hậu, thi họ hoảng kinh, ủn ùn rút nhau 
mà chạy đồ về hướng Biên-Iỉoà, tức thời cổ binh bộ 
thuộc thủy rượt đuồi nà theo. 

Khi quan thủy sư làm chủ đặng từ huyện đỏ cho 
tới Sông Đồng-Nai rồi, người liền sẳp đặt cảch thế 
mà độ binh qua mé tả; chính vì người có ngồi tàu 
Ondine mà đi với một chiếc canonniẻre (thuộc chúa 
tàu Jonnart cai) đặng đến trước thành Biên-Hoà, thảnh 
nầy bị cây cối ản khuất, thấy đặng có một minh cột 

(1 ) ở đảy ta nói nó là chb thẽ chó- không phải ỉrạỉ đôn, bởi vi 
binh Sỉ an-nam ngử ỏ- ngoài, đây tinh rửng bụi rậm rạp, có trí 
nhiều khẫu súng đại bác nhỏ lòng, vả chăng, xem ra trại quân 
ấy không có phòng thủ kiến bế cho thật. 



— 384 — . 


cờ mả thôi (i). Hai chiếc tàu có chịu bắn ba hiệp 
súng lớn mà không bỉ thiệt hại chút chi; song khi 
chiếc canonnière đối xạ phát thứ ba, thi bên an-nam 
ngirng bẳn, rồi thấy một vầng lữa lớn cháy đỏ hực 
lên trên thànìi. 

Khi đỏ trò-i đã gần tối, nèn trề lẳm độ binh lên bờ 
không kịp. Ngay thử đạo binh mỏ-i nhập thành đã 
bỏ khổng. Người ta thấy tại đỏ cỏ một chuyện gỏ-m 
ghiếc không kém chi mấy chuyện trong nhưng ngày 
hung ác đỏi thống trị romain. Lả ông tuần phủ Hoan 
vứi quan án sát Cần cung phụng lịnh triều Huế mả 
thi hành chẳng nhơn tay, đốt sống ba trăm người 
cỏ đạo nhốt trong tù, Mấy ngọn lữa thấy cháy hực 
hực lên trời lúc chiều xế đó, thời bày giơ mới biết 
nghía lả gi. Mấy kẻ mắc nạn nào mả muốn kiếm đường 
thoát thân, đều phải người ta lấy giáo mà đàm đùa 

(1) Thành nầy « xày lối nám 1789, theo hoạ đồ của quan cai 
cơ Olivier. Hlnh nó vuông vức, mồi mặt đặng 300 thước langsa 
bề trường chinh giữa mồi bẽn cỏ một khúc xây vòng tròn xom 
ra ngoài, dì mà bẳn giữ các góc thảnh. Bử hào phía trong thì 
xảy bằng gạch đả, đặng 4 thước bề cao, rồi tói hảọ sâu bai 
thước, rộng 13 thước. Còn đồn thì trí súng lớn bằng gan, bằng 
sắt với súng đầ nạp đá mả bắn nữa. » (A. Bouinais vói A. Pauĩus). 

, Kay dấu tích hâo thành xưa hảy còh, nó cho chủng ta thấy 
rò hỉnh tượng nơi xây đắp dã chỉ trưóc dày thề nao. Song, 
trong đòi thứ XVIII, bẻn phương Tây chẳng có dùng hlnii 
dáng đó, nẻn ta không tin cho chac về người sáng tạo nó ra, 
lại mấy ngưòi cố cựu bồn địa cũng có nói y theo như ta tưổ-ng 
nữa mà rằng, mình chẳng hề khi nào nghe nói thảnh Biẻn-Hoà lả 
của tay ngoại quốc khai tạo, chứ như « thảnh bát quái Sải-Gòn 
thời họ biết tỏ tường là của người langsa bảy xây». 

Ta xin cho ai nấyý>chĩ một chuyện khảc cũng cỏ ích một chút, 
l L t 7 ng J ú L C ****** đécembre 1861» Sông Ri én- H oà chây xa bao 
thảnh cũ chừng 250 thước langsa, nay nỏ ỉạiở cách hảo ấy ước 
độ dặng 400 thước. 




I . 


% 


* 



- 385 - 


vò trong đống hỏa hảo. Trong số những kẻ lâm tai, cỏ 
nám người trốn khỏi hay lả C01I sống đặng má thôi ( 1 ). 
L Ý cớxui khiến các kẻgia hìnhgiết mấy người có đạo đó 
thì dề hiều, song nỏ không chữa cho khỏiloi ve đieu hạ 
thủ, chẳng lảm cho bớt sự gớm ghê. Vã lại, tánh khí 
độc ảc hỉnh kho ấy tỏ ra sự chúng ta đã biết rồi, lá nó 
cho thấy một tàm tánh kia gìảohoá chậm trề hơn mấy 
đời, một điều mọi rợ nọ vô sánh, mả phong thề tại 
ngoại xem ra thuần hậu kinh niẻn và tuyệt diệu lẳm. 

Trong cuộc hành quàn đó chủng ta hết hai người 
tử trận củng vải ngưỏithưcrngtỉch. Rốt việc, nó lảm 
cho binh sĩ an-nam phải ddri ra khỏi tỉnh Biên-Hoả 
trọn, và lảm cho sa vảo tay chủng ta 48 khầu đại 
bac, 15 chiêc thuyên chiến, cỏ 10 chiếc trọng tải 
chừng mjonneau (3.311 tạ) với một đống cây 
điều mộc đề đỏng tàu thuyền cùng cất nha cửa. Quyền 
quản suất trong tỉnh bèn giao lại cho ông phó quan 
năm bộ Domenech-Diẻgo, đến sau người cỏ dùng , 
mấy đạo colonne mobiỉe mà binh loạn. 


(1> Thầy cả louvetnói rằng : Bữa mồng 7 aoùt 1875 cỏ dựng 
lên một cày thánh giá cách trọng thề tại nền khảm dường la 
cho con nhà có dạo dã bị chết thiêu. 

Cây thảnh - giá dó nay chẳng còn dấu chi nữa, bữa 14 fẻvrier 
1906, tanhỉr thầy ca Sidot dần đàng, nên có tim lại dặng chc> 
ngục thất, song cũng cỏ nhọc công một chút, ở giữa 'dam co 
b *Ị hụi thấy dấu tích cái nền (xây bằng đá ong) hẳỵ còn, 
^nh vì uóbị cỏ cậy mọc phủ T lại chung quạnh có vài cái ma 
phai rừng bụi che lấp. Chò nền đó ở ngay theo đưỏ-ng 

nới dải mặt tây-nam dất thánh táy, cách góc tây chưng hai mữcn 
thưóx. 

Chồ cây thánh giá khi trưó-c, nay xem ra IỈQ lả một nơi thồ 
niộ của người an -nam cỏ đạo, không phải dất tiền nhựt co 
khám dựộrng choán. Ta có hỏi thàm những ngưcri ở tai dó ve 
<* u yện thì họ nói khi xưa nỏ cat ngoài thành trưức 

mặt tày-bẳc, lối phàn nữa mặt ấy bẻn phía lả (gần Sông bon). 



'CHUYỆN bồi ròí tiếp sanh 

VÁ ĐÁNH LẤY BÀ-RỊà 

Choản đặng thành vả địa phương Biên-Hoà thi lả 
doạt lấy chồ thế của chúng đạo kiếp vỏ-i những vị 
ứng nghĩa, đề về việc binh. Khi ấy còn thành vỉnh- 
Long mà thôi, nên hết thảy các chuyện họ phả phách, 
các sự họ gầm ghé đều sang qua hướng Tày rảo. 
Trưức đây la cỏ kề lại mấy lúc họ đánh phá cho tởi 
ngày 30 dẻcembre 1861. Nhứt là tại cạnh Mỷ-Tho thi 
thấy ngưòũ an-nam lục lực hơn hết. Mồng 4 janvỉer 
1802, hết thảy các phần hờ ở phía Tày thảnh đều bị 
vầy, nên phải giải cho nó, ông phủ 0ộu sẳm sữa toán 
đánh Cái-Bè, song số rủi nó hại người, là tới phiên 
người phải ông quan ba thủy Rieunier vây lại lôi 
giữa Cái-Bè và Cày-Lậy (nhằm mồng 6 janvier). Quan 
lão ấy bỏ vỏng nhảy xuống vũng mả trầm ngập cho 
tới đầu, tưỏ-ng khỏi người ta tim kiếm. Người cũng 
gần thoát đặng một lần nữa, vừa đàu ổng Rieunier 
•ngó thấy, nẳm lấy đau tóc mà kẻo người lèn khỏi 
bùn. Bi dọc đàng người ta mới biết ngưdri mình 
bẳt đặng là ai mả thôi ; dần về Mỷ-Tho, qua bữa 
sau lả mồng 7 ịanvier, òng ấy bị chết treo, cỏ nêu 
một tấm bản đề là: cường đạo, sát nhơn. Khi xử 
tử xong, người ta bèn lấy thủ cấp người mả bèu 
lên, dặng tỏ ra cho dân tỉnh an-nam biết rằng ỏng 
phủ Cậu oai phúc chẳng cỏn phục tô lại nữa. 

Ví như sự hành hình viên quan mắc phải đơn 
phung nầy mà có lảm cho nhửng người bồn quốc theo 
nước Langsa đặng.vửng lòng, thi xem ra nỏ — lại 
mấy lúc xử tử khác cũng vậy nữa — chẳng làm cho 
phe nghịch ra nao núng như ỷ người ta tròng tương. 



Ong phủ Cậu chẳng thiếu chi tay hậu kế, lại chuyện 
phá hại cảng đa sinh hơn nửa. Cách hai bữa sau khi 
xở tử, nhằm mồng 10 ýanvier, có nhiều bọn ở Gò- 
Công đến vây đảnh Gia-Thạnh. Trước bữa đó đạo 
colonne ỉangsa phải đánh vả đốt Taĩ-To (?) cùng đoạt 
lấy tai trận hai chiếc thuyền chiến_với năm cầy đại kì. 

Ngày 11 janvier, người an-nam đem 10 chiếc thuyền 
giặc đến vây đánh phần hờ Rạch Gằm. Ong quan 
hai Rolz de Couzaỉaz chống cự cho đến cùng vả bẳn 
rốc bì móà thồi. 

Nhưng vậy khi binh sỉ an-nam tại Biên-Hoà viễn 
tầu, -thi chẳng thất tán cho thó-i quá như ngưồà ta 
tưởng, họ hiệp nhau cùng tái lập thử tại Bà-Rịa, có 
quan đề 'đốc Lê-Quan-Tuỵến tồng lãnh, là người cỏ 
đánh tại Bièn-Hoà. Quan thủy sư Bonard không dề 
mất ngày giờ, vửa' mấy ngày đầu tháng janvier thấy 
người dam binh (lỉnh thủy, lính bộ thuộc thủy, lính 
espagnol) đi ngã biền dăng độ lèn bờ má đảnh binh an- 
nam. Người điều binh gần giông một cách như khi lấv 
Biên-Hoà thì cung làm cho Bả-Rịa ra thất thủ nữa. ; 
Mấy chiếc tàu nhẹ, mấy chiếc Ganonniẻre tới dánh 
chiếm đặng các đồn bão lạp tại Rạch Hàu, nơi vàm 
Sòng Dinh, còn dại binh thì nhờ cỏ ghe với tam bản 
chở mả độ lèn tại Vủng-Dằng (nó là một xóm kia 
thuộc về Long-Diền) (1). Bị nước kém nèn binh gia 
không đi lên Bà-Rịa đặng trong nội ngày ấy (mồng 7 

(1 ) Trong mấy cuốn sách ta tra kiếm, thấy đề tén TỐng-TAi — 
song viết cỏkhảe nhau môt chút — mà thế cho Vũng-Dằng, nó 
là tênngưíri, không phẫi tên cho. Lcri giải sau đày có lỷ nghe 
đưộ-c, là khi trước, tại Vũng- Dằng, có một ông chánh tồng kia . 
tên Tàjr ở dó, chắc có lẻ nhom dản dẵquen lấy tẻn cai tồng nầy 
mà kẻu xóm dỏ, là : xóm tàng Tài ' 



janvier 1862 ). Dầu vậy 'củng có cho một chiếc quần 
đông đi thảm báo tấn tỏ-i gần thảnh vả bân nỏ, cách 
chừng hai ngấn thước (tại chồ nay có trường đua 
ngựa), song xem dạng quan quân an-nam quyết cự 
chiến (ở đó cỏ quan tảng lý Văn-Đửc-Báiquản suất) lại 
trời đã xế, nên toán binh do thám phải lui về. Sự bê 
trề như vậy cho quan quân án-nam cỏ thế^mà thiêu 
sống chửng ba trăm người có đạo, cũng như tại Biên' 
lloà vậy. Khi binh thám thính di rồi, quan đề đốc Lê- 
Quan-Tuyến dạy quàn nhơh đốt các ngục tù và bỏ 
thành mà lui qua hưửng Bòng. Họ bỏ lạị súng ống 
lớn vói lúa gạo khôn xiết kề. 

Binh an-nam di trốn chẳng xa làbaonhièu củng như 
thường khi vậy ; họ đinh chân lại nơi làng Phườc-Thọ, 
cách thành Bà-Rịa chừng mươi lăm ngàn thước và 
hòng phải bỊ chúng ta vày. Muốn cho đặng thoát 
khỏi, họ chạy đồ lên hướng bẳc phía Long-Lập (cách 
Bả-Rịa, bén phía đồng-bắc, chừng mươi ngản thước) 
là nơi hộ có lập kho tàng chung quanh có đào hảo — 
òng De Grammont nói: đặng gạt chúng ta đuồi theo 
cho sải dường — songuồng công. Binh langsarưọ-t miết 
theo, nên dạo binh an-nam mới chia ra làm hai, một 
phần rủt đi ngãBà-Ca (thuộc về đất mọi trong tịnh Bả- 
Rịa), phần kia theo ngỏ Gò-Sằm với Nóc (thuộc lảng 
Phước-Bửu), rồi từ dỏ òng 'Lè-Quan-Tuyến lần theo 
đường sứ mả đem họ về Củ-Mỵ, nơi giáp giái Bình- 
Thuận, nên làm cho cả tỉnh Biên-Hoả tuyệt binh an- 
nam lả như vậy. 

Có gặp một. cải thơ kia trong trại Bả-Rịa đề gỏ-i 
cho quan tướng an-nam, nó báo tin cho biết rằng, cỏ 
nhiều lương phạn đề cho binh sỉ dùng đã tựu lợi vủng 
Phan-Rí, tĩnh Bình-Thuận. Quan thủy sư liền sai 
chiếc aviso Norzagaray (thuộc về ông quan năm 



- 389 - 

Lespẻr cai), nó cỏ đốt vá phá chim tại vung ấy hết 
25 chiếc ghe cữa, vì không thế mả đam về. Gó chửng 
sáu chục chiếc khác cưng bị vải ehiếc tàu hủy hư dải 
theo bãi. 

Phen nầy nữa, đạo binh an-nam cung thất vả bị 
đuồỉ dồn, sông không tản diệt. Khi lui ra khỏi Biên 
tỉnh, thỉ^ió hao hết chửng một ngàn rưỏi người, sau 
lại bỏ thành Bả-RỊa, nó cung còn hiệp nhau một lần 
nữa bên phía Cù-My, trong tỉnh' Bình-Thuận, rồi đỏ có 
một it đoàn binh tiếp ngoài triều Huế cho vào mà 
nhập vởi nó. 

Chuyến nầy binh an-nam bại lích làm cho sự thề 
loạn lạc tại xử chiếm cứ ít nao nủng hơn mấy khi 
hành quản trước. Các nơi nào khòng có binh Iangsa, 
thi có chủng ngãi sỉ với bọn cường đạo ở. Ta xin 
nhẳc ĩạicho ai nấy nhớ, lần nầỵ lả tại Cạnh tày mà 
gây ra các chuyện tao động. Mấy người an-nam nào 
chẳng chịu thuận tùng, ho di rảo trong cả và miền 
Mỷ-Tho ; họ lần lên Tân-An, lại lúc sau chủng la sẻ 
thấy họ lên cho tới Chợ-Lớn nữa. Bữa 22 janvier, cỏ 
một tốp ở Gò-Công tới đốt xóm nhà đồng tại Rạch Gả- 
Hôn. Qùa ngày sau, họ đến đảnh phần hử Rạch Gằm 
hai lần. Bữa 28, người an-nam tới đảnh bốn phần hờ 
một lược (là Cải-Bẻ, Cây-Lậy, Thuộc-Nhiêu vói Rạch 
Gằm) vả lập thế mả đốt thử chiếc Shamrock. Hề 
binh gia chúng ta bớt số lần lần chừng nào, thì họ 
càng thêm cả lỏng dạn dỉ chừng nấy. 

Khi cơ bataillon thứ 2 binh chasseur bộ (ì) với 

, ■ _ _ 

(1) Đảy là lời ông De Grammoní nói; còn theo hai ông Boui- 
nais vói Paulns, thồ-i qua 16 juil!et 1863 binh chạsseur bộ mớ-i 
xúất bành mà thôi, một lưạc với bộ sứ an-nam sang qua Đại- 
Pháp. „ 





39Ở — 

Cơ bataillotí thử 2 binh bộ thuộc 10P de lìgne phục 
hoàn trong tháng íévrier, tự .nhiên có vài chiếc tàu 
cũng < phải về theo nữa, thi người an-nam xem chuyện 
đỏ đường như quận sĩ ìangsa khỏi sự hồi hương là 
chuyện họ ngóng trông lẳm. Ngày 17 íévrier, họ cỏ lập 
thử đồ thế tại MỷrTho cựu mà ngăn đở. Khi đó nhằm 
lúc binh giữ cảc phần hờ nhỏ đều khởi sự rút đi. Bữa 
24, phần hỏ* GiạrThạnh lui binh, người an- nam đuồi 
theo lấy súng lỏ*n mà bẳn. Ngảy 26, binh dời ra 
khỏi Rạch Cà*Hôn, cũng bị bên an-nam theo sau mà 
phát pháo nữa. Bữa 28., họ cỏ đánh Mỷ-Tho cựu (qua 
mồng 2 vả mồng 6 mars, họ đánh lại nữa). Mồng 
một mars, hộ đảnh Rạeh Gẳm. Nội ngày đỏ mấy phần 
hờ Gò-Còng và Chợ-Gạo đều hồi quàn; cung một khi, 
các quan đốc lý bồn quốc sự vụ tại Cần-Giuộc, Tàn- 
An vả Tàn-Hoà đều triệu về, cho viên quan bồn quốc 
thế vị. 

Chuyện quan thủy sư Bonard truyền dạy quan 
quân bỏ nơi kia nơi nọ mả rút về như vậy, thi thiên 
hạ thuở ấy đoản, ra nhiều cách. Kẻ thời tưởng rằng, 
sự qui binh đỏ lả cần kíp đặng giục lòng mấy vị ửng^ 
nghĩa cho họ cũng vầy hiệp nhau lại, rồi dùng dịp như 
vậy mậ giết sát trọn một lần. Kẻ khác lại xem nó 
dường như oai quyền chủng ta đã mất và trong xứ 
sẻ ra suy vi khôn lẫnh khỏi. Trong số những kẻ .tưỏiìg 
như sau đày, thời cỏgần hết thảy người an-nam> dầu 
cho họ thuận hay lả nghịch với chúng ta cung vậy. Bỏù 
đó, thí dụ tại Gỏ-Còng, ngày người langsa thượng lộ, 
thì trong 600 tẻn đàn cỏ 460 vị xuống ghe lốn Sải-Gòn 
mà tị nạn, còn ông quản Bịnh choán lấy đồn lại, dạy 
triệt hạ nhửng nhà mấy bằng hửu người langsa vả 
phá tan các chùa mieu nào mả trước cỏ binh gia 
chúng ta tạm ngụ, cung một khi ông ấy lập ra một 


1 , 


% 



— 391 — 


Gái đơn nhỏ ngoài có đào hào đẳp lủy vững chẳc lẳm. 
Mấy kẻ bạc phận trốn đi lánh nạn, thò-i qua năm 
1863 mới về đặng tại chồ minh ở mà thôi, song đã 
ra tan tác. 

Hản chẳc kẻ nọ kẻ kia cung đều lấy chuyện hồi 
quàn đó làm trọng quả, song thiệt nó không đồi dò*i 
đặng sự thề chung lả bão nhiêu, vi bỏi binh sl chúng 
ta thiều số lảm cho bề quản thủ mấy phần hò* nhỏ ra 
đơn sơ cũng như các đường nỏ thông với nhau. Một 
nơi phần hờ kia mả vô quvền lại với không cỏ phần 
hò- nào hết, thi cả hai cung đồng một thề. Vã lại, 
thiệt rỏ ràng chẳng bao làu người ta phải đi -đánh 
Vỉnh-Long, nèn chuyện như vậy mà không cần hội 
quân sỉ lại sao? Chúng ta cũng phải biết mấy phần 
hò* yêu cẳn, như Cải-Bè với Cần-Giuộc, đều cỏ thêm 
binh. 

Song mấy lúc binh lui như thế thật cung có làm 
cho cơn loạn lạc nồi dậy quản trị trong các địa phương 
đã bỏ, thiên hạ khắp nơi ra xao xát, lại thêm có 
một chuyện đại hại kia xảy đến, bẳt đạo binh xuất 
trân phải sầu bi ảo nảo, mà giục lòng các quan 
với phe ứng nghĩa cậy trống. Họ tưởng dỏ lả hưng 
vận lai đảo. Vốn lả bữa mồng 5 mars 1862 (1), chiếc 
canonnière số 25 bị nồ trong lúc nó lui ra khỏi 
Mỷ-Thọ với một compagnie binh 'bộ quả giang, cỏ 
cho người và dồ cuộc tiếp cứu kíp đến tại chồ lâm 
tai, song rủi, lại ví dầu người ta làm hết sức, thì tinh 
ra cũng hết 35 Yỉ đã mạng chung, hoặc phải tàu iiồ 
mả chết tức tốc, hoăc bị vản xuống sông mà nịch tử ; 
còn số mấy kẻ bị vít nặng tbỉ là 17 ngưửi. 

(1) Ngảy thảng đỏ kl theo õng De Grammont, còn ỏng Vial 
đề là ưtâpg 10 mars. ’• 



-392 — 

I • V 

Trirớe khí nói về vụ đăng thành Vĩíib-Long, la 
phải cho ai nấy biết người an-nam có đảnh phá Mỷ- 
Thocựu lần thứ ba (mồng 6 mars); còn tại Cầư-An Hạ 
(từ mồng 9 cho tỏ-il2 mars) có hứng loạn cụng vừa cả 
thề, song khi' mỏ-i phát ra, thi ông De Grammont, 
khi đó lảm đốc lỷ bồn quốc sự vụ tại Binh-Long, cỏ 
đẳnh dẹp nó đi; sau hết, ngày 13 mars, trước khi 
tấn binh xuống Vĩnh-Long, thời Mỷ-Tho cung có bị 
bên an-nam đánh phá nữa. 

 

LẰY THÀNH VỈNH-LONG 
' VÀ CHUYỆN HÀNH BINH 

Khi xem qua chuyện đỏn kầ trước đày, thto ai nấy 
đều hiềạ biết, lúc đó khòng lẻđề yèn một chồ động 
dụng như Vỉnh-Long vậy đặng, yi mấy tay thảm 
thính tinh hình, mấy vị ngãi, sĩ, khí giới, thuốc đạn 
củng mọi cuộc giúp đỏ- đặng nhiều hại, đều ở do 
mà xuất hành khôn đứt. cỏ lẻ ông Trương-Văn- 
Huyền, tồ.ig đối Long-Tườag (tĩnh Long-Ho hay 
lả Vỉnh*Thanh — : đếu sau lả Vỉnh-Long — với tĩnh 
Bịnh-Tường nhập lại) chẳng đặng dàn chủng, yêu 
vì; người là/ một quan lảo tiều tưởng, sàn hiềm, 
tham lam, gẳc gao, lưu danh về sự ăn ơ nhặt nhiệm 
và dộc dử. mà thoi, nhứt lả với con dàn có đạo; dầu 
vậy, nhờ thiên hạ kiêng nề phép tắc nhà nước, quyền 
cao' chức cả và sọ- lính tráng, nên mó-i làm cho quan 
ấy đặng chẳc ý về sự khám phục đỏ, lả sự hứu lực 
biết thế cầm giữ, song thường nó hay biến mất một 
lược vỏ-i sức ấy. 

Vậy cuộc tranh chiến coi vọi thật tận tinh; song, bề 
đác thẳng tùy biên -xem ra rất nên vửng chắc. Vừa 
buềi ban sơ, quan thủy sư Bonard dã nhưt quyết, lại, 


I . 



— 393 


khi lấy xong Bà-Rịa rồi, người liền hiệp quàn sỉ cần 
kípđặngđiđánh thành Vỉnh-Long, lúc đó kiênbếchầc 
chần lẳm, nhò - chỉnh vi đại giang Khong có một cái 
cù-lao nẻ địa, không ‘đi thòng thấu đặng, áng khuất 
mặt tiền phía bẳc, lại nó có một Dgọn sông hẹp 
ăn vồ dề mà làp các chặng hàn vả xây mô súng ; . 
bên phía nam, thành ấy có vải cái bảo có trí đại 
pháo và nhiều dồ cuộc phụ thêm dề ngăn dở thật hẳn hòi. 

Ngày 20 mars 1 862, quan thủy sư đi với một đạo 
thuyền chiến nhỏ kề lả hai chiếc aviso và chín chiếc 
canonnière; chở chừng một ngàn binh. Lủ'c chiều xế 
quàn gia, cỏ òng phó quan năm bộ Reboul đốc suất, 
độ lẻn bò- tại Đình-Khao, cách thành dạt ước năm 
ngàn thước bên phía đởng-nam, lối chồ thủở đó có 
mấy cải lò gạch. Bữa 22, đạo colonne tấn tới đánh 
Vỉnh-Long,khinódộ qua hai rạch, nó có chịu cho hẻn 
an-nam bắn. Lối 5 giờ chiều, binh đến trước mấy mô 
sủng phía dòng Vỉnh-Long, nhâm lúc nỏ đang nồ lực 
phảt pháo đấu với mấy chiếc canonniẻre, cung như 
các đồn bảo khác tại thành vậy ; khi ây đoàn tiều 
thuyền đang đánh với mấy mô sủng phía tây mới 
ngưng bẳn, đặng cho khỏi ngăn trở binh bộ. Qua 
tối, dứt đánh, súng các đồn thất dã lẳng lặng rồi, 
một minh thành CÒI1 chống lại mà thôi; hai bên 
tranh cường với nhau tính trọn bảy giò-. 

Bữa Sau, lả ngày 23, minh nhựt binh sỉ nhập thành, 
không còn đảnh đập chi nữa, bên an-nam đã bỏ 
rút đi ban đêm. Chuyến nẩy người ta đến kịp mà chữa 
đặng lửa của binh an-nam thua chay mới đốt. Mấy 
ngưòi có đạo' bị cấm cố đều cửu khổi. Một cuộc đồ 
hung khí cả thề nhập về tay người langsa, lả : sáu 
mươi tám vị đại bác đủ hậDg, một chođức sủng lỏ-n, 
muối diêm, thuốc đạn đinh thiẻn vửi lúa gạo khôn 

26 



1 


— 394 — 



xiết kề. Gảc vị làm sả£h lả ông Vial, De Grammont, ' 
Boưinais, Pauìus, Nicolas, Louvet, ta xin hài danh 
mấy òng đó mà thôi, đều có kề lại cách đụng binh 
cùng sự nỏ đẳc thẳng thề nào, song có một diều họ 
bỏ sót, là số hao hết bao nhiêu nhơn mạng. Nhirng 
vảy có số binh sỉ hao đỏ mới biết chắc đặng binh gia 
nông sức giả dáng thề nào. Như không có mấy sổ quẵn 
nhơn tử vu sa trường, thi mấy cách kêu rằng « lỏy thiếc 
thành dồng )), « hai bẻn đấu đại bác quá hung y>, <L chiến 
tranh cả thề », « độ binh qua sòng sàu bất kề giặc 
bẳn giết » V. V., ai muốn hiều thế nào củng đặng, 
vi như không cỏ kẻ tử thương, thòủ mấy cách kêu đỏ 
— ta xin phép nói — là huyền hoặc phi lý mà thôi. 
Chở chi ta biết rỏ đặng chuyền ấy dường nào. 

Lấy xong thảnh rồi, bèn chọbinh soán cảch tiện 
hơn hết lại với một phần tĩnh qui phục. Mấy chuyện 
dó cầm quan thủy sư ở lại Vỉnh-Long cho tdri mồng 
8 avrii. Phần khác, chính vi Bièn-Hoà, Bà-Rịa cùng 
Vủng-Tàu đều có bỉnh đòng soán, nên dầu cho số 
chung quàn sỉ không dặng bao nhiêu, thi người ta cũng 
rảnh rang hơn trước mà bình loạn trong xử. Vậy đại 
binh an-nam đã bỊ đuồi dồn về Binh-Thuận, còn quàn 
sỉ thủ thành Vỉnh-Long với các quan mấy tỉnh hưỏ-ng 
Tày đã thua chạy qua mé hữu Sông Không, nên mới 
có thê mà đẹp giặc yên lần lần, dầu cho nó miên 
trương bất tản. 

Ta xin kề lại mấy việc lớn ve vụ trị loạn Dầy trong 
sáu thảng dầu năm 1862, cùng những chuyện tao 
nhiều hưng khởi hằng khiến phải đi dẹp nó luôn, 
đang khi người ta tưỏ*ng chẳng còn cần chi mà chinh 
phạt nó nữa. 


1 . 


i . 



— 395 — 


, v - chánh đảng đấy loạn đã chiếm một it noi thị tứ mà 
ớ chán chưÒTig vả đi thông thưomg trong các làng với' bô ha 
theo đông mà chẳng ngại chi hết. Họ lập đội lảp cơ trước mắt 
thiên hạ phân đặt tốp nọ tốp kia mà ngữ các đường ngưcn ta 
ky c k° ké thàu thuế, và cáo báo khắp nơi rằng chủng ta 

Ể? đữửng Chợ-Lón xuống Mỷ-Tho, trưức 
khi tỏi Bẽn-Lức, có 500 ngưòi hạ trại ỏ- hai bẻn bò- sông, dl cho 
thuyền chiến chúng ta qua lại, song hộ lấy thuế các ghe buôn 
và sẫm sửa phương thế mà ngăn càng không cho chúng tà 
thông hành. (Vial). . 8 

Chúng, ta đã biết, rốt việc miền Mỷ-Tho trở nên 
một chồ tíchyrữ chuyện rối rẳm luòn luôn. Khi 
binh langsa bỏ rnấy phần hờ nhỏ rồi, thì người an- 
nam kiêu bế Mỷ-Quí lại mà dề phòng. Song khi vừa 
lấy đặngthánh Vĩnh-Long, thấy có cho một đạo colonne 
binh thủy thượng ngạn binh bộ thuộc thủy với iinh 
bộ espàgnoỉ hiệp lại, lảnh đi đánh đuồi họ. Đạo dó 
cỏ ông quan nàm Palanca Guttierez với ông quan nàm 
thủy Desvaux trị tỉnh Mỷ-Tho, Cầm đầu. Bên an-oam 
bj đuoi ra khoi các cho thế xong thi ông quan năm 
espagnoì mód t rở về Sải-Gòn, người đi bọ theo đàng 
sứ khi ấy đã bồi thố song nó có một điều bấuiện lãm* 
là nó bị hai Sông Bến-Lức với Vủng-Gù bưt ngang 
củng vỏ số rạch ngòi mả có nhiều cái không có cầu! 
Cuộc đam quân sỉ đi ngang qua hai tỉnh dó chẳng 
làm cho sự thề loạn lạc trong xứ dời đoi chút nào 
Sau cũng như trưởc, là không cư an đặng. 

Mấy vị ngải sỉ biết đại binh mắc việc tại vĩnh- 
Long với Mỷ-Tho nên thừa dịp ấy mà đảnh phá 
Chợ-lờn trong đêm mồng 6 avril. Có chừng năm 
chục nóc gia ỏ- lối đường vô thành, tư Sông Arroyo 
Chinois mả lén đồn Cây-Mai, dều bỊ đốt cháy, phần hơ 
langsa lập nơi dó gần phải- tiêu tan. Thiên hạ la lưa 
dậy tròi, sọ* cho một lúc kia mấy kho sơ pháo thử 



lại Hội-Đồng phải khốn. Cả đêm lại Sài-Gòn ai 
nấy đều thưc iTrong chuyện đỏ tải vật hư hao tính 
chang bao ntìtèu, song xét về sự khuấy phả tàm trí 
thiên hạ thi nó nặng lẳm. vốn thật, khi trước quan 
quàn tại Chí-Hoằ có lập nhiều dảy đồn mà baoSài-Gòn 
song không dám ướm thử nhiều hại nỏ, thì nay chuyện 
ấy mới bỊ mấy bọn dốt phá ra tay thi hành. Chúng ta 
co quyền thế trong một cỏi lớn rộng thinh thinh, mà 
chúng ta lại bị ngăm đe chinh vi tại chỗ trungtịm chúng 
la lạp cơ nghiệp ». Muốn cho nghịch tặc dừng tụ lập 
quàn gia đặng tại một nơi nào trong tỉnh, thấy cỏ sai 
nhiều đạo colonne nhỏ cùng kẻ thám thính đi tự 
hướng chung quanh Sài-Gỏn, Chợ-Ldrn và Can-Giuộ.c 
được một ít làu, song binh ấy không xuống tó*i Gò- 
Cỏng là chồ ông quản Bịnh làm chúa xử. 

Trong tĩnh Biêụ-Hoà, dằu cho quàn sĩ an-nam đi 
rồi, sự thề cung ra nguy hiềm lại nữa; có nhiều 
đảng hung hoang trinh diện nơi kia nơi nọ. Ong 
phó quan nặm bộ Domenech-Diégo rượt họ chạy 
lèn hướng tây-bâc, còn binh ỏ- tại Trảng-Bàng với 
Tâý-Ninh*thì đi chận đầu. Cách dụng binh như vậy 
phải cách lẳm,' mởi làm cho trong tĩnh đặng bình 
yèn lại một chút. 

SỨA SANG LẠI. LẬP CÁC SỜ 

VÀ KHAI CÔNG VIỆC 

Chúng ta đã biết trí tưởng tượng quan thủy sư 
Bonard về vụ cai trị trong xứ thề nào. Tĩnh Biên-Hoà 
tần chiếm đề cho người dùng làm -một nơi trước hết 
đặng mả làm thử chuyện kia chuyện nọ. Trưức ta có 
nổi, đứng đầu cỏ quan cai địa phương, lả ông 



— 397 - 

phó quan năm bộ Dơmenecb-Diẻgo ; kế hai quan vỏ 
tùng người, thọ chức đốc iỷ bồn quốc sự vụ, lảnh 
quyền xem sóc các tri huyện an-nam, râấy ông nầy 
hay việc trị đân, thầu thuế viết vả tuần phòng mồi 
người theo phim sở mình (tờtư nhấm ngàỷ 30 janvier 
1862 ). 

Trong cách ấ'y, thì người langsa choán Biên-Hoà 
Thủ-Dầu-Một vả Bà-Rịa mả thôi. Nếu khi đó các vièn 
quan bồn quốc đúng sức mả lo còng việc phú thác và 
xứng đáng về chuyện ngưòi ta tin cậy họ, thời chẳc 
có lẻ vạn sự dều ra xuôi xả, song rủi không có chi 
hết, lại trước ta có giải nó rồi, là chẳng đặng chút 
nào như vậy. « Mấy người khá hơn hết trong những 
kẻ đã chịu thi thử đều rút về ở tại mấy chồ kiên bế 
minh-, đề cho dàn chúng vẳy vùng làm sao đặng thi 
làm mà chống lại với các diều quan binh đòi buộc 
cùng với những sự loạn tặc nài xin.;>( Vial). 

Khi quan thủy sư ở vỉnh-long vừa về tới Ổải-Gỏn, 
cỏ lẻ người phải dùng phưo-ng thế mả dẹp loạn tại 
Gia-Bịnh. Theo lời nghị ngày 25 avril 1802, quyền 
bang giao, văn vỏ, đều hiệp tạm lại mả phú cho mồi 
quan địa phương hay là quan cai đạo thủy. 

Trong lúc ỏng Lẻo de Lespès phải dần binh turcos di dẹp 
giặc tại Phưỏ-c-Lộc, thì hai ông Vergnes vỏi L’Evêque, tại tàu 
Perséuérante và tàu Aualanche , đều lãnh việc di cứu phần 
dất phủ Tản-An cùng các sông rạch liên cận cho khỏi cướp phá 
trốn bộ và dưới thủy. Tại Tảy-Ninh phủ mấy nha môn langsa 
ỏ' Trảng-Bàng vứi Dình-Long dểu bót di, nẻn ông Guỵs mới 
làm chủ tĩnh một mình. Hễ -trong xử vừa đặng yên ồn, thì 
ngưỏi ta T phải noi theo sự dẵ cỏ tại Biẻn-Hòa, là lập lại Tân lần 
trong các huyện mấy viên quan an-nam nảo mà ngưòi ta 
biết rằng dẵcỏ lòng trung. (L. de Grammont). 

Rủi thay, lúc thái bình đỏ chưa đến. Mấy người 
an-nam nào làm giặc thi họ không về nhả, còn các 
kẻ cư an lại thiếu con vật mà cày cấy. Vrệc ruộng 



nương cảng ngày cáng tới mà: thiên hạ không dám 
lia xa chỗ ở, BÕÍ vậy, nhiều kẻ phải trồng trỉa vừa đủ 
ăn mả thòi. Vả chăng, dư đề làm gỉ ? Nó sẽ bị lửa 
cùng kẻ cưỏ-p iấy hay lả phá hủy nỏ đi. Có một lúc 
kia ai nấy 'đều ngẵ lòng Chính vi Sài-Gòn cũng thấy có 
sự rủn chỉ tỏ tưỏmg. Thièn hạ xem xét chuyện tai hại 
trong ngày mà thôi, nên không trông cậy sau gở đặng 
rối và lo sọ- hỏi minh, rồi chuyện nầy sẽ ra thề nào. . 
Nhưng vậy mấy lúc làm cho bải hoải tàm trung đỏ 
có lẻ không lâu dặng, vi chúng ta thấy sau đây sự gở 
rối đến thinh lình mà người ta không dè. 

Các sở haỵ việc trị dồn đều bỏ lần lần. Trong 
cách mái bảy, cuộc thống lý bồn quốc sự vụ còn lo 
chuyện sở tại cùng chuyện tây tại Sải-Gòn mà thổi, 
vậy chẳng còn cần dùng cho lằm, nèn tới phiên nócũng 
bị bải đi (ngày 31 mai 1862). Nội bữa đó, có ra lời 
nghị mả định vụ giao thôDg các quan tỉnh với quan 
thống đốc. 

Ví như có nhiều kẻ ngã lòng về sự chúng ta làm 
nẻn việc, thi ta tưởng chấc đặng quan thủy sư 
Bonard không phải như vậy. Các còng chuyện ngưừi 
dạy thi hành hay là tính làm, thời chẳng -phải lả 
mấy việc cỏ điều hồ nghi. Quan thủy sư thống đốc 
Nam-Kỷ trưửc hết tin cậy bao nhiêu vê ngày sau cho 
xử địa hạt, thì cũng chắc ý bấy nhiêu trong cách 
người cai trị. Người quấy về chuyện chắc ý rẳn rỏi, 
mà về chuyện bền lòng tin cậy thì người hữu lỷ, lại 
các kẻ đời sau phải biết ơn ngưửi. 

Khi chiếm lấy , Bả-Rịa vừa xong, quan thủy sư 
dạy quan bác vật' địa hạt Maucher lo làra một cái 
đèn vọi hạng nhứt tại Vủng-Tàu. Hảng ông Roque 
dấu được giá, khởi công nhằm ngày 25 mars 18(52; 



— 399 — 

qua ngày 15 aoùt sau, thi khánh táng vọng đăng 
ấy. Người ta dựng nó trên một đảnh kia ở bên phía 
nam hơn hết trong chòm núi Vủng-Tảu, dẻn đỏ cao 
khỏi mặt nước biễn đặng 147 thước langsa. Lúc 
thanh trời, ở ngoài biền xa cho tớỉ33 milỉe (61.116 
thước langsa) cũng cỏn thấy nó. 

Lối dầu năm 1862, mấy người thuộc về cuộc 
điền báo cũng cỏ qua xứ địa hạt nầy nữa, đó là càn 
nguyên sở nhà thơ dây thép ngày nay (cuộc tho- tin 
lập sau cuộc điền tín một năm). Khi bọn điền sanh 
vừa lại tới, chuyện giăng các đường dày thép liền 
lo thi bảnh, Trước hếtSài-Gòn thông vô Chợ-Lớn, rồi 
qua Bièn-Hoã, xuống Bà-Rịa -và Vũng-Tàu. Các việc; 
làm thật phấn chấn lẳm, song nó cỏ tấn tới phải ỉao 
còng hết sức mó-i đặng, lại mấy năm dầu đặt đường 
dAy thép buộc các người thuộc sở phải cảm đảm, 
tẠn tâm và liều thằn cách lạ lùng. Vừa qua nẳm 1863, 
người ta tính có 9 phòng dày thép với một đám 
điền tuyến bề dài chung đưọ-c 300 ngàn thước, hết 
thảy đều thông về dinh tạm quan thống đốc, lúc đỏ 
cất bằng gỗ rộng lớn, cỏn sường thi làm bèo Phố- 
Mới chơ qua. Nhà ấy dựng ở phía ngoái đôn Tàn-ThiêT 
(tại chồ nay cỏ trường Taberd); trước mặt day xuộng 
sòng có trồng một cày cột cở-, kế ìối đó có phòng 
điền báo. Quan đầu phòng đó lãnh việc sữa cho đúng 
giờ trung tại các cảng khầu, lại cũng về ý ấy, nên kề 
từ mồng một aout 1862, mồi ngày chiếc Duperré 
bẳn một tiếng súng ló-n mả bảo giờ trung ngọ. . 

Chẳng những quan thủy sư Bonard dạy lập một 
cải dinh mà thôi, theo lời người truyền thỉ các nhả 
thương cũng đều mở ra rộng hơn, cất chồ ở tiện cho 
quan quàn, sáng tạo một cái nhả thờ, sau hết lập 



— 400 - 


một sở nhà ỉn. Ngày 13 mai 1862, cỏ cho, thiên hạ . 
biết tấm bản đồ phân các đường thành , phố Sài- 
Gòn của ông quan năm thủ bị Coíìyn đã -vẽ. Có khi 
ông Vial lấỵ mấy ‘đường ấy ịàm lớn quả, -người coi 
các đường 20 thước langsa bề ngang ra như tuồng 
rộng lẳm; chớ chi người xem lại đặng thảnh phố Sài- 
Gòn đòi nay, cỏ lẻ người thấy (lường Catinat thật 
hẹp. Ngày 19 mai khởi sự phát mải mấy khoảnh thồ 
cư trước hết trong thảnh. 

Lúc đó rất cần cho dặng cỏ một cái ụ- đe mà sữa 
lâu, song công cuộc xảy nỏ chậm chạp .và tốn kém 
quá. Nên quan thủy sư cỏ xin chảnh quốc gởi qua 
một cải thủy thành nầi, người cũng có bản xin làm 
một cái vọng đăng nơi hòn Côn-Nòn; đó lả mấy điều 
người lo trước hit mà ngưỏ-i không thấy đặng nó 
ra thề nào. Bỏ-i ta mới hải tên cù-lao Cởn-Nôn, nó 
là vọng canh kia đặt ở trước xa thuộc về xứ Nam-Kỳ, 
nên chúng ta hảỵ ý chĩ rẳng, lối (lầu thảng mars có 
đem ra đỏ một tốp 50 tên gian ác. Sạu một ít làu, 
người ta cũng cổ đày ra đỏ những tay làm loạn và 
mấy vị kinh chống cùng quyền cai trị langsa. 

Các việc đa đoan nầy chẳng làm cho quên được việc 

dạy dồ. Điều ao ước hơn hết, lả biết tiếng an-nam 

vỏà tiếng langsa. Trường thông ngôn tày thuộc về 

cha Croc cai — chính vi người cỏ thầy cả bồn qúốc, 

là cha Tbơ, giúp — không làm nên sự người ta trông 

ước đặng tức. thời. Chắc có lẻ tại trường nầy không 

có đủ món học, song nó thiếu nhứt ỉà ngày giò-. 

Một người langsa không học được tiếng an-nam cũng 

như mấy thử tiếng phương Tày nội trong vài tháng. 

Điều như vậy chẳng hạp dăng với tánh nóng nảy tự 

nhiên chúng ta, bởi hầng muon nên việc hẳn hòi cho 
♦ 


* 



- 401 — 

chóng. Cũng phải nói rằng là tại các điều cần kíp 
khi đỏ cảng ngày càng thêm, nên bưộe phải cho 
có người thòng ngôn. Lời nghị ngày mồng một dẻ- 
cembre 1861 dạy lập ra một ti kí lụó vá thỏngngôn 
hon guốc đã thi đậu má thòi (người ta buộc mấv 
VỊ ấy phải biết tiếng la tin). Một ít lâu sau mới lo lại 
chuyện thông sự tày, còn trường thi lập theó cách 
mới (mồng 8 mai 1862). 

Về sự dạy dồ theo cách langsa, thấy hội giảng đạo 
có lập ra trường d/Adran, ban so có 30 học trò 
dặng tiền, nuôi dưởng, sau lại được 70 tên (lời nghị 
“gày Ịanvier 1862). cỏ một lời nghị khác, nhím 
ngày 30 janvier, chuần cho mấy đứa con gải trường 
langsa tại Sainte-Enfance (nhà mồ còi) một trăm phần 
tiền đề nuôi ăn học. Cuộc giáo huấn như vậy mà không 
đòitỉền thì có hai ỷ, đề mà thưỏrng cồng nghiệp những 
nhà an-nam đã tỏ lòttg tùng phục chúng ta, và đến 
sau làm ra mấy người- giúp việc giỏi. Theo ỷ ta 
tưởng, sự được việc trong cuộc dạy dồ chữ nghĩa 
langsa dỏ hằng cải Iẻđặng luôn. Ta chẳng dứt nhắc đi 
nhẳc lại điều nầy : bắt học tiếng ngoại quốc baơ nhiêu 
tự ỷ, mà đừng lấy tiếng ngoại quốc mà dạy dồ. 

Trong lúc ấy có một đieu sái lẻ khác mà nhà nước 
chịu, là thuốc á phiện. Hoa chi nha phiến cỏ đấu 
giá bán lần irưức hết, nhằm 20 janviei' 1861, đặng 
91.000 đồng bạc, hay lả chừng 500.000 góc tử thuư 
đó, chẳng bao lẩu nó lợi dưọc hai triệu rưởi. Phần 
nhiều trong những tay « thạo chuyện » lúc đó, cung 
như có nhiều kẻ trong các người đời này, đều ra sức 
mả dằn giải về Sự bất cấm người ta hút á phiện, 
thuốc độc đỏ chẳng làm hại được, củng may 10*1 
trách móc nặng vố lý của một ít người thiện tâm ; 



— 402 — 

. • * 

chinh vi ỏng Vial nữa cũng không dằn lòng đặng 
mả đừng viết Jỏri nầy : «Vụ lập ra gốc lọi ấy ĩàm cỉr 
cho raấy người luận việc có ích cho nhơn loài bao 
biếm lung lẳm.‘j> 

Ta thuộc về mấy người luận việc đó, lạỉ dã hai 
mươi năm ta ở xử nầy nó cung không sữa nghĩa 
những lời bao biếm ta lại đặng, ở đây ta không có 
chồ và cũng chẳng cỏ ỷ mà nói lại sự ta đã viết về 
nha phiến ; dầu lẻ nào, như ta mả cộ hiều sải, thi 
cũng không làm mếch lòng mấy người chốnglỷtbỡibọn 
chúng ta cung nhiều. A phiện tại nưỏ-c Nhựt~Bồn đã 
cấm, bên nước Oao-Lỵ cung vậy. LuẠt củ tại xứ sau 
đây lên án tử cho mấy kẻ đem á phiện vào nước; trong 
luật hình mới, của ông Laurent Crémazy, là cựu 
chủ tòa phúc Sài-Gòn, lập ra cho nước Cao-Lỵ, thì 
hinh phạt định lả 15 năm kbồ sai. 

Các nhả nưởc thuộc về dòng dỏi da vàng phân 
đoán sự dùng á phiện dường thế, như không trúng lễ 
hơn — bởi chưng người ta khống chỊu rằng nó lảm 
hại — thi ít nữa lỏ khác hơn các nước Tày phương. 
Nơi nào mà họ làm đặng, thời họ bỏ không cho 
dùng và cấm thuốc ấy nữa. Vậy chẳng có sự chi là 
khỏ mả khổng ngăn trở đặng những kẻ hút, song 
phải có lòng muốn mới được. Ta không gầy - sự cải 
lẻ nào khác về chuyện nầy làm chi, nhưng vậy ta chắc 
đặng một ngày kia các dòng dỏi đòù sau sẻ thẩy — 
cộ khi lấy làm lạ — trong chuyện á phiện, mấy kẻ 
mọi rợ khòng phải là kẻ khỉ trước ngưòi ta tưởng. 

Trước khi bỏ chuyện nầy, ta xin kề tóm lại các số 
tiền thuế thàu trọn mấy năm từ 1860 cho tói 1862. 

Năm 1860, thâu đặng 185.735 đồng bạc 36, nghĩa 
là 728.898 quan tĩền tày (đồng bạc tính lả 5 quan 



403 — 


tày 37); trong số đó có 103.092 đồng về thuế bến* 
nước, lả số đị ki lắm. Năm 1861, thâu được 48.444 
nguyên bạc 60, hay iả 260.144 quan tày 60. Năm 
1862, nó lèn cho tói 231.519 đồng 60, hay lả 
1.243.260 quan tây 57, khổng kề vô hai phần tiền 
đạ đóng về vụ bồi thường cuộc giặc giẵ, cọng lả 
220.000 đồng. 

Trong các tiền thâu đó, á phiện tính.iả: năm 1860 
được 13.592 đồng 10 ; năm 1861 , đưọ-c 27.257 đồng 
37 ; nám 1 862 được 45.1 36 đồng 79. Vậy chẳng phải 
là các số tiền ấy lọ-i khầu sao? Lại, như chẳng nói 
nỏ khen giồi, thi biết bao nhièu điều nó thuyết lý 
mà binh vực thuốc độc đó. 

Ngoải chuyện công xi nha phiến, thấy trong lúc dó 
cũng có lộp ra mộtcuộc khác cung đồng làm hại Vậy, 
là: hoa chi cờ bạc (mấy lời nghị ngày 26 juillet và 
ngày '17 aoút 1861). Sau người ta bỏ cuộc đó đi; 
vốn thật số huê lợi nỏ không dược khoa ngôn cho 
bằng nha phiến. Người ta cũng- có lập còng xi rượu 
mạnh (lời nghị ngây 21 avriĩ với ngày 11 juiííet 
1862), mà bởi công ti rả hùng, nén mấy lời nghị 
ấy phải bỏ. Vậy lúc đó có cho buôn bán rượu thong 
thả, trừ ra mấy người bán sỉ, bán lẻ phải đóng thuế 
sanh ỷ mà thôi (lời nghị mồng 0 septembre 1862). 

Vụ phàn dặt binh gíă an-nam cung đáng viết ra 
một đôi hàng. Chúng ta biết khi vừa soán động Cữa- 
Hàn, thì đã tu thành hai compagnie linh an-nam. 
Ngày 24 mars 1861, quan thủy sư Charner truyền 
lập 4 cư compagũie lính bồn quốc. Mồng 4 tévrier 
1862, lời nghị quan thủy sư Bonard dạy lập lảm ba 
Cơ bataỉllon, mồi tinh mồi cơ. sở lỉnh nầy cũng có 
mấy phần việc, chuyện buộc làm và tập luyện cung 



. *như s& lính bộ thuộc thủy vậy. về mấy đạo binh 
riêng, thấy cỏ lập ra lần lần : .một cơ escadron quán 
kị spahis Nam-Kỳ (mồng 7 íẻvrier 1862) (1), và 
binh ứng nghĩa (19 íévrier 1862). 

Guộc sữa sang binh lỉnh bỗn quốc cũbg theo một 
cách đã tinh trước như vụ chấn chỉnh việc trị xả 
dán, nó sanh ra nhiều sự phiền muộn. « Khi phải 
lập điều luật riêng cho mấy cuộc ấy, tùy theo phong 
tục vả việc cần dùng con nhả an-nam, ngưội ta lại ra 
sức buộc dần bồn thồ tùng theo thỏi quen lỉnh 
bộ chúng ta. Bỡi dỏ mới làm cho những kẻ cỏ của 
chê ghét, không chịu cho con cái minh đến nhập vô 

. hàng quản lính chúng ta Mấy người an-nam nào 

đã ỏ* lính, thì họ không còn tùy tục nưdrc, bỏ cách 
ăn ở theo thỏi nhả, nên sau mấy người đồng bang ít 
ưa họ và sợ. điệu đi tưửng đứng nghinh ngang khi 
họ về làng. > ( Vial ). ' 

Mấy lúc lảm thử trưửc hết về việc quốc chảnh đó, 
dầu cho chẳng trúng phép, nhưng vậy không phải 
là vò ích, lại mấy đấng nối quýền cho quan thủy sư 
Bonard nhờ sự làm thử soi sảng chỉ dằn, nên mới 
sữa lại đặng những điều lầm lạc gần khôn lánh khỏi 
đã phạm trong lúc ban sơ. 

(4) Hản .thật binh mả tại xứ cỏ lập trưó-c nhằm mồng một 
avrii và ngày 15 octobre 1860 ; nỏ k£ ià linh kị tagal ( má-ní 
ngựa) tinh nguyện tại chòm cù-lao Philippines hoặc bắt trong 
đạo binh bá chiếm. Còn ngựa thi mua tại cửa Manille, cửa Ba- 
lavia vả bẻn nirỏ-c Nhựt-Bồn. Quan thủy sư hiệp các tốp ỉíinh 
kị dùng trong xứ vô một dạo mà làm ra co- escadron de spa- 
his de Cochỉnchine. 



405 — 


LÊ-PHỰNG DÃY LOẠN 

TẠI BẮC-KỲ 

Chuyện người có đạonầỵ, tèn Pierre Lè-Bảo-Phụng, 
là một chuyện ít rỏ hưn hết, ông ẩy nói mình là con 
cháu vua Lề lớp trước và quyết chắc rằng cỏ nước 
Langsa giúp đỡ. Các kẻ làm sach có thuật lại một it điều 
ve sự ông ấy dậy giặc tại Bẳc mả thôi, song cả thảy 
đều nói nhả nước langsa chẳng cồ giúp tai vật hay 
là xúi giục bao giờ. Ta không đám qua quyết như 
vậy. Bối sự đảnh phá đất Bắc đó đại ích cho*chính vi 
chuyện chúng ta lẳm, I1Ó hưng khởi phải thỉ quả, 
cho nên tự nhiènmới có lò-i tục ngừ: người kìa làm, 
mà ai hưởng việc làm đó. Biết quan thủy, sư 
Charnér trước có hứa giúp chăng, roi tới ngày thì 
ông Lê-Phụng không đặng quan thủy sư Bonạrd sự 
chi hết? Bao nhiêu điều ầy cỏ khi bền chi tra xét mỡi 
ra lẻ. Trong lúc chờ dợi như vậy, thì đặng cách nào 
hay cách nấy, ta cũng xin biên ra một ít điều làm gốc, 
thật không chắc trúng lại V ta tưởng chẳng đưọ-c chắc 
chán bao nhiêu, mả nhưng vậy nỏ đó là mấy điều chỉ 
dần trước. hết đề về sự tim kiểm ngày sau có khi ra 
lẻ thật thề nào. 

Sử kỷ đã cho chúng ta biết đứng quàn vưưng quí thứ 
trong dòng cựu là vua- Lê-Chiêu-Thống, người thăng hà 
tại Bẳc-Kinh trong năm 1793 với hoảng tửngưưi (1). 


(!) «Thảng 5 năm 1791 (ta viết 1793 theo sách Sỵnchronis- 
mes chinois của thầy giảng Tchang làm ) thi hoảng tử ( vua 
Lẻ-Chiêu-Thơng) tạ thế, cũng nội năm đó, nhằm ngay 16 thảng 
10, 'thi chính vỉ vua băng, bải rầu rĩ và cỏ bệnh, song trưó-c 
khi chết người có nhóm các kẻ bị giam cầm vói người lại vả 
bieu hứa sau dem tử thi người ve mró-c An-Nạm.» (Trương- 
Vlnh-Ký, sách Cours d'Histoire an/iamife).—ftQua năm 1803, 



Biết người cỏ đứa con nàonữa, hay là hoảng tử nầy 
khồng cổ chết như lời ỏng pẻtrus Ký nói? Bỏ lả cảu 
hỏi trước hết phải dần giẳi, vã chăng trong sách Noỉes 
siir ỉa Nation annamite của ông Legrand de la 
L^yelảm, thây người có viết mấy hàng nầy mà nói 
phan biệt: aNeucóthật vua nhả Lê ỗ- trong rừng 
ngồi thất tưựng cỏ dai vàng mà đi ra, là con hảy còn ở 
lối ngả vô Bắc-Ninh vỏ-i Kẻ- Chợ mà chò- người trồ- về, 
thi cảc quan lúc nầy, đang phiền rầu, sẻrasửckiêm 
cách mả chứng rằng chẳng phải là người. » Phần ông 
L. de Grammont lại chép ra như vầy : « Thái tử (vua 
Lê-Chiêu-Thống) trở về Bẳc với cả cung quyến người 
nhẳm năm 1825, rồi cách ít làu người qua dờ 1. Còn 
ông hoảng Lè làm đầu cuộc đấy loạn lúc nầy tại đất 
Bầc-Kỷ, thi xưng mình lả thân thuộc vói thái tử ấy J>. 
Thầy cả A’ Launăy lại nói trongsách Histoireancienne 
et moầerne de ƯA nnam rẳng : « Cựu vương nưỏx An- 
Nam cỏ đề lại hai òng hoàng đệ. Một ngươi chết tại 
thành Tuyên -Quang, ngưỏ-i nọ thỉ vô núi tị nạn và 
có đánh thử lại với quân tàỵ-sơn mà không thắng ' 
đặng trận nảo. Đó là tồ phụ mấy vị xưqg minh la 
dòng Lê, làu láu trình diện tại đất Bẳc-Kỷ vả đe hại 
nhà Nguyền. » 

các lỏri ta có P hẻ P mả đoán rằng 

ỏng Lè-Phụng có quá thi lả cháu hay chẳc vua Lê- 
Chiêu-Thống mả thôi. Nhựt báo Le Cathõlique des 
Phìỉippỉnes nói người ta nuôi dưỏ-ogông ấy tạinhả 
kia thuộc về hội giảng đạo lập nơi hòn Poulờ-Pmang? 

T ỉ eo Á tu Ỷ n S r ẳ "?» ,? ốc òn ẽ ấ ỵ có đạo xem ra 
gân chẳng phải chút nào ỉả con vua cháu chúa. 

ngvời ta có làm y theo tòi sở ước vna Lẻ khi gần yến giá, nén 
nay hải cốt ngưò-i mới an tảng đặng ncri đất nưác ông bà» 
(Ả. Launay). 



- 407 — 


Khi lấy đặngCữa-Hản, người ở tạỉ trại binh hrngsa- 
espagnoỉ, song trong lòng bòn chòn, có lẻ muốn làm 
gấp việc, nên viết thơ cho các bạn hữu minh &Bẳc mà 
nói rằng người langsa hòng gi úp những sự mình trông 
cậy. « Mấy mưu chước đó có cáo báo cho quan thủy sư 
hay, còn ông Phụng thi trốn mẩt đặng lánh cho khỏi 
bị các chuyện xảy đến bối mình vụng lo mả ra. »(Vial). 
ổng Phụng trầy qua Hương-Cảng, ở đỏ chẳc có khi 
nhả ũxrờc anglais coi chừng người. 

ông ấy có thông đồng với quan thủy sư Charner 
chăng? Có chuyện chi đã hứa trước không? Mấy 
điều nầy cỏ ỉẻ có, lại càng có lẻ hơn nữa, là bỡi cuộc 
đánh phá tại đất Bâc hưng khởi phải thỉ đặng tính 
xong cho chính vi sự thề chúng ta. Dầu thề nào, 
thấy ỏng Lè-Phụog cung trình điện thịnh linh tại 
Bắc-Kỷ; theo lời hai ông De Grammont với Vial thì 
nói lả lối đầu nảm 1862, theo ông A. Launay thời 
lại trong nàm 1861 (sự khác năm đỏ rất hữu ích mả 
giải ra cho rỏ, bới vi năm 1861 có ỉẻ cho ai nấy 
tưởng đặng lả năm tính toán với quan chưởng thủy 
Charner). Loạn lạc kíp mau dầy tràn ra cả thề ; nội trong 
vải tuần lề, ông Phụng chiêu đặng cho mình một hội 
quan quân giỏi đề lảp đạo bin h ; nên cách ít làu người 
lãm đầu có hơn 20.000 binh, lại mấy lần giáp trận 
người đánh thẳng quân sỉ nhà vương có òng Nguyền- 
Định-Tản, là nhạc phụ đức hoàng đế Tự-Bức, thống 
lảnh. Tại Bắc-Kỳ cung như tại Nam-Kỷ vậy, là các 
quan an-nam giết vô số con dàn có đạo đậng mà báo 
thù về mấy lúc minh bại tích. 

'Trong mấy tháng đầu năm 1862, ỏngLê-Phụng lảm 
chúa lề đặng gần trọn . ca miền Bẳc-Kỳ phía đông. 
Sự thề như vậy cho người có phương mà sai một 
bộ sứ vô Sải-Gòn. Người xin quan thủy sư Bonard 



cứu giúp đặng hạ nhả Nguyền, vả hứa chịu dề cho 
người langsa bảo hộ. Lời ông Phụng xin bị bát đi, 
còn tờ giao ước lập nhằm mồng 5 juin1862 — ta 
cũng gần nói-, tới nó — thi đề cho đức hoàng đế 
Tự-Đức đặng thong thả mà tính việc người, nẻn cho 
người có thế mà đam cả quản sỉ mình ra Bẳc. 

ơ đày có một điều phải biết, là lúc nào ông Lê. 
Phụng mở chuyện tinh toán vơi quan thủy sư Bo- 
nard. Như nỏ nhẳm lối ngày triều đỉnh Huế bày việc 
cầu hoà, thời sự quan- thủy sự bất khằng đỏ đã minh 
giải. Trong mấy cuộc điều biũh theo cách chúng 
la đã thi hành, thòũ việc quốc chảnh theo lương tâm 
khôn dùng đăng, vả chăng, đảng chỉ ra cho ai nấy 
rỏ, trong thơ quyết (gởi nhằm mồng 6 mars 1863) nỏi 
về sự không hộ giao tờ ưỏ-c, thì quan thủy sư Bonarđ 
có hăm « giúp chúng ỉoạn tặc Bẳc-Kỷ;>. 

Ong Nguyền-Tri-Phương thống lảnh binh sỉ nhà 
vương tại Bắc,v người tiếp đảnh luôn khi thẳng khi 
bại cho tới năm 1865. Ong A. Launaỵ nói rằng : í Sau 
hết, vị tranh quờn bị thất nhiều trận cùng ở đặng 
tại tỉnh Quảng-Yên mà thôi ; vậy người mới quyết lòng 
liều mình làm thữ, người dam cảc binh tản xuống 
thuyền có ỷ vô Huế mà vây, lả đế kính nưỏ-c An-Nam 
cùng là chồ vua đỏng đô, người trông cậy rẳng, như 
được việc, thi hểtgiặc tức thì. Song hải đạobịbảohũy ■ 
tan, chính vì bồn thàn ngườiỊại bị giặc bầt mà giếtđi. » 
Có vài vị tiếc cho nước Langsa sao không xen vào 
mà gián vụ dấy loạn tại đất Bắc. Song biểt chủng ta có 
lý đặng mậ dự vô chăng? Khi xem trọn chuyện nầy, 
có khi chúng ta đã xét thấy lúc đỏ quân sĩ chúng ta 
không đông đủ mà chiếm xứ Nam-Kỷ, khó b cho an 
đặng trong mấy tỉnh đả soán, lại sự thề đơn sơ đả 
làm, trọn sáu tháng đầu trong nam 1862, cho nhieu 



— 40P — 


người ra lo sợ. Yậy các quan thủy sư không có thế 
mà rút bớt- binh trong đạo sai đi đảnh. Còn bên 
chảnh quốc, thường phải hỏi phải xin, chẳc khi đỏ 
có hỗi, song không chịu mỏ- phần đất chúng ta đã 
chiếm cử. ra cho rộng hom chút nào ; cũng có nhiều 
ngưỏ-i lại muốn cho cả và binh sĩ langsa rút về nữa. 
Vi bốn năm giặc giả cùng sự thề gay trở; xem dường 
bất thành, đã lảm cho nguồi ngoai cảc sự vui mừng. 
Chẳng có cuộc chiếm xứ địa hạt nào raả bẳt lưỏrng 
lự, cải lẽ với nhau nhiều hom là cuộc đó, lại như chúng 
ta ở lại dây, thì trào dinh Huế nói dạng chắc lả tại 
chính vi !ồijninh mà ra; sự họ vỏ tinh, kiêu ngạọ, 
thất ngôn, đó Jả mấy cớ thiệt làm cho chúng ta đến . 
lập giang sơn cơ nghiệp tại nước Đại-Nam nầy. 

Có lẻ quan thủy sưCharner lấy đặng vụ ông Phụng 
dấy loạn làm ưng ý lẳm, củng hứa một ít diều lấy có 
nữa, còn dự vảo cho thiệt tinh, thời có khi người không 
có ỷ dốc quyết hay là có quyền phép hơn là lúc trước 
ngưò-i cũng chẳng có ỷ mà xen vò cuộc nhả vương nước 
Cao-Man tranh đấu với nhau. Cách người trị nước 
lả dề lảm sao tự ý, song dòm hành cần thận các sự 
xảy tới, lại khi nảo cần kíp quá sức hay ỉà có diều 
thạnh lọ-i rỏ ràng, thi người mới dự đến mả thôi. 
Quan thủy sư Bonard không cỏ buộc minh túy theo 
cách ăn ở jpian Gharner tiền nhàm chút nào, nên người 
rảnh lo. Ắt thật, giặc ỏng Bhụng giúp người nhiều, 
vi nỏ làm cho triều dinh Huế phải tính toán, song 
bề quan thủy sư khó, có lẻ tại lời bên bộ truyền dụ 
mà ra, song dầu cách, nảo chẳc tại mấy diều dức vua 
Tự-Bức chịu trước làm cho người đừng tưởng tới 
sự dự vô chuyện BáoKỷ. Bề lưomg tấm cớ lẻ bị mất 
danh ti&ig một chút, song bề đồ cùộc dã cứu khỏi. 

27 



Thuở đó quàn sĩ langsa chằng khi nào mà ợ cho đậng 
trong cả và xứ. Bến sau có làm thử mới rỏ. Nước 
Langsa lúc ấy phải lo ve sự thạnh lợi minh hom hết ' 
thảỵ^mọi chuyện. Còn muốn cứu một nước nào, thường 
phải cửu nước minh trước đã. Vả chăng đó !à phương 
thế chẳc chẳn hơn hết đặng sau tới cứu giúp nước 
khác. Trong chuyện nầỵ, chẳng phải bêti. quaư thủy 
sư . Bonard quấy, song thật là nơi òng.Lê-Phụng mả 
thôi, vi lúc sơ khởi người không lo phương thể cho 
mạnh mẻ vừa đủ mà làm nẻn việc, một tin tưởng nước 
Langsa sẻ giản hòa, là sự hoặc đặng hoặc khòng. 
Chuyện người tính làm đó có viẻn thành là tại chiến 
thẳng mà thôi. Muốn cho nhà nưỏ-c langsa giúp, ngưộ-i 
phải đi vô Huế mà lảm như vậy cho q&yền phép nhà . 
Nguyền ra tranh giành đưọ-c ; bỏã khi đỏ nhà nước 
langsa muốn tính toán, nên cần biết cho chắc phải 
với ai. ồng Phụng đã khòng làm như vậy, người lại 
ở Bẳc-Kỳ cùng chịu cho người ta đảnh mình. Cách 
ăn ở quan thủy sư trúng lẻ và tủy theo bề ích lợi hài • 
nước dang hữu sự, là : tìại-Nam, Bại-Phảp.. 

Người ta hỏi đặng rằng, còn nước Espagnẹ có nhiều 
điều trượng tại xứ Bẳc-Kỷ hơn nước Langsa, vì cộ mấy 
hội giảng đạo với một tòa giám mục, vậy nước ấy • 
không lập cơ nghiệp ngoài đó đặng sao? Thật thì đặng 
chúc, song nưởc ấy phải cho có tiền bạc và binh gia 
là sự thuở ấy nỏ không có cho sẳn.*Lúc đỏ chẳng 
thiếu chi lòng ao ước, song cỏ khiếm khuyết là phương 
thế đặng lảm cho phỉ tinh ao ước đó mả thôi. 



— 411 — 

LÚC BÌNH AN NĂM 1862. 

TIIỦ TẠC VỚI NƯỚC CảO-MAN. NỒI LOẠN 
NĂM 1862-1863. LẨY (GÒ-CONG LẠI) 

tìề òng Lê-Phụng đánh thẳng tại Bảc-Kỷ, lúc nhơn 
dân Trung-Kỷ đang khôi Sự cĩói bởi bị tàu vâv, cùng ìà 
trí )ự vúa quan tại Huế nữa, mấv chuyện dó ở tại bộ . 
thuộc chung d'êu hay biết, nỏ hoá nén cơ trượng đặng 
tưởng có lẻ mà làm hoà. Bửi Vạy, lôi đầu tháng mai 
-1862, quan thống dốc mỡi sai chiếc tàu Fọrbin (có òng 
phó quan Iiămthủy Simon cai) chạy qua chạy lại trước 
Sồng Huế đặng làm hay lả chấp tlìàu mấy thề lộ về 
việc cầu hoà. Chiếc corvelle vừa dến noà, thời hai 
dàng đã khởi Sự bàn tính ; làu nầy trở về Sải-Gòn 
mà trả lời, thật thiếu lẻ, song có vừa dủ sự ao ưó-c 
tính toán, nèn quan thủy sư mói sai ông phó quan 
nàm Simon trở ra mà đem mấy điều buộc tiên dan 
nầy: 1° nội trong s ngày phải dóng trước l0U. f, 00 
quan tiền bằng bạc nẻn ; 2° trong 8 ngày phải sai sứ 
toàn quyền đến tại phao đất nước Langsa dã chiếm 
mà tính toán. 

Đỏ lhi)t lã thơ quyết. Triều dinh an-nam chịu. Bạc 
đỏng tất, lại qua ngày thử ba chiếc corvetíe Hầi-tìạc 
của nước An-Nạm kẽo cờ mỏ ra khỏi Sông Huế, có 
chở hai quan sứ Phan-Thanh-Giảng với Làm-Duy- 
Hiệp.-Chiếc Forbìn liền trao dày đỏi cho nó mà dác 
về SàìrGòn cho tới ngày 26 mai mới dến nơi. Tức thỉ 
hai bèn liền khởi sự Lính toán, sau xong xuôi hết ; qua 
mồng 5 juio, hai đàng có kí tên vào tơ ước buộc trong 
sáu tháng phải hộ giao. 

Theo tờ ước đỏ, nước Langsa vói nước Espagne 
lảnh tiền bồi. thường về giặc giả chung cùng nhau lả 



bốn triệu nguyên bạc, giao trả bằng bạc nẻn trong 
mười năm, mồi năm là một kì ; các hải môn Cữa-Hàn, 
Ba-Lác với Quảng-An phải mở ra cho nhơn dân hai 
nước tới lui bụỏn bản ; nước Langsa giữ lại cho minh 
ba tỉnh Sài-Gòìì, Biên-Hoà với Mỷ-Tho, cùng lả hòn 
Còn-Nòn nữa ; song như khi nào đirc hoàng đếĐại- 
Nam dẹp xong loạn lạc lúc đỏ hảy còn đang nhiều 
hại tại một ịt nơí trong đất chiếm cứ, thời phải giao 
thành Vĩnh-Long lại liền. 

Ngày 15 juin, quan thủy sư sai quan tản ìỷ người, 
là òng phó quan năm thủy tước tử De Lavaissiẻre dé 
Lavergne, đi chiếc Européen về dàng tờ ưó’C cho 
đức hoảng đế Napolẻòn y phê. Phần ông quan năm 
Paỉanca, người lại sai ỏng quan tư bộ Olábe, là tản 
lý người, đi chiếc Echo (thuộc về ông phó quan năm 
thủy Ganteaume quản đốc) đặng về với đức hoàng 
hạu nước Espagne mà làm một việc cũng y như vậy. 
Cuộc tách vời coi dường mau mẳng, song rủi òng phó 
quan năm thủy De Lavaissière dạy đi dưỏ ng tắc — là 
đường có vài chiếc tàu đò anglais mới khởi sự dùng — 
người phải lúc sóng gió và chịu các chuyện gay trở, 
nên chăm trề nhiều ngày mới qua tới cửa Aden, khi 
vừa đến dỏ, người bị huyết vựng mà bỏ minh. Nên 
ÒDg phó. quan năm Ganteaume phải dam iờ ưởc 'về 
nước Langsa. Người đậu tàu tại cửa $uez trong ngày 
1 2 aoùt, .rồi di xe lửa qua. hải khầu Alexandrie ma 
xuống chiếc Canada (thuộc về- chúa tảu Koắtang), 
sau về tới cựa Toulon nhẳm ngày 22 aoùt; đưò-ngđi 
tính đả 70 ngày. Qua 24 aoùt, người vào trại dề tập 
binh tại Chàlons vóú ông quan tư Olabe đặng dâng 
từ ước Sài-Gòn cho đức hoàng đế ngự lảm. 

ông De Grammọnt nói rằng : ồng phó quan năm 
Ganteaume lãnh tờ ước đã y phè mả trở -qua và tới 



— 413 — 


tại Nam-Kỷ trong lúc tháng novembrc 1862. Theo lời 
òng Via! nói, thời «ông Tricault, làm qùan năm thủy 
cùng lả tán lý quan thủy bộ thưọ-ng thơ, đem tờ ước 
cỏ đức hoảng đế kỷ tên qua xử Nam-Kỳ ; quan thủy 
sư De la Grandière cũng- đi một chuyến tàu dó mả 
lại dặng quyền thế eho quan thủy sư Bonarđ, bởi người 
xin về nghĩ ít tháng, vì đã chịu mỏi mệt quả đồi. > ông 
Vial không biên ra lả ngày nào, song theo chánh văn 
sách người, có lẽ định ông De la Grandière tới lối 
, đầu tháng mars 1863, đó lả một lời nói khác không 
ăn rập vói sự ông De Grammoot đã kê khai như vậy: 
« Quan thủy sư De la Grandiỏre xuất hành tại Paris 
nhẳm bửa 19 íévrier (sự như vậy lảm cho định chắc 
rằng ngưỏ-i qua tới Sải-Gòn lối 26 mars), người lãnh 
quyền nhíp mà lo các việc trong xứ địa hạt kề từ 
mồng một avril cùng trong lức quan thống lãnh 
khiếm điệm » 

Mồng 6 mars '1863, chiếc Forbin chạy ra Cửa-Hàn 
đặng cho triều dinh Huế hay chừng một tháng nữa 
các quan toàn quyền sẻ đến, cỏ dam tờ ước dã phè, 
lại «de trước như không chịu, thời sẻ khởi binh đánh 
lại mà chiếm đoạt ba tỉnh phía tây vả giúp loạn tặc 
tại Bẳc. y> (Vial). Lời buộc sau hết nầv đắc sách, 
nên qua ngày 14 avril 1863, hai đàng đồi tờ ước dã 
phè ưng cho nhau tại Huế (thượng dự ngày 15 juillet 
1863 dạy in tờ ước đó ra cho ai nẩy biết). Sau ta sẻ 
thuật lại sự hộ giao nầy,song trước hết nên nói về các 
chuyện biến đã xảy ra kề từ khi kí tên tò- ước cho tới 
ngày đồi tờ đã y phê, vỉ mấy chuyộnđỏ, sế dần giải 
cách nhà nước an-nam tri huởn châu phê tờ ước thề 
nào, như phải thiột rằng trong đó có sự chậm trề. 

Hản thật, ví bằng không đồi tờ đặng, thời sự phê 
ưng nào có ích chi dàụ. Nước Đại-Nam chẳng căn 



— m — 

clii mà lo cho gấp ho*n nưó*c Langsa, còn lúc đó quán 
thống đốc không đưỏmg điền khỉ thông tin vái Tây 
phương ( 1 ), uên người cỏ phép nài buộc là kề tử ngày 
ngưỏ-i biết đức, hoảng đế Napolẻon III đã y p hẻ mả 
thôi, nghĩa lả ngày tờ ưó*c phê ưng qua tỏi Sàỉ-Gòn. 
Nếu chuyện ông Yial thuật lại đó mà quả y như 
vậy, thi thiệt không có chi gọì là trề nải, còn Ỏng De 
Grammont lạinỏi khác nữa, Dầu cảch nào, thì cũng cỏ 
một điều thật có, là ngưừi an-nam đãđọ-i cho tái cùng. 

VI sao vậy? Bởi chưng triều (tinh Huế chẳng muốn 
tờ giao ước đó là cải mình túng thế quá phải chịu mà 
thôi. Bữa sau là mồng 5 juin 1862, quan thủy sư 
Bonard dạy rao truyền cho hết thảy cac ngưòậ dầu 
đảng dậy loạn biết tờ giao hoà đã chàu phẻ rồi, nên 
bây giờ họ phải tùng phục: song chẳng có một ai chịu 
cồi khi giái mình. Thật đức vua Tự-Dức cùng các quan 
thượng có truyền dạy chúng loạn tặc phải vâng cứ. 
Song mấy dấng đỏ có muốn cho thiên hạ cung phụng 
lời minh không ? Khi ông Phan-Thanh-Giảng vói ông 
Lâm-Duy-Hiệp kỉ lẻn xong, liền dời ra khỏi Sải-Gòn 
dặng dam tờ ước về Huề, thời triều lại sai ông Giãng 
vảo lảnh quyền thống đốc Vỉnh-Long (người q tại làng 
Long-Phụng (2), tọa lạc ngay trươc thành, bển me 
hữu Sồng Long-Hồ), còn ông Hiệp thì lảm tồng đốc tỉnh 
Binh-Thuận. Cả hai cỏ ra sức mả làm cho bình an lại. 
Mà biết có Ihật tinh chăng ? Ngưcri ta cố lề ,hồ nghi, 
bỡi vi phần việc hai ông ấy phụng lảnh là huởn đải 


(1) Các chuyện điền báo thông tin trưóe hết tử tại phưo-ng 
Tây mà qua xứ Thièn-Trúc kề từ năm 1869. 

(-) Năm 1887, mấy làng Long-Phụng, Thanh-Mỷ-Đông, Mỷ- 
Thỏ-i vỏ-i Mỷ-Tưomg đều sáp nhập lại mà làm ra làng Thiềng- 
Đức bìm tho-i. 



mọi chuyện mà chò- thời, cháu truyền cho các chánh 
đảng làm ngụy bỏ binh khí, song đề cho họ làm sao 
tự ý cùng giục họ dấy loạn nữa. Ong Phan-Thanh- 
Giảng là người minh mẳn, trí hoá cao sâu, tâm trung 
thuần hậu, ngưửi hiều biết tranh chiến vô ích, nên có 
lẻ muốn cho an hoà thật tinh, song nước người không 
muốn nhự vậy? Người có nải xin quan thủy sư đừng 
giục lốc sự gi, hứa rẳng mình sẽ làm cho chủng loạn 
tặc qui thuận. 

Quan thủy sư nghe mấy lời hứa thề ấy hạp vói điều 
• mình ao ưức, thi người tin dề lảm sao tự ý, lo sữa 
sang vả làm còng việc chung trong xứ. Có phỏng khai 
một cải kinh chạy vòng phía sau chùa Cây-Mai dề mà 
nõi rạch Arroyo-Chinois với rạch Thị-Nghè. Người 
ta khởi 'Sự dảo nó trong tháng novembre — song 
khòng tất thành bao giò*. Kinh đó dụng làm đường 
đi cùng đường cho mấy chiếc canonniẻrc đề tuần, 
còn đất đào ném vô phía trong có ỷ đặng làm vách 
thành lỏ-n dài dề ngăn dữ ( chừng G ngàn thưó'0 bề 
trường), song không dùng nó dược. Việc ấy xem ra 
làm khộng có dọ mặt đất trước, chẳng xem xét cuộc 
nước ĩớn nước ròng, không tính toán hẳn hòi chút 
nào, bằng chẳng lảm sao mả giải cho ra đặng sự vò 
dụng kinhây ? Chính vỉ trong thành cũng có đảo vải 
cái kinh khác đặng làm cho dất ra thanh khí và cho dề 
chỏ- chuyên, nó có ích tạm đỏ* mà thôi, Vỉ đến saụ 
người ta ph?u lấp nó di. Trong các chuyện nầy ngưò-i 
ta dùng chửng bốn muôn tên dàn đặhg mà cứu giúp 
họ cho qua thì cơ cần đang khởi sự nhiều hại. 

Phép xử đoủn cũng là một điều quan thủy sư lo lắng. 
Ong quan năm Aubaret mới diều cuốn luật an-nam 



ra chử laugsa, người lấy đỏ mả dùng cho xứng hạp 
với luật lệ vả phong tục chúng ta. Song sự sâp đặt 
cuộc hình chảnh là một chuyện tạo lập chưa viên 
thảnh, khôn đặng tuyệt hảo hảy còn lâu ngảy, trong 
việc đỏ (kề tử khi bỏ mấy quan quần đốc langsa), thì 
sự phân đoán gần đề trọn cho các viên quăn bồn 
quốc, song nhơn dân đặng phẻp kêu nái các quan 
đốc lý bồn quốc sự vụ, bỡi mấy ông nầy lo xử việc 
hình mà thổi. 

Tại nưởc Cao-Man, sự thề hảy còn lương khương. 

Đã mấy năm xứ ấy mắc phải hoặc nước Xiêm, hoặc 
nưỏ-c An-Nam luân phiên nhau mà bắt phục quyền 
mình và cai tri- Đang khi Sải-Gòn bị người ah-nam 
đánh dồn tới trong năm 1860, tbỉ triều Bangkok có 
báo tin cho hay rằng minh hòng sai một đạo binh đến 
tiếp cứu chúng ta, song cbẵng hề thấy đạo binh đố bao 
giờ. Về chuyện khác, người xiêm lại quả hơn người 
an-nam nữa, lả họ cảng trở òng De Montigny (1857) 
trong sự thù tạc véri vua An-Đuông, vậy nước Langsa 
không mầc họ ơn chi hết. Sau lại, người an-nam, ít 
thiết nghĩa với dân xiêm, khi thấy nước Cao-Man 
thoát khỏi tay minh, thỉ vội vả trao quyền mình đặng 
trong nước ấy lại cho chúng ta! 

Trong thảng septembre, quan thủy sư Bonard 
nhơn lúc huởn công chuyện, người cỏ. đi xuống tại 
Vỉnh-Long rồi lên Cao-Man. Ong Phan-Thanh-Giẳng . 
cỏ tiếp rước người cách trọng hậu và cho ngưòi biết 
rỏ các việcnước ấy. Có phải đó là bỡi ghét ngưòi xiêm, 
hay ỉà ông Phan trỏng tưởng làm cho chúng ta lâm 
điều rối khác chăng? Có lẻ hai chúyện ấy một lưọ-c. 

Nhưng vậy sự quả chẳc, là vua Norodom— có đửc 
thầy Miche khuyên bảo— cùng quan tướng xiệm đề ' 



gần người đều thết đảì quan thủy sư cách tử tế Jám, 
hai đấng ấy đều tưởng rằng mỉnh được việc. Ong 
Bonard biết minh đặng quờn phân xử và lảm chủ Sự 
thề.' Người tị không dự tới, cứ việc đi luôn cho đến 
cựu chỉ dền đế Thiên dế Thích. 


Khi quan thống đốc trở về Sài-Gòn, thì người phải 
biết cuộc mấy /Ìgười an-nam lảm giặc thề nảo, nó đã - 
không bó-t,lại cảng đe làm cho mất sự binh an trong xứ. 
Người ta biểt trước có nhiều chuyện trọng cũng.gần 
biến sanh, lụi chắc cỏ lẽ dức vua Tự-Đửc tri huởn 
châu phê tử ừớc đặng chờ cơ biến. Triều đinh 
đùng mọi chước mà chửa minh : nói không lẽ nhường 
đât Gò-Công đặng, vì là chồ có mồ mã ông bả đức 
hoàng thái hậu ; khòng chịu đề cho đi thông thương 
trong Sòng Khong; không chịu quyền quan thủy sư 
trong vụ lập tỏ- giao ưởc V. V. Khi tờ ước espaguol 
y phê lại tỏù, thi ông Phan-Thanh-Giảng trần tỏ rẳng, 
phài ít nữa lả một năm đặng sẳp đặt các chuyện cần 
kíp cho triều đinh Huế châu phẻ tờ giao. 

Chước léo quanh quẹo như vậy Jàm cho quan 
thống đốc lo áy náy. Trẻn nước Cao-Man nữa cũng có 
chuyện rối rầm sẩn sảng. Ong Ang-Sor, đầu mụccao- 
man, trước có nông sức dự vò trong chuyện phiến 
biến lúc vua An-Đuôngqua dời, nay người phải phe 
vua Norodom đuồi theo đánh bắt, nẻn dến tại phần 
đất chúng ta mà tị nạn, Người xièm xin nhà nước 
langsa bắt giao lại cho minh ; quan thủy sư có trả 
lời rỏ ràng không chịu. 

Mấy kẻ cướp phá vả chúng loạn ' tặc càng ngày 
càng tỏ minh dạn dỉ, củng làm dử hon trước? Đặng 
cho ỏng quản Bịnh dề tung hoành, vi người b| ông 
quan ba thủy Guys đi chiec canonnỉére Aỉarme ợ 



xa xa coi chừng coi .đồi, thi có một ông cai tồng kia 
ỏ- tại Bình-Thuận đảnh phá làm cho chúng ta đồi ỷ 
vả hủy tan một ít làng tại giáp giái phía đông. 

Nhưng vậy, -nhà nước an-nam lại trả nửa phần 
tiền năm dầu ve sự bồi thướng cuộc giặc giả, nghĩa 
là 200.000 đồng bạc, người ta phải ra tại Pha 11 - Ri mả 
lấy (nliẳm mồng 2 septembre 1862). Ngưò-i la củng 
còn tưởng đặng nhả nưó‘c an-nam thật lòng. Song các 
việc gần tiếp sanh, các chuyện biến hòhg tua đến dồn 
dập cùng lảm cho chúng ta chịu cơn tao loạn chung 
trong cả và xử. Sau Mỷ-Tho, Biên-Hoà, Bà-Rịa, 
Vỉnh-Long, hết thảy mấy chồ sanh sự kình chống nầy 
đều bị chinh phạt Vần lần, thì có một noi nghịch 
khác mới lập ra tại phần đất đã nhưò-ng, ià Gò- Công. 

Bỡi lúc sơ khởi không cỏ sức mà dẹp chuyộn dấy 
động Dầy cho yên, nẻn nó mỡi được thế mả tràn ra 
trong miền Gò-Công và hoá nên một chồ nghịch 
hung cưửng, nỏ gần làm cho hết thảy thiên hạ ra 
kinh tâm phả đảm. 

Ý quan thống đốc thật là muốn cho dứt chuyện 
với miền Gò-Công đó củng với òng quản Định là tay 
bất phục, song người biết mình không đủ sức, nèn 
mới vừa qua thảng octobre, thấy người đã xin chánh 
quốc gởi qua hai cơ batailỉonlinh bộ thuộc thủy; song 
loạn lạc khởi trước khi binh qua (vi có một bataillon 
độ lên Sài-Gòn lối dầu tháng janvier 1863, còn ba tai l- 
lon kia thi qua tháng íévrier mới tới mà thôi), nên 
người phải dụng quản sĩ người cỏ lúc đó mà chống cự 
dặng chờ binh tiếp. 

Bữa mồng 6 décembre .1862, chiếc lorcha đậu 
trong sòng Bến- Lức; phía dưới Tày-Ninh, bị nhiều 
chiếc thuyền có trí binh khí đến đánh ; bạn tàu kề 
đặng một ít người với năm tên lỉnh bộ thuộc thủy 



— 419 — 

cỏ chống trả cách mạnh mẻ lẳm, giết đặng vải mươi ’ 
người bên tiên chiến, nốn họ bỏ lại ba chiếc ghe mả 
lui đi mất. ông quan hai quản đốc chiếc lorcha 
bị thương. 

Ngây 12 dẻcembre, có một cái tờ ngoài Huế gởi 
vỏ, đề ngày mồng 2 novembre, rốt việc nó mới cho aị ; 
nấy rỏ chuyện quốc chánh người an-nam thề nào. Tò- 
ấỵ có mộtòng quan kia chức nhỏ đem nó vảo, rồi mau 
mau trỏ- vê không đựi phúc thơ. Triều đinh an-nam 
đòi tam tỉnh lại. 

Ngày 17, lối 4 giò- sáng, có 600 người an-nam tới 
đảnh thỉnh linh cơ compagnie lính bộ thuộc ihủy ở 
giửđồn Rạch-Tra. Khi ấy họ dẫ-bật đặng thang tre mà 
leo qua vách đồn. ông quan ba Thouroude với tên lính 
bộ Vidal liều minh chịu chết cách gan đởm mà chạy 
tới- đánh họ ; hai bèn xáp giết nhau đ.ặng một hồi, 
kê bên an-nam bỊ rượt ra khỏi vòng đồn. Nội ngàv 
3íy, hai chiếc lorcha đậu tại Bến-Lức phải bẳn đạn 
tạp nạp mà đuồi nhiều người dến đáúh; chuyến nầy 
có ông Trực, là người đốt chiếc Espérơnce, dĩ?n 
mấy tay lảm loạn. Cũng trong bữa dó, binh kị di 
thảm phía Long-Thanh có gặp vả đảnh đưồi một 
đạo quàn ngụy tính ngăn cảng chúng ta không cho 
thòng vỏũ Bà-Rịa. Tại Phưác-Thọ, có một phần hò' kia 
đặng ỒO lính bộ với vài tên mã kị bị chừng một ngàn 
người an-narh vây ; phần hờ đó có nghinh chiến, sau 
hết đuồi đặng nhò* có binh espagnoỉ đến tiếp cứu. ! 
Chính vi Bà-Rịa nữa, Tày-Ninh với bến tàu (lậu tại 
vàm Rạch Gò-Công đều bị gần mỗi , ngày mỗi đánh, 
còn ông quản Bịnh nay trở lại khiêừchiến trước. 

Ngày 18 dếcembre, có một chuyện trọng hơn nữa. 
Là trong dêrn đó phần hừ Thuộc-Nhiẻu, ở lối giữa 
Cày- Lậy và Mỷ-Tho, đặng 50 người ở thủ (òng quan 



ba Taboulé), b| chừng 1.200 quân ngụy đến đảnh,. 
Bặng một hồi, thi hai đàng xáp lộn với nhau, binh cố 
thủ gan đảm và tỉnh tàm đáng khen, «họ giết chết 
tại trận 217 mạng, còn người an-nam hăng quạ sức 
chẳng có khi nào như vậy, xem ra họ cỏ thề lòng 
quyết đuồi chúng ta ra khỏi Thuộc-Nhièu, hay tả bỏ 
thày tại đỏ mà thôi.» (De Grammont). Thầy đội Ragot 
thiệt anh hùng, thấy cỏ một vị súng đồng bẳn lẩm 
cho binh cố thủ thất thế, nên chạy tới giết chết hai 
têu bẳn nó, rồi vác nó lên vai mà đam vò chùa, là chồ 
có mấy tên lỉnh của người. 

Loạn lạc tràn tới gần Sài-Gòn. cỏ một ít bọn 
sắm sữa toan đánh lấy đỒn-Cá-Trê, kế họ bị tồng Thế 
chận tại Rạch Bàn. Từ ngày chiễm cứ cho tới khi ấy, 
chẳng có lúc nảo mà người an-nam tỏ sự hưng tâm 
như vậy. Các chuyện hây làm cho họ chết gần 2.000 
người, mà binh langsạ khônghao lả bao nhiêu. ÌNhưng 
vạy, dầu cho thẳng tạm mặc lòng, thì cũng pbải rán 
sức quá đoi ; nếu chịu một lần thử hai như thế thì 
chẳng phải là khòn ngoan. Nên rất cần cho cỏ binh 
tiếp tức thời. 

Khi ấy quan tbủy sư Bonard mới nhựt định xin 
binh viện ở tại bến tàu bên Trung-Quốc và bên chòm 
cù-lao.Philippines. Quan thụy sư Jaurès nghe theo mà 
đem qua một co* batailloh binh bộ phương Aírique 
ở thú tại Thượng- Hải với một phần trong cơ bataillon 
binh tírailleur algérien ; rồi người bẳt chiếc Sémỉra- 
mis với Chiếc Renommẻe đi qua cữa Manille mủ 
chở 800 người, thúộc về cơ rẻgiment thứ nàm lính 
tagal, của ôDg phó quan năm bộ Moscoso quản lầiih. 

Trong lúc đó cứ tiếp dấy động luôn. Mồng6janvier 
1863, có một chiếc lorcha kia bị đảnh ban ngày. Sự 
thề tại miền Bà-Rỉa, là chồ ông quan tư bộCoqũetcai 



quản, coi vọi muốn trở ra như sự thề tại Gò-Công. 
Dầu vậy, binh viện đã đến .gần đủ. Mồng 7 ĩẻvrier, 
quan thủy sư có tư tờ châu tri sau rốt cho các người 
lảm giặc, phương thếcỉó trúng lẻ; qua ngày 11 íẻvrier, 
người ta ra giá thủ cấp mấy đầu dảng dấy loạn, cách 
ấy bất nhom và vò ích, bắt chước an-nam. Người ta 
đã trách bọ về sự dùng cách dó, vậy sao còn bắt chước 
lảm chi ?. . . 

Lối giữa tháng íévrier, hết thảy quản sỉ đều qui ỉại 
đủ số. Ngày lb^quan thủy sư xuống miền Gò-Công, 
người ử đó đặngsẳp dặt các chuyện ản kíp mà đánh. 
Bữa 25, có một đạo colonne đoạt lấy lảng Đông-Sơn 
củng các hào lủỵ tại làng Vỉnh-Lọù. Trong đêm đó, 
quan thủy sự ở tàu Ondine mả ra hiệu lịnh, thời hết 
thảy binh sĩ đều dộ lên bò- cỏ quan tưó-ng Chaumont 
và ông quan năm Palanca làm đầu. Tấn binh hảm 
đánh các chồ thế quân nghịch cách mạnh mẻ lẳm. 
Khi người an-nam thấy mấy đạo colonne kéo chấu 
tới, thi họ liệng áo lính quần lính, khí giới, bỏ lại hết 
mà chạy trốn tứ hướng. Nên nói đặng dường như 
chằng có cự địch lại chút nào. Quan thủy sư.Jaurés 
có cho vày giữ các đảng nước ; dầu cằn thân thề ấy, 
thi cũng có một phần nhiều ngụy đảng thoát khỏi, lại 
trong đám dó. cỏ ồng quản Định. 

Dày ta xin nhắc lại mả khen cảch ăn ỏ cư bataillon 
thứ nhữt linh bồn quốc. Sự họ trung tin, giỏi giắn, 
không hề khi nào mà ai chối cải, nên cách ít lâu quan 
thủy sư De la Grandiẻre mới cho họ một cày cỏ- có 
dề hiệu bẳng chử tàu với ch ử iangsa như vậy : Nam- 
Kỳ langsaịataỉllon thừ nhứt tính bòn quốc , Chỉ- 
Hoá, Mỷ-Tho, Bà-Rịa, Phvrớc-Lộc, Gỏ-Công. 

Khi lấỵ Gò-Công lại rồi thì khắp no-i mau binh yên 



như trước. Đặng lảm cho mấy kẻ bất binh hết ao 
ước khuấy rối lại nữa, thời -cỗ ra điều luật nhặtnhiệm 
iẳỊn : t° Xử tử cảc chánh đảng đấy loạn và tịch phong 
gia tải. 2° Thâu trọn thuế đã thiếu về năm 1862. 3° 
Nộp các thứ hung khi. 4° Buộc công xâu chung trong 
nhcrn đàn đặng làm đường và phá đồn lỗy. 5° Bắt 
mấy người thanh khách ở Gò-Cỏng phải trả một phần 
tiền về sự hao tốn vụ giặc giả. 

Hết thảy các việc hành birih cùng hết thảy các ỉủc 
loạn tặc đánh phá đó khồng ngăn trử đặng quan 
thống đốc về sự tiếp lo sữa sang trong xứ. Vi lời nghị 
ngày mồng y janvier 1863, ngưòi bày ra các điều cội 
rề trong việc trị dàn tại địa hạt nầy, là lập hàng quan * 
đốc lý bồn quốc sự vụ (căn nguyên các quan tham 
biện kim thời), nó cỏ ba hạng. Lúc chúng la mới dựng 
cơ nghiệp tại Sải-Gòn, thi sở Thơ tín đã phân riêng ra 
không còn nhập với sở Thơ tín cùng Ngàn khố thuộc 
về đạo binh Trung-Quốc nửa, song nó không giúp cho 
kham như trước về những chuyện thương mải và 
nhơn dàn cần dùng. Lời nghị ngày 13 janvier (sau có 
ra lời 'nghị ngầy mồng 2 juiu 1863 mà sữa nó lại) dạy 
tạo lập một sở Thơ tín cho cả và địa hạt, song nỏ lại 
ăn thuộc vỏả sỏ" Ngàn khố. 

Theo hai lòi nghị ngày 17 octobre 1861 với ngày 
12 aoùt 1862, thi các người thanh khách trong đ|a 
hạt được hiệp lại mả lảm ra bang. Có một lời nghị 
khác nhằm mồng 4 février!863 cho lập thêm ba bang 
vả định phận sự mấy kẻ làm dầu, tương tự như các 
xả trưởng an-nam. 

Quan thủy sư Bonard cũng có lo chuyện dạy chử 
nhu nữa. Người tái lập cuộc thi cử cho hàng nho sỉ. 



Trong V người tưởng mấy việc sẳp đặt đó phải lảm 
cho chúng ta chắc đặng sự dời đồi cần kíp về sự thề 
mả lo qua vụ dạy dồ theo cách tày. Hại thay cho chuyện 
ấy, vi người ta khổng ỉảm tiếp, lại cũng không hiều 
ỷ quan thủy sư nữa, nên lời nghị cũa người ra bất cử. 

Ba chồ lập khác được việc ho*n, là trường tu sẻ- 
minaire. tại Sải-£ỏn, nhà phước Saint-Enfance vả 
trường d’Adran, vi chẳng bao láu thấy cỏ hộc trò cảc 
nơi tuôn đến. Sau hết, Dgười có lo phương thế mà 
lảm cho nhơn dân an-nam đưọ-c gia viên điền sần 
minh cho chắc chắn. 

Tử khỉ chúng loạu tặc đào tán rồi vả trong xứ đặng 
binh an lại, thì 'mấy toán binh đông không còn cân 
đùng cholẳm. Nên lính bộởThượng-Hải mà qua củng 
hỏng cho về, còn binh giao lân với chúng ta, bỡi gần 
hộ giao tờ ước, thi công chuyện họ cũng tất thành nưa. 
Bữa 31 mars, quan thủy sư Bonard cỏ tặng khen mà 
tử biệt quân sỉ espagnol vả đạo binh langsa. Toán 
binh espagnol vói khi giỏ i, bọn điều hộ và tốp lo việc 
binh lương đều xuống chiếc Européen mà ra khỏi 
Sải-Gòn nhằm mồng một avril 1863 đặng trở về 
Manille. 

ông quan năm Palanca củng một ít quan vỏ es- 
paguol ở lại mả thòi. Mấy ông ấy phải ra Huế với 
quan thủy sư Bonard như ta sẻ nói sau nầy. 

Bày giỏ- chúng ta hảy kề lại việc đại khái của quan 
thủy sư Bonarđ làm trong lúc người hành chánh : là 
hộ gỉao tờ ước tại Huế. Theo lời.ôiìg Vial nói rằng, 
chiếc Porbiix khai hành nhằm mồng 6 mars, đặng 
. cho hay trưửc phải y phê tờ ưỏ-e tức thời. Ngày 15, 
triều dinh xin ki lại một lần sau bết, là một thảng, vì 



raẳt-lo lề tế nam giao. Nhà nưó*c langsà khôòg chịu, 
nên qua mồng một avril, chiếc Forbin khi ấy đã 
trở về Sài-Gòn, có nrởc ông Phan-Thanh-Giảng, ông 
Lảm-Duỵ-Hiệp^cùng là ông quan ba thủy Amiraúlt 
và ông quan hai bộ espagnol Illana lảrih việc theo 
giữ phương vật của đức hoàng đế Napoléon Ilỉ vỏã 
đức hoàng hậu Isabelle lt gởi đàng cho dửc hoảng 
dế Tự-Đức. Qua mồng 3 avril, chinh vi quan thủy sư 
Bonard xuốhg chiếc írégaté Sẻmiramis, ỗr dưới đã 
có quan thủy sư Jaùrès, cơ bataillon lính bộ trử về 
Thượng-Hâi (1) vói bộ sứ langsa. Chiếc, corvẹtte Cos- 
mao chạy hơijChiếc Grenada và chiếc corvette Circé 
ờ bên chòm cù-lao Philippines về VỚỊ bộ sứ espagnol 
đều di theo chiếc írégate. 

Ngày mồng 5 avril, người ta dậu tại vịnh Cữa-Hàn, 
cũng nội bữa đó quan thủy sơ taurès đi thẳng qua 
Thưọ-ng-Hải. Khi người từ giả quan thủy sư Bonard 
thì người cỏ tồra 'lòng lo sợ cho quan ấy, lại người 
la chắc rằng, lúc trở về tàu, người cỏ nói mỉnh e 
không còn thấy ông Bonard nữa. Vốn thật, hai 
quan toàn quyền, mấy quan vỏ hộ tùng với năm 
mươi linh hộ vệ phải đưa lên Huế, thời khòng gọi 
lả chi trong tay người an-nam, là kẻ tiền thủ. Chuyện 
phục binh bữa 18-septembré 1860 nơi đường Bẳc- 
Kinh hây còn ràng ràng trong trí nhiều người, song 
cáo báo hậu hoạn thật vô ích, bởi mấy quan toàn quyền 
có lo khen ngợi cuộc nghinh tiếp mà thôi. 

Bữa mồng 6, các quan lên bò*. Mồng 7 thượng 
kinh, có 300 lỉnh ‘bộ an-Qàm vửi 400 quân khiêu phu 
fhộ tống. Mồng 10, hai đạo sứ tói Huế. Khi ra mẳt- 

(1) Linh tiraiHeur algérien còn ở lại Sài-Gòn, đặng ít lâu mứi . 
trở về Đại-Pháp. 



— m - • 

cảc quan theo phẻp xong rồi, thi trong mây bữa 13 
với 14 avríl, hai đảng có hộ giao tờ trtỳc đã y phê. 
Ngày 15 nhằm ngày ông Lâm-Duỵ-Hiệp qua đời, thật 
đáng thương tiếc lắm, ngưỏi là một vị tròng hai quan 
toảnquyền an-nam.Ngườibị thiên thởi cỏ vài giờ mà 
bỏ minh. Bữa 16, đửc hoảng đế Tự-Bức yết kiến hai 
bộ sử. 

Chiều ngày 18, cảc quan sử lo thanh chuyện mình 
cung phụng, nên xuống thuyền rồng mà trở ra Cữa- 
Hản. Rạng ngày 19, qúan quản đều xuống chiếc 
Grenada, rồi cung nội bữa đỏ nỏ lui, sau tới Sài-Gỏn 
nhằm 22' avril. 

Khỉ quan thủy sư Bonard về đến Sảì-Gòn, người bèn 
phủ việc hành chánh trong xử cho quan thủy sư De 
la Grandière, bổ-i lao tâm quá đồi vị việc công và lo 
ngại cho sự mình cai trị mà ra. Bữa 30 avril, người 
giả từ các quan tựu tại phòng khách nơi dinh vả dam 
ra mẳt các quan đấng thế quyền cho người. 

Qua mồng một mai 1863, quan thủy sư Bonard 
xuống tảu đò hảng Messageries ĩmpériales với ông 
quan năm Reboul, là tản lý người, ông Buge, là quan 
ba thủy lậm trưởng sữ, ông Au baret, lả phó quan năm 
thủy lành chức đốc lý bồn quốc sự vụ và ông quan 
nảm thủy Tricault, trưởng sử qũan thủy bộ thượng 
thơ. <r Người trông cậy trở lại Nam-Kỳ đặng tiếp lo 
cbo viên thảnh chuyện cã thề người đả tinh làm ; 
soíig người không thầy đặng lại xử địa hạt lả nơi 
người làm quan thống đốc trước hết. Ngơỏi lâm 
b|nh kia mau phát nặng, bởi việc lảm quá đồi, mảng 
rin Ịsửc la lắng luôn luon, tại thiệt ddog trí sằe ít cộ 
qua mực, nên nộ làm. cho người có vài tháng phải bỏ 
minh. r(Vial). 

2 * 



4 


— m — 

<axrX3ST ^THƯY SÍT* 

Z>E OEị-A.lTr>XỂỈItS: 

Sự the trong xử. Saỉ một bộ sứ an-nam qua 
Parìs. — Bảo hộ mtởc Cao-Man.— Sự thề tròng 
xừ — Đạo sứ an-nam ở tại Paris cùng khi trở 
ưề:— Ông quản Định khuất trần. 

sự THỂ TRONG xứ 

SAI BỘ sứ AN-NAM QUA PARIS 
Vậy tờ ưỏ*c lập nhằm ngày mồng 5juin4862 dã 
chàu phè hoàn thành. Triền đinh Huế y phê nỏ cách 
trọng thề lẳm, mà nhưng vậy bả quan lại càng ít bằng 
lòng hơn nữa. Các mưu mật thế thần trước đều 
dụng lại. Xong chuyện Gò-Còng rồi, thời cảc người 
làm loạn dã bị phá vỡ tan hết, song có.bắy nhiêu 
đó mà thôi ; tóm lại, họ hao có một it người. Mà 
bởi triều đình xúi giục 'và giúp nữa, nên họ tái 
lập từ tốp nhỏ nơi giáp cãnh Binh-Thuận, tại . mấy 
miên sình nằy khó đi nơi cữa Đại Giang và trảng 
Plaine des Joncs (bưn Tháp-Mườì), trong các tỉnh 
phía tày, sau hết chung quanh dịa hạt chÚDg ta nửa, 
Khi sự thề trong xứ phải ra thái bình và chắc ỷ, 
thì quan thủy sư. De la Grandière, quyền nhíp cho 
quan thống đốc, lại gặp thế cuộc kia gay trở lạ 
thường. Ong Phan-Thanh-Giảng ở Huế dã về vởi các 
bộ sử, người trỏ- lại chồ ngưòi trấn nhậm tại tĩnh 
Yỉnh-Long kề từ ngày 25 avril, mà đợi nhả nưỏ-c 
langsa giao thành iại cbo người ; ỏng ấy có làm hết 
sửc mình— ít nữa là bề ngoài— đặng cho bình yên 
lại, song ông quấn Bịnh siêng sắng hơn, nhơn dân 
càng kieng sợ hơn trước, gạt người và làm khác lời 
ngươi khuyên bão. Chúa đảng ngụy nầy do theo một 


% 



427 — 


thứ binh thơ đồ trận kia, chắc lả của chíũh vi triều 
đinh chĩ vẻ, nên mỏ*i phân cách chuyện mình với 
chuyện các quan ; như vậy thi mấy quan nầy có lẽ từ 
chối người mả không hại chi, bởi đó ông Phan-Thanh- 
Giảng mỏi viết đặng thư cho quan thủy sư mà nói 
rằng, tẻn Định đó là một thằng gian trá phải giết 
quách nỏ đi, song người quên điều cần nhứt, ỉà : phải 
dụng thế chi mả bắt ông ấy. 

Phần thi bị chúng loạn tặc, phần khác thiên hạ 
eử đồn vang rằng chúng ta gần' trả lại cho nưức 
Bại-Nam ba lĩnh.dả nhường, sau hết lại nghe ngàm 
đe, khi quân sỉ langsa rúL về, thì mấy kẻ nào đả 
cbịu chó chúng cai trị sẻ bị báo thù dữ tọ-n, nên 
mấy chuyện ấy làm cho nhơn dân ra lo sợ hơn nửa. 
Cung phải nói rằng đức hoảng đế Tự-Bữc có tính, khi 
hộ giao xong tờ ước, sẻ sai một bộ sứ an-nam qua 
đế kinh Paris, nên sự ấy làm cho ai nấy lường sề 
tính toản lại, bằng chẳng thỏ-i là xin nhã nước langsa 
nhưò-ngtrọn phần đất chủng ta (iả chiếm lại cho minh. 

Nhưng vậy các diều kề trong tờ ước dều có thi hành . 
Bữa 25 mai, ông Phan-Thanh-Giảng nhập thành mà 
ở, là chỗ ông quan nảm D’Ariẻs phải vâng mạng giao 
lại chó người. Bó là một chuyện thắng trận vinh vang 
bao nhiêư cho quan thưọmg an-nam, thi cũng bấy 
nhiêu cho những ngưò-l bỗn tho nào đã thấy trước 
rẳng các thảnh bỊ chiếm sẽ lai soán. Khi ở yên rồi, 
quan đại thần an-nam vả ông quan nàm thủy langsa ca 
hai đều trở lên Sải-Gòn ; ông Pha n-Thanh- Giảng cỏ 
cảm ơn quan * hủy sư De la Grandiẻre, rồi qua mồng 
2 juin, ngưỏ-i xuống chiếc Echo mà trở về Hue 
đặng thọdệnb vua truyền dạy thề nào. 

Bưạ ịụin im, quan cựu tống dốc Vĩnh-Long, 
lả ống Trương-Yăn-lluyền, ừ Huể vô tới Sài-Gòn, 



- 428 - 

đặng đáo nhậm chS xưa, song thiên hạ lại cảng ỉt 
muốn cho rigứối trồ* lậi đó hứá trirửc. s^hi&chăn 
dân theo tình phụ tử vả thanh liềm, của Ộ0& Pháìí- 
Thanh-Giẵng với cảch caí tri vì tư- lọi cồng ĩạíh tahg 
của ỏng Huyền khi mỏ-i vửa phó lị, thi ngừửí an- 
nam lấy lảm chói nhau quá đỗi. 

Mấy chuyện ông Phan-Thanh-Giẳng hòiíg phụng 
lãnh không chỉ về vụ cai trị tam tinh Naiii-Kỷ, song 
là mấy điều đức hoàng đế Đại-Nam cùng các quan 
đại thần muốn dạy bảo đạo sứ đặng kíp sai quà Đại- 
Pháp. Bình thần ao ưỏ-c chuộc ba tình đã nhường 
lại hết sức, dẫu cho phải tốn nặng cách nào cũng chỊu, 
(người ta nói cho tới một trăm triệu góc tư tày, lả 
số cả thề quả cho một xứ khống có tu chinh cuộc 
tiền bạc cho thật). Ngoài lý sự quốc chánh và lỷ sự 
mạnh mẽ chỉ về vụ chế độ trong gia quốc — vi xử 
Nam-Kỳ cũng như một lầm lúa kia rất yếu cằn cho 
phần nước An-Nam còn dư lại — thi còn có một lỷ 
sự khác, thuộc về chuyện tứ, nó trọng cho đửc hoàng 
dế Tự-Đửc vả thích lý người mả thòi, mả nỏ trọng quá 
mực, lả : mả mồ trong tôn thất người. Bả hoàng 
thái hậu sinh tại Gò-Công, còn đức thải hoàng thải 
hậu thò-i tại Thủ-Bức (tỉnh Gia-Đ|nh). Trong hai chỗ 
đỏ nhả vưo-ng đều có mồ mã. Trong chuyện danh 
tiếng ròng và thường nầy,thấy cỏ một điều chí thiết' hom 
ăn nhập vứi nó, là sự phụng tự tiên nhom. Dầu người 
an-nam thuộc về bực nảo, củng đồng tỏ lòng cung 
kỉnh tận tinh những người lớn mỉnh đã khưấttrần, họ 
chẳng hề quên, lại cả và đời hằng giao thông với mấy 
vong linh ấy ; nên bị ép bỏ mả mồ trong thân di,- thỉ 
là một sự làm cho họ thiệt hại quá đối, khôn đền bồi 
lại đặng. Vậy ngưởi ta mói dề mà hiếu chuyện đức 



hoàng đế Tự-Bức đã xức thần lực lả dường bao, đặng 
cho GỌ Ịại sự người đã mất bổi lỗi người và lối các 
qụan thượng mà ra — ngoại trừ ông Phan-Thanh- 
Gịẵng (1) mà thôi. 

Bộ sự kề là một ổng chánh sử Phan-Thanh-Giảng, 
một ỏng phố sứ Phạm-Phú-Thừa, một ông bồi sứ 
Ngụy-fihắc-Bản vói một bọn hộ tùng đông, hiệp cọng 
là 62 vị, hết thảy đều dặng đức vua Tự-Đưc ban cho 
mặc sậcphục mỏi. Bạo sứ cũng có đam theo 68 bao 
hay ỉả thủng đồ thưụ-ng tiến, một cái kiệu, bốn cây 
tàng, trong số đỏ có 24 bao đề cho nưức Espagne, 
cỏn chỉ tồn bao nhiêu cho nưức Langsa. Bạo sứ cũng 
cỏ dam theo, về đồ đạc vả của ăn đề cho mình dùng, 
tỉnh rièng đặng 600 thùng hay là bao. . 

Cuối thảng juirC chiếc Echo trỏ* ra Cữa-Hàn đặng 
rưởc bộ sứ, qua mồng 4 juìllet 1863, CẲC quan xuồng 
tàu Européen mà đi qua Đại-Pháp. ông Rìeunier, 
lảm quan ba thủy cùng lả trưởng sử quan thống 
đốc, lãnh đem sứ đi ; lúc trước quan nầy có dự vô cuộc 
hành quản kề từ ngày lấy đụng Cữa-Hàn, nên người 
biết nhom dân và biết đất nước an-nam thề nào. Ta 
xin đề cho các sứ trầy với, đặng dảnh lại sau hãy 
thuật ỉại mẳy việc họ phụng mạng thi hành khi họ 
về tcd Sải-Gỏn (nhắm 18 mars 1864). 

BẲO Hộ Nước CAO-MAN 

Thuở, chủng ta sang đến Sài-Gỏn, thi nưức Cao- 
Man là chư hầu và phải cống sứ chò v ngưỏi xiêm 

i (i) cK&Ịịgịặc dấy ra trpng hai nưức Langsa vói An-Nam, thỉ 
cò vgvỏi dảm bản luận việc giao hoà mả ỉhdi, song 

vdỉcín* (Luro). 



— 430 — 


và cho người an-nạm nữa, song khâm phục gần Irọn 
qùyền Xiêm quốc mả thôi. Có một vi quan krn kia 
thay mặc cho triều đình Bangkok đến ở tại thảnh 
0-Bông mả hành chảnh. Qua năm 1810, nưỏx Xiêm 
soản đoạt hai tỉnh Angkor với Battambang, nói rằng 
!à của vua Ang-Eng lúc trước đã cho minh, mà đảp 
ơn minh cửu giúp. khi vua ấy lên ngồi (1795). Người 
xiêm đã không phỉ tình về sự chiếm thàu hai tĩnh đỏ, 
họ cỏn ehoán thêm hai tỉnh Toulẻ-Repou và Moưley- 
Prey nữa mà không có điều chi chửng quyền ; vã 
chăng, xem ra họ lại nhứt quyết lảm ngang lấy đất 
thêm mà sảp nhập luôn, vốn thật, khi trưó-c vua No- 
rodom có nhờ họ mả trở về kinh thành O-Đông, song 
đó không phải lả cớ đặng mà bão thủ tài mạng người, 
là sự ‘cải các quyền phép người và đe lấy lần lần 
hểuhảy mấy tỉnh. Có lẽ vuaNorodom muốn cho khỏi 
người xiêm ; có khi người đã tưỡngtới nước Langsa, 
cùng sự bảo hộ ít đòi buộc hơn nhiều, có ứếng 
nhiều hơn là có thật, song cũng còn phải cho chẳc 
ý, vi nếu sơ sẫy nó sẽ làm cho người mất nước. Nên 
người phải chờ thò*i. Người đợi như vậy không phải 
luống công đâu. 

Cỏ lẻ quan thủy sư De la Grandière đã có quan thủy 
sư Bonard khuyên bảo, lại cũng cỏ khi là tại mấy lời 
dụ quan tước hầu De Chasseloup-Laubat gởi qua 
trước (từ tư nhẳra ngày 18 avril 1863), nèn lúc mỏi 
đáo nhậm, thỉ ngựời đã tưởng tới sự cho kẻ dọ ỷ 
vua nước Cao-Man thề nào và toan lo trước. Cỏ một 
dịp kia thiệt là tự nhiên xảy tói. Lả đức vua Norođom 
mới cảm mạo se da, lại có một bệnh tề kia phát nhẹ 
tại Ponhẻa-Lunữa (chồ đức thầy Miche ở). Quan thủy 
sư liền vội vả sai quan lựơng y Hennecart lèn Ồ-Rông, 


» , 



r 


- 431 - — 

quan ấy biết tiếng cao-man, vỉ có học nó trọn ỉúc 
người ở tạiTày-Ninh. Vua mau lành đả, nên đem lòng 
thương mến quan lương y langsa, thi sau sự như 
vậy sẻ ỉày qua cho chính vi nước Bại-Pháp. 

Cách ít lâu, quan thủy sư biết ổng quan ba thủy 
Doudart đe Lagrée lả người cỏ tài ma tính xong một 
việc khó, nên sai ỏng ấy lên Cao-Man với chiếc Gia- 
Đinh, lả tàu canonniẻre chạy hơi có chở 28 người. 
Bửa 1 8 avril, ông Douđart de Lagrée lảnh mấy điều, 
quan thủy sư dặn bảo rồi khai hành, người thọ chức 
quãn đốc bến tàu nước Cao-Man, song thật tình được 
thorìg thả mọi bề mà định liệu. Tiểng thi gọi ông 
quan năm thủy D’Àriès là quan cai người, chớ quan 
ấỵ có cho người biết rằng minh đễ cho người thong 
thả mà lo việc quốc chánh theo ỷ ngưòù, và thòng tin 
đặng với quan thống đốc. 

Ong De Lagrẻe qua xử địa hạt nầy lối đầu năm 1863 
mà thôi, nên chưa biều cách quỉ quyệt người phương 
Đông, và chuyện phớm phỉnh di truyền các sử sự 
cảnh Cùng-Bông nầy thề nào, song người .biết thế làm 
cho minh mau rỏ. Bởi vậy, dầu cho mẳc phải chước 
• lẻo quan khàm sứ xiêm, người cũng chóng đặng vua 
Norodom tin cậy minh. Vừa qua ngày 18 juin 1863, 
người có viết thơ cho quan thủy sư De la Grandière 
mà rằng : « fìửc vua sẳng lòng chịu, song chớ đễ cho 
ngải mắc phải oai quyền khác; hề ngài cho sự gi, thì 
phải lấy đi, rồi đừng nói tới nó nữa. » 

Quan thống đốc hiều biết lúc ra tay đã tới, nên 
khi đạo sứ an-nam đi đặng một ít ngày, người bèn 
lên Cao-Man, song lúc đi qua, người cố. triện lại mả 
. viếng quan tồng đốc Vĩnh-Long^ Mồng 9 aoùt 1863, 
quạạ thậy sư đến tại Ô-Bông, là nơi vua Norodom 
ngbỊniị-tìếp ngưòả cảch sang trọng lẳm. cả hai nghị 

' ? ' ĩ' ị~ ' 



- m - 


luận vM nhau qhíều phen,son^ chẳng cỏ ngứM nảo 
khác chầu gần, có một mình đức thầy Miche thông 
ngôn mả thôi. Quan thống đốc Nam-Kỷ cỏ dam theo 
một tờ sơ ước. ' Ngưòi có lảm cho vua cao-man tin 
đặng mấy chụỵện ích lợi gần xảy đến cho vua ấy ; 
qua ngày 11 aoùt 1863, vua Norodom cỏ ưng thuận 
giao ước đề cho nước Langsa bảo hộ nưửe Gao-Man, 
lại cho thèm một miếng đất tại Nam-Vang (Poỉnte de 
la Đoaane) đặng đề lập một kho trữ hảng với một 
cải đồn. , 

Về sự chế độ trong quốc gia, thỉ nưó-c Cao-Man 
thiệt dại ich cho kê nào đặng miền trung chầu Sôog 
Khong, vì nó ỏ- nối theo và phụ thêm cho -đù cuộc. 
Như không có nước Cao-Man, việc buôn bản vói 
mĩền trên lả mặc may mà thòi, củng cỏ lẻ dề cho nỏ dồ 
qua Bangkok đặnglẳm, Khi ngưò-i xiêm, là kê cầm 
quyền cã tại O-Bông, mà cỏ mặttặi đỏ, thi chẳng bao 
lâu sự thề ra khó chịu và không khỏi lảm cbõ hậu 
nhựt cuộc thương mải địa hạt chúng ta ra hiềm nghèo 
lẳm. Bến sau, các chuyện biến sanh — mả mới đây 
cũng đã có rồi — sẻ tỏ cho chúng ta thấy nhiều lần. 

Khi tờ ước ký tên xong, quan thủy sư De la Gran- 
diẻre bèn trỏr về Sài-Gòn. Lúc ấy người an tàm, còn 
vua Norodom không phải như vậy. Quán khàm sử 
xiêm, tên lả Phnea-Rat, có dùng các thế mả lảm cho 
vua bỏ tưởng tời sự giao ước ; phần khác, triều đinh 
Bangkok lại cho sử phán phô lung lẳm đặng mà ngăn 
trờ đức hoảng để Napoléon về sự y phê tờ giạo. Sau 
hết, ông Phnea-Rat lấy một lề mạnh kia ở tại cẫnh 
Củng-Đông nầy mà dùng, lả người hứa gỏi sắc hiệu 
ở bên Bangkok qua. cbo vua Norodom vả tôn người tại 
O-Bồng-tửe thò-i (vi lúc ấy chưa cỏ lề phong vừơng). 



-433 ~ 


ông De Lagrẻe cỏ bảo tin cho quan thủy .sư hay về 
mấy mưu chước đó, thi người bồn sai một chiếc canon- 
niẻre thử hai (ông quan ba thủy Saintyvẹs) và dạy 
cho nhà nưởc xièm hay rằng, minh sẻ dụng binh mà 
chống lại với bất kỷ lả chuyện chi chỉ về quờn 
thượng vỊ tại Cao-Man. Sắc ấn và lề tôn đều ngưng 
lại đỏ. Song ông Phqea-Rat cứ dụng mưu kia kế nọ 
luôn,nên mới iảm cho đồi đặng lòng tốt vua Norodom. 
Cỏ một chuyện tình cừ kia đảng phiền dấy ra, lả có 
một ít' tên lính thủy say leo cửa rào chung quanh 
đền mả vò rượt mấy nàng cỏng-chúa thanh niên, nèn 
làm cho vua hềm ghẻt người langsa quả sức. Lúc tảm 
tri vua đang như vậy, thi qua mồng một dẻcembre 
1863, ông Phnea-Rat xin ngưòi đóng ngọc ấn vò tử 
ước đề cho Xiêm quốc bảo hộ, mả nhưng vậy nước ấy 
lại lảm cho vua Norođom ..còn như một vi nguyên 
soái xiêm thường kia mà thòi ! 

Nội ngày ấy, quan khảm sử xiêm dam tờ giao trở 
về Bđngkok, trong đó có mấy điều buộc tùng phục 
!ạ lủng, củng ra nhọ thề cho nưó*c Cao-Man. Ong 
De Lagrée chưa hay chút chi về tờ ước đó, nhưng vậy 
lòng người bẳt nghi nan. Sự ỏng Phnea-Rat di không 
theo lẻ thường thì nó cho người biết có nhiều chuyện 
trọng đả biến sanh. Nên người mới khuyên vua theo 
sức mình. 

Lối cuối năm, thiên hạ mới biết rằng gần có lề tôn 
vưưng. Cảng nỏ đi thỉ rất khó, dầu bề nào cũng lả 
lếu quả, song có lẻ làm cho nó mất oai thề chĩ về 
quyền thượng vị Xiêm quốc. Bởi đó quan thủy sư mỏi 
dặn bảo ồng Doudart de Lagrée làm theo cách ấy. 
vỀÍ Nhưng- Vậy, lễ tôn cung không có một lần nữa. Bữa 22 
^^..:já^vĩer;tậ64,:khi hộ giao xong tờ ơớcxiẻm-cao-raan, 



thấy ông Phnea-Rat cớ thượng ngạn tại ỈUmpot, 
song khỏng sắc hiệu, vi vậy tại O-tìông mỏi bảy ra 
một lễ thưởng kia mả thôi, sự ấy phởm phĩnh lòng 
vua tròng ưởc biết lả ngẳn nào. 

Ong Phnea-Rat vâng theo lời nhà nườc mình dạy 
mả cho vua Norodom biết rằng, ngưò*i phải sang 
qua Bangkok, ỏ* đó mới lảnh đặng sẳc hiệu quỉ trọng 
mả thôi. hời đó lảm cho vua mè say !ả như vậy, nên 
người mới nhứt quyết tảch dặm băng ngản. Oug 
Doudart de Lagrẻe rản sức cảng cuộc đi đó, mà không 
được ; người lấy mọi lẽ trưng ra, cùng hàm cho binh 
chiếm soán các thành lớn tại nưó*c Caố-Man nữa, thì 
vua Norodom có trả lỏi tiếng nầy thật nên sửng sốt : 
G Ngươi muốn làm sao mặc ỷ, trâm phải thộ phong, 
nên trầm đi. » Đó là sự- tủy theo tục ]ệ cảnh Đông 
nỏ giục khiến mạnh mẽ lả dường nào, là sự dầu cho 
mấy kẻ đặng tâm tảnh thong dong hơn hết di nữa, 
cung chẳng dám tự chủ cho trọn. 

Ngày mồng 3 mars, vua Norodom đi lên Kampot 
vửi hai trầm người bảo giả, có ông Phnea-Rat cùng đạo 
binh xiêm nhỏ hộ tống. Khi thượng lộ đặng vài. giờ, 
thi ông De Lagrée cho binh soán ở đền vua vả thượng 
cờ tam sắc trên cảc nhả thuộc vẽ nhà nước. Qua 
mồng 6 mars, cỏ hai chiếc canonniẻre vòi 70 lỉnh bộ 
thuộc thủy dến phụ lực ; bữa sau cỏ một chiếc canon- 
nière khác vả 30 lính hộ cũng tới nửa. 

Nhưng vây, vua cao-man di cũng chẳng bao xa, 
lại ví dầu ao ước chí tình cho đặng sắc hiệu tiềũ 
vưo-ng, vỉ dầu người quyết lòng mạnh mẻ mà lảm 
chuyện mình muốn, thi người cũng dừng chưn lại lối 
cách thành Ỡ-Đông chừng bốn mươi ngàn thước mà 
thôi, lại khi người hay chuyện đã biến sanh tại thảnh 



- 435 - 


đò, người liền viết thơ mà gởi cho ộng Doudart de 
Lagrée.song ông nầy không trả lời. Khi ấy người mới 
cả kinh, đường như ở giữa chuyện mất một ít vật' 
tầm phảo vui ngộ vói chuyện mất nước, nèn người 
trở lại Ô-Đông không còn kẻ tó*i mấy lỏi ông Phnea- 
Rat trách móc, phản hả. 

Sau bết, bữa mồng 8 avril 1864, tử giao ước bảo 
hộ có đức hoảng đế y phê ở bèn Paris đẵ gởi lại tới. 
ồng quan nâm thủy Destnoulins lảnh đem nó ỉên 0- 
Đông, ở đó từ ngày 12 cho tới 17 avril cỏ hộ giao 
cảch trọng thề. 

Cỏn một việc phong vương phẫi tính cho xong mả 
thôi, đến sau ông quan năm thủy Aubaret lo thanh 
chuyện ấy cũng chinh vi tại Bangkok, lả nơi người mới 
quámàlàmlảnh sự. Yua nưỏ-cXiêm, tên lả Mang-Kut, 
hiều biết bề ích lợi mình không nên trêu chọc nước 
Langsa cho tói cùng, vả chẳng minh đả chiếm đoạt của 
người cao-man hết hai tĩnh Angkor vó-i Battambang. 
Bởi vậy mới có lề tôn vương nhằm mồng 3 juin 1 864 
<L trước mắt nhơn dàn lấy lảm ỉạ, vỉ bấy lâu ao ước 
xem thấy lề ấy, mà nay đả hết trỏng đọù rồi. x> (Remy 
với Àrnaud). Ngày 25 octobre, đức vua Norodom 
xuống Sải-Gòn có nhiều quan quân theo hầu hạ ; người 
có đến viếng mấy sở chảnh chúng ta ; ngày 26, buồi 
chiều cỏ bày cuộc ăn chơi mả yến hạ người tặi dinh, 
qua tối bữa 27, ngứời trở về O-Đông. 

Còn ỏng Phnea-Rat với đạo binh người thi kề từ 
ngày 16 juin đã lui ra khỏi phần đất cao-man. 

Dầu cho ngưòi xiêm thôi khnấỵ rối, thi ngưò-i ta cũng có lẻ 
mà lo SỌT. họ. dồ tán mưu hay lả kiếm chuyện' -quĩ quái nào khảc 
mả ngvồỊ tạkbông dè, đặng phá cho tnyột qnyền chúng ta roỏt 
lần nữaỊ ỷỉhà mrỏ-c langsa kbi ấy tường lộp một tỏ' giao ước 
; thi hay hqttị ítăng buộc vua Mang-Knt nhln biết có một mình mrức 

■ ' • ■» -v< ĩ. ' • t . 

• 'V ỉ 



— 436 — 


Langsạ cỏ phép bao bộ nưỏvcủa vna Norodora mả thối., Tỉnh 
toán vói nhan lân ngồy cùng Ctằn mìn lầm cho đến bửa 15 juiflet 
1'867, Xi ém quốc mói thuận theo ỷ chúng ta ao ưức, song miễn 
lả chủụg ta đừng traoh giành mạ.y phần ậắị B&Uambaog vậ Ang - 
kor thì thôi. Ngưòồxiẻra đặng mấy tỉnh 'Hầy chẳng có ai cai lỗ 
trước khi ông Doudart de Lagréè làm sách thòng thải ; raà khi 
bày ra sử truyện soi lòng ấy rồi, thì chuyện đó trỗ* nên sư lược 
lắm, cho dến đồi chỉnh vì tri'éu đinh Bangkok cũng biết quyền 
mình không theo phẻp là bao nhiêu, nẻn tưởng muốn cho đặng 
gìn giữ mấy tỉnh ấy.phả' liêu cho .nước Langsa đặng quò-n thượng 
thủ tại Cao-Man quốc, lả sự đã ghe phen cung vi no 'mà tranh 
chiến cho tỏi chừ, (Remy vói Arnaud). 

Bấy lâu có một ít kẻ đoán xét nặng Iẳm về sự nhìn 
biết Xiêm bang đặng mấy tỉnh Battambang và Aogkor 
như vậy. Ta không theo họ đặng trong chuyện nầy, 
vỉ họ quyết chắc ngưéri ta đã bỏ qua sự ích lọi nước 
Langsa, mà họ chẳng chỉ ra cho biết khi đỏ người ta 
tỉnh đặng cách nào khảc. Chinh vì các chuyện sử sự 
tại cỏi Cùng-ôòng nầỵ đều khó tính vả tùy theo bề sữa 
trị cảc nưửc đại tài quá đồi, nên khi mởi thấy lần đầu, 
thì chẳng cỏ lẻ mà nói (lặng rầng lúc đỏ ngưửi ta 
không nèn chịu. Đến sau, khi các dinh chương ấa 
đả cho thiên hạ biết thơ từ minh gỉao thông, thì 
người ta mới rỏ việc mả phàn đoán, còn tử đày tỏi 
đó phải cho dè dặt ngoan ngùy. 

Sự THÈ TRONG xứ 

Khi quan thủy sư De la Grandière ở trên Cao-Man 
mả về, thì người phải ra sức mả làm cho nhơn dản 
an tàm, bởi phô tặc tử dấy động, kế sai binh gia sát 
phạt và tại tiếng đồn sẻ nhường đất .lại, nồn làm. cho 
Ỉ1Ọ ngã lòng quá đồi. Việc trồng trỉa kém sút hơn 
mấy năm trước xa lẳm, nhiều nơi gặt hái đả bí hủy 
hư, còn lúa gạo cứ ttép châu lưu xứ khác. Các lẽ đỏ 



cỏ khi ìàm cho sợ phải đỏi, còn mấy kẻ nghịch vỏ-i 
cỈHÍrig ta thi họ lại dùng cơ hội nhữ vậy cách khẻo 
léo mả lảm cho mình đặng ích, -nén 'i)ắt ai Bấy mảng 
ưu sầu vả sọ- cho ngảy hậu nhựt. 

Cuối tháng aoùt Ì86Ổ, quan thảy sư cấm xuất 
cảng lúa gạo, đó lả một phương thế lảm cho vui lỏng 
dân hơn là sự thiệt, vi lúc ấy trong năm, cuộc châu 
ỉưu lúa gạo củng gần mân, còn qua mồng một janvier 
1864 thì lại tha cấm, Dghỉa lả nhẳm khi mó-i gặt hái 
mùa khảc.Qaan thống đốc cỏ dạy phảt một phần tiền 
đặng cửu giúp nhơn đàn phải nản, lại có cho các 
làng mưựn bạc nữa. Mẩy cách thế nầy lâm cho thiên 
hạchẳc ý lại, nên lúc khốn khó như vậy thêm có đại 
hạn nữa cũng không bắt rủng động lả bao nhiêu. 

Thuở đó nhả nước tốn phi lung quả, nên cũng 
phải bớt nó lại. Các quan quản đốc cứ nói có một 
chuyện phải làm cho cẳ thề, cho đẹp mắt, song nhẳm 
lúc nước Langsa đang lo bên xứ Mexique, nẻn chịu 
cho một ít tiền cứu giúp mả thôi. 

Còn trảo đinh Huế không suy xét, cử theo ỷ mình 
muốn luôn, lả làm cho ngưỏri langsa đừng ỏ- đặng 
xử Nam-Kỳ, dốc giục nhơn dần cưứp phả, trở long 
vả khuấy rối. Dầu vậy, phải biết rằng đình thần ít 
thảnh công hơn lúc trưỏ-c. Vì mấy tay nông phu an- 
nam bấu ỉo ruộng rầy mình, nên đã thuận theo bề 
chúng ta caỉ trị, vỉ họ biết nó cỏ sự nhơn ỉànb. 

Ong quản Định cũng cứ phả phách vả kiếm thế mả 
dấy ngụy lại nhừ ỏ- Gô-Công ; người ngự tại Lý-Nhơn 
(gần cữá Lôi-Rạp), giữa đám nê địạ dầy tinh rừng 
vẹt đước. Bữa 25 septembre, ồng ấy phải hai ông 
quan ba thủy Gougeard vời Bẻhic vây tại trại ngươi 
ơ. Ngữỏri gần bị sanh hoạch ; khi đó có một tên lính 
■ ina tà (Ịắ chúp đặng vai ngơò-i, kế ngưồi xo nhảo tên 



ấy, rồi chạy vô bụì.rậm mả thoất mất. Mả nhirng vậy 
bả vọ* lạr bị bắt vởĩ một ít người nhập bon nữa. 
Trong giấy tò* qủa ông Định, thấy có tèn một người 
thanh khách kiá ợ tại Phan-Rí (Binh-Thuận) chỊu 
môi bản khí giải, thuốc đạn cho mấy tay lảm giặc. 
Nhả mrớc langsa có hôi triều đĩnh Huế về cổ* sự như 
vậy, mà không ai chịu biết tên khách đó hết. 

Cũng trong lúc ấy có vài đoàn ngụy tặc trinh diện 
chung quanh Biên-Hoà, Tàn-An, Mỷ-Tho, Cần-Giuộc 
vả Chự-Lớn nưa, song dàn chúng đả hết sức chịu 
những sự họ đòi buộc, nen có nộp một ít vị dầu đẵng. 
Bởi vậy, bọn hung cường nầy không còn dám ỏ* tại 
raấy phần đất chiếm cứ nữa, họ mỏ*i ra trú tại chính 
giửa đảm rừng thuộc tĩnh Binh-Thuận đặng gáng sức 
mả lập lại bọn minh. 

Bữa 28 novembre 1863, quan thuy sư De la Gran- 
điẻre đặng phong lảm thống đốc thiệt thọ, lả chức 
quan thủy sư Bonard phải từ dứt bỏi việc công và 
mấy lúc hành quân làm cho người ra mỏn sức. 

Dầu cách nào thỉ cũng chẳng hết lo sợ, còn triều 
đình Huế đã cho phô tặc tử cư an nơi giáp cảnh 
Binh-Thuận, rồi lại rán sửc làm cho dàn tinh ra nghi 
hoặc, là chàu truyền theo sức minh rẳng ngưòì lang- 
sa cũng hòng bỗ . xử mà về. Gho đến đồi quan bố 
Yỉnh-Long dến xin quan thống đốc dạy mấy chiếc 
thuyền chiến an-nam chỏ* văn thơ ra Huế, như vậy 
thời mấy ghe đó phải di qua phần đất chủng ta. Quan 
thống đốc cỏ trả lời không chịu rỏ ràng mả chống 
lại vó*i sự cậy minh đó, vi, ít nữa, nó lả vô ích, bỏ*i 
chưng cỏ nhả thơ langsa dam thơ tử ở VỈnh-Long 
xuống cbo tới Bà-Rịa, là chồ, theo lời giao ước buồi 
trước, ngưòị an-nạm cỏ cấp dưởng cho một cung 
trạm bốn raươi tẻn dịch phụ. ' 



~ 439 - 

Lối cuối thảng janvier 1864, có một tin dử kia đến 
lảtn cho ai nấy càng théra ỉo sọr hơn nữa, song chẳng 
bao lảu người ta lại nói rằng không cỏ. Lả thièn hạ đồn 
chiếc tàu chỏ- các quan sửan-nam chìm mất hồn mất 
xác. 'Nên người ta mới đem lòng suy về sự đại hại 
như thế co lễ lảm cho sanh điều boi roi lả dường nảo. 
Mấy kẻ xui giục dấy loản lấy chuyện đó mà rục rịch 
ỉung lẳm. Họ dảm cả lòng dến tại Phú-Làm. vỏ-i Bà- 
Hom, gần Ghọ*-LỎ*n, mà tụ hội. Người ta có bắt đặng 
ỉt vị vả gần cho họ nhập vỏ*i mấy tay đã bị nã hoạch tại 
Gò-Gồng, song khi ấy người ta đã khởi sự lấy làm khó 
canh giữ lắm. Quan thủy sư cỏ xin đặng phép, nên 
dày họ qua củ-lao Réunion, như vậy mởĩ lam đan ra 
mấy tay phá hại sự cai trị chúng ta, lại cũng một 
khi cho. họ có thế mà học cho biết tiếng nói, lảnh 
tốt vả tải phép chúng ta thề nào. 

Lối đầu nàml864 cũng cỏ lập ra sồ thàu xuất 
trong địa hạt trước hết. 

BẠO Sứ AN-NAM Ờ TẠI PARIS 

CỦNG KHI TRỜ VỂ 

Bộ sứ an-nam lên tại cữa Toulon nhầm mồng 10 
septembre 1863. Sau họ xuống chiếc Labrador mà 
qua thành Marseille, rồi liền thượng kinh Paris có 
hai ông Aubaret VỎ1 Rìeunier theo. Cũng trong ngày 
cạc quan sử bước chưn lên đất nước Langsa,thĩ nhưt 
báo Indẻpendance belge có thòng một tin kia ma 
giục lọri quá, nói rẳng đức hoảng (ỉe Tự-Bức chịu 85 
triệu đặng chuộc tam tỉnh lại, mà cũng đễ cho chúng 
ta ở tại 'Sải-Gòn. Nén hội nhựt trinh lo việc có ích 
ch^ngmởi dằn giải sự xin chịu dó, lại cũng có một tờ 
bĩ& dằ ịnet về chuyện ấy mà dưng cho đơc hoảng đế 




















cuộc hai nưỏ-c giao thương. Khi đỏ các quan sử mới 
vửng ý lại, nên khi phản hồi bon hương thl hộ có lòng 
trông cậy được việc một chút. 

Đạo s ửỉr Paris đi qua nướcEspagne, rồi đó, trong 
ỉúc thảng décembre, có một chiếc tậu giặc nhỏ espa- 
gnol ĩerceira chở sứ trở lại hải khằu Aỉexandrie. 
Bang khi trầy ngang qua biền Mẻditerranẻe (Bịa- 
Trung Hải) có một ngọn cuồng phong nồi lẻn làm 
cho chuyền động ba đảo và phả tan bải biền chúng ta. 
Chiếc Atlas, lảnh việc loan đệ văn thơ từ cữa Alger 
qua cữa Marseille, phẵi cơn bảo tát ấy mà hạ mất ; 
nên ngưỏi ta tưởng chiếc Terceira củng làm hại một 
cách, sau mười lẳm ngày thì bên nước Langsa mới 
rỏ tàu ấy thề nào mà thôi, bởi đỏ mới có tin sải 
thông qua ,tới Sải-Gòn. Vốn thật chiếc aviso espa- 
gnol có bị hư nặng một ít chồ cùng gảy vòi đởn, 
song thửi may nó vảo đặng cữa Naples mà dựa, sự 
như vậy thỉ qua chuyến tàu thơ kế ở Sải-Gỏn người 
ta mới hay mà thôi, nghĩa là sau gần một tháng. 

Nhưng vậy, bèn Ôại-Pháp thiên hạ lại tiếp dối lẽ 
với nhau luỗn. Chúa thượng Napolẻon lưỡng lự nhiều 
bề, nay người không còn chịu trả đàt đã chiếm lại 
nữa. Songbởi phe thuận theo chuyện lai thục mạnh hơn 
lướt đặng, nên mới lập ra một bồn sơ ước, theo tờ 
ấy chúng ta còn gìữ lại mấy thảnh Sải-Gỏn, Chợ-Lớn, 
Mỹ-Tho vả Thủ-Dầu-Một mả thổi, với một dây đất 
rộng từ bốn ngàn cho tới năm ngàn thước langsa, 
chạy dài theo hai bên bò- sòng từ mấy thảnh ấy mà 
ra biền. Còn phần đất chiếm chĩ dư bao nhiêu, thỉ 
phải bồi thưỏ-ng tiền bạc raỏ-i nhường lại. 

Tở ưỏ-c đã cãi ra như thế, lại với tờ ưởc Iangsa- 
cao-man đều giao cho ồng quan nặm thủy Aubaret, 
lúc ẩy người sang qua Bangkok mả làm lảnh sự* Khi. 

29 



ông nầy đi ngang cữa Phố-Mửi (Singapore), người 'cở 
gởi tờ ước cao-man cho quan thùy sư DelaGrandière, 
còn tờ ước an-nam thì giữ lại cho minh, bỡi vi người ’ 
tinh một ít làu người sẽ qua Sải-Gòn. 

Bửa 18 mars 1864, chiếc hải vận Japan tới đậu tạỉ 
Sài -Gòn, cỏ chư bộ sử an-nam. Lúc sử phục hồi, cứ 
ông Boresse,là quan ba thủy kiêm lảnh đốc lý bốn quốc 
sự vụ, đi theo. Các quan sứ khi ấy thật khổng biết chút 
chi về các điều buộc mỏ-i ông quan năm thủy Aubaret 
đem qua, chẵng ai ử Sài-Gòn mà biết đặng nỏ chút 
nào; nhưng vậy thiên hạ đồn rằng, việc cảc sứ cung 
phụng đó hòng sanh điều thảm thiết cho trong dịa hạt. 
Nguyên là tại bọn hộ tùng các quan sứ cỏ dĩ hơi lậu ra 
một ít chuyện, cỏ khi cố Ỷ mà nói nỏ, song dầu cách 
nào củng khổng nhằm, nên mói làm hại như vậy. 

Bữa 24 mars, đạo sử trở về Huế, còn ông quan 
năm Aubaret, khi đẵ thi hành xong chuyện minh tại 
Xiêm quốc, thi cách chừng hai tháng sau người ngồi 
tàu D’ Entrecasteaux mà theo đạo sử. Quan ấy tỏi Huế 
nhằm ngày 1 6 juin; song qua 22, ngưòù mói triều yết 
mà thôi. Ống Phan-Thanh- Giảng đặng đức hoảng đế 
Tự-Đửc tin cày iẳm, nên lảnh việc tiếp tính toán vửi 
ông Âubaret. Chẳng bao lấu người ta liền hay sự thật 
về mấy điều buộc trong tờ ước thễ nào. Tại Sài-Gòn 
ai nấy ngã lòng. Song may phước cho cỏi thuộc đỊa nầy 
cùng cho nưỏ’c Langsa nữa, vì chuyến nầy dức hoảng 
đế Uại-Nam và các quân sư người cung không thấy 
rỏ hơn trước. Chẳng có lúc nào có sự thề đến dàng 
cho các vi ấy mà đặng thuận tiện như vậy. Là cho 
chuộc ba tinh (trư ra mấy thành đẵ kề trưdrc), sqng 
phải trả một trăm triệu góc tư tày trong năm mươi 
năm, moi năm một ki lả hai triệu.  



Chủâ thượng Tự-Đửc khùng biết chịu, lại khởi sự 
trành trỏn. Bữa 18 ịuillet 1864, có tin dày thép ben 
Paris qua tới Sài-Gòn, người ta liền gởi nó ra Huế. 
Ghiếc Echo đem nó đến Cữa-Hàn nhằm ngày 21 
juillet, đó lả l[nh truyền ngưng chuyệu tính toan. Nèn 
ông Aubaret trở về Sải-Gòn. Vì khi ấy đức hoảng 
đế Napoléon III đã đồi V và trỏ' lại tờ cựu ưức. 

ÔNG QUẤN ĐỊNH KHUẰT TRÂN 

^Chẳng cỏ ích chi cho lẳm mà thuật lại những mưu 
kế của quan quyền an-nam ở tại bở cỏi chúng ta mà 
đa dùng khôn dứt trọn cả và năm 1864. Phía Binh- 
Thuận, như ta dã nóì trưởc, cỏ nhieu đoàn quàn vô 
lối rút vô ử trong mấy bão và làu lâu loán qua đất 
«*efinh chủng ta mả cướp phá. Có sai binh đi một lần 
đặng đánh duỗi họ trử về đất an-nam. Còn phần mấy 
ngưò-i mọi, bởi bị chúng loạn tặc buộc ép sưu d|ch 
chịu không thấu, nên có bẳt một vị đầu đảng nên sợ, 
Iả^ông quan Sư, mà nộp cho quan lanesa, ông ấy bị 
trảm quyết lối gần Bà-Rịa trong ngày mông 9 mai 
^63 ; họ cung cỏ giết trong rửng hết vải ba trăm 
người làm giặc nữa. 

Đang^ khi tinh Bình-Thuận mẳc phải dẵỵ đầy hung 
đẵng bởi nó lả noi giúp dử trước hết, thỉ nó lại bị quân 
hải tặc thanh khách phá khuấy. Nhả nưó-c an-nam 
Wiong sức đánh đuồi lủ ấy đưọ*c, nên phải xin quan 
tbuy sư De la Grandière cứu giúp, thì người có cho 
tàu do tuần mé biền. 

Bên hướng tày, các quan an-nam cùng cỏ cho đinh 
trú những kề cướp phá dã bị mấy colonne binh chúng 
Ị* tầ °yrê, lại như họ cỏ bẳt mộtỉt đứa, lả lậm cho 
mấy kị đỏ khỏi phép công thẳng langsa hưu la trừng 



ịU — 


trị chủng nó. Đâu thảng'raai cỏ một vị chảnh đãng kia 
tên Quới bị chỉnh vi người an-nam bỗ tù tại Châu- 
Đốc. Bọn va rán sức cứu thử va mà không đặng ; khi 
rút đi thi bọn ấy có phá tan mấy nhà cửa ở gần 
thảnh. Nguyên tên Quới đó có cơó-p phá một ỉảng nọ 
tại phần đất chủng ta và giết chết một người xả 
trưởng. Nhả nưửc langsa có đòi cảch mạnh mẻ, thi 
quan an-nam giao va lại, va bị xử tử. 

Cỏ một vị đầu đảng khác, lả ông đề đốc Huân, 
phó tướng của ổng thiên hộ Dương, trưởc cỏ dự vô 
chuyện phả hư các nhà cữa ờ chung quanh thành 
Châu-Đốc, nên kề từ đỏ người đã bị bắt vả chính vi 
người cũng bị giam cầm trong thành ấy nữa. Quan 
thủy sư De la Grandière nhờ cỏ kẻ mật bảo, mới 
dạy ông De Lagrée bỏ Ô-Bông mả qua Chảu-Bốc vỏri 
ba chiếc canonniẻre, đặng xin quan an-nam giao ông 
Huân lại, y theo tử giao ước năm 1862. Ban đầu thì 
quan an-nam chối khòng có bẳt ông ấy, sau lại lảm 
đủ chuyện gay trở ; nhưng vậy ôngDoudart de Lagrée 
cũng thâng đặng, nèn tù nhơn phải bị giao. 

Song lúc dỏ còn ông Bịnh, là người đốc giục các 
chuyện dấy động, phải bẳt mả thôi. Khi Ihòi người 
ta nói ông ấy ở Huế, khi thời ỏ- Bình-Thuận, lúc 
lại nỏi ỏr chung quanh chính vi tại Sài-Gòn. Bâu đâu 
người ta cũng thấy ngưỏri. Có một vị trong bọn thủ 
nghịch vói ngưò-i mả không lảm hoà lại đặng, là ông 
đội Huỷnh-Công-Tấn, đẩ ra giúp chúng ta kề tử năm 
1862 (j), ông nầỵ hồ nghi thật rằng ông Định ằn dật 
trong huyện Gò- Công. Bữa kia, ngưò-i ta cho ông 

(1) Nguyên ông Huỳnh-Công-Tấn sinh tại lảng Phưó-C-Hàu 
(tỉnh Chọ-Lố-n). Nghiêm phụ người kiù trước có lảm phỏ quản 
cơ tại Sài-Gòn; sau khi lấy Chi-Hòa rồi, thì người đi xuống phỉ 


1 5 » 


I . 



Tấn hay ông Định mỏi tỏi tại Kíền-Phước (gần Gò- 
Gông), thì người liền đi vời bọn người đến tại chồ 
ấy, trong đêm 19 rạng ngày 20 aoùt 1864, mà bao 
nhà ông Bịnh trứ vởi 25 tên bộ hạ. Trời vừa sảng thi 
hai đàng đả đấu chiến vứi nhau bất kì chết. Ong Bịnh 
với quân nhơn người muốn đánh giải vây mà ra; khi 
ấy ngưỏi gần thoát khỏi đặng một lần nữa, vừa đâu 
ỏng đội Tấn dạy hết thảy bọn người chấu bẳn ông 
Bịnh. Cỏ một viên trúng gảy xương sống người đi, 
một ít v| bị sanh hoạch, năm VỊ tử trận, còn giấy tờ 
ông Bịnh thì về chúng ta. 

Cảc giấy tờ ấy cho cỏ thế mà bẳt một ít chảnh 
đãng ngụy khác. Nhơn dịp ông Bịnh chết, thì quan 
thống đốc tha giết ông đề đốc Hụân,làngười khỉ trước 
các quan tỉnh Chàu-Đốc phải nộp lại cho chúng’ ta, 

Bữa 30 mars, quan thủy sư De la Grandière đi chiếc 
Donnai mả về Đại-Pháp. 

Tàn-An mà ở đặng. chuyên lo việc buôn bán. Ban sơ, ỏng Tấn 
theo ỏng quàn Định, song bời cha giao liền hữu v&i một viên 
quan an-nam giúp nhà mrớc langsa, nên óng Định day qua con, 
de chém đầu người, ỏng Tấn bỏ trốn mà qua bên phía người 
langsa. Bởi đó ngưòi mỏi oán thù ông Bịnh cho tói chết, nên 
rốt việc ngưò-i mỏi giết đặng ông ấy như sẽ nói sau nầy. ồng 
Tấn hằng ồ- hết lòng vói nhà nước langsa luôn, nẻn nhả nưò-c 
biết công nghiệp vâ phong người cho tỏi chức lãnh binh; đẽh 
sau ta cũng còn nhiều phen cỏ dịp mà nói lại chuyện ấy. ông 
Tấn sanh thì trong năm 1874, khi đặng 38 tuồi, Có dựng lén 
một cái bia tại chọ- Gò-Công đề mà nhớ- tích người, trong đó 
thấy 'CÓ câu- chữ n ầý : 

à la mémoire du lảnh binh ĩ ấn, chevalier de ỉa légion 
iưhonneur , fĩdèle et courageux serưitear de la France. 



<aX7A3Sí TISTÍnr SXT* KOZB 

ưè vui chơi tại Chợ-Lởn. — Chuyện Mỷ-Trà.— 
Láp ra và làm một tí việc. 

LẺ VUI CHƠI TẠI CHỢ-LỚN 

Bữa mồng một avril, khi duyệt đại binh xong, 
quan thủy sư Roze có tiếp rước hết thảy cảc người 
langsa ở trong xứ, và tỏ ra những chuyện minh toan 
lính, ýminh muốn do y theo cách cai trị cũa quan thủy 
sư De la Grandière. Cũng nội ngày đỏ, mấy tay quyền 
quớỉ thanh khách có thỉnh người, nên người vô tại 
Ghợ-Lcm mà coi gánh hát bên Tàu mỏi qua bảy 
tuồng đầu, bọn ấy ăn mặc và trao giồi rất nên xinh 
lỊch lẳm đặng mà khánh hạ người. Khi coi hảt rồi, 
người ta lại thỉnh quan thủy sư vỏi raấy vị đã mời 
qua chùa quảng-đông, ở đó đèn đuốc thắp chưng rực 
rở, cỏ dọn riêng một bữa điềm tâm cách trọng thề 
lắm. Các chức việc thanh khách mặc y phục theo ngày 
lễ lớn mả tiếp rưức trọng đải mấy quan dự yến. 

Sự tỏ lòng kính nhượng ròng và đay sự thật tinh đó, 
thì đũ mà lảm chửng ý người thanh mong ưỏ-c cho 
nưó-c Langsa trị xứ Dầy lả dường nào. Cảch vải bữa, 
nhằm ngày 17 avril, cỏ một íễ khác tại Chợ-Lộ-nj la 
chưng đại cộ hâng niên, nỏ đã rổ- rổ- vá cổ nhiều dồ 
quí báu, nẻnbẳt người tây lấy lảm lạ lẳm. 

Như ta mứrkề các cuộc tề ấy ra, thi ít chĩ về như 
một chuyện biếu thuộc truyện sử, ho-n là cho a 1 nấv 
thấy bề thế các người khach buôn bản vả chuyên 
nghẹ nghiệp thuở đó thỏi thạnh lả dường nào. cỏ 
nhiều kẻ đã xcm xét cũng như ta vạy, )à hề cộ rồng 
mà chưng rực rở nhiều hay ít, thi nó là dấu làm chưng 




chắc về sự thề buôn bản, bởi vậy chĩ vụ cấy hải, trong 
-cả vả xứ đắc ế thề nào. Người thanh lả một tay mai 
mối cần kíp ỏ- giữa nhơn dàn bồn thồ vó-i người tây, 
nên bề sanh lý họ khả thỉ thưò-ng thường cho phép 
đính CẬC cuộc làm àn trong xử cũng đặng khá vậy. 

Sau bửa chưng cộ rồng, nhằm ngày 18 ạvril, quan 
thủy sư Roze có đi viếng cách kĩ cang các sở trong 
địa hạt một lần nữa, nên sự ấy giúp mạnh mẽ cho 
hết thảy mọi người đặng vửng ý lại. Nỏ cũng lảm 
cho quan thủy sư tri thức nhơn vật thề nào, hầu sau 
đặng lo các điều cần kíp cho kẻ kia và giúp sự ích lợi 
cho người nọ cho nhằm lẻ. 

Khi quan thủy sư Roze tiếp làm theo việc quan 
thống đốc De la Grandière, thì ngưò-i cỏ ra lỏi nghị 
định nhằm mồng 6 juin 1865 mả lập cuộc cai trị 
thành phố Chọ*-LỎ*n. Thành ấy chia ra lảm hộ, nhờ 
.có mấy phái viên nên khai tạo đặng một hội nghị 
thành phố, cỏ quan đốc lý bồn quốc sự vụ làm đầu. 

CHUYỆN MỸ-TRÀ 

Lúc quan thủy sư Roze quản trị, đôi phen chúng 
ta cung có bị một ít đảng cướp phá hại nên kề ra, 
nhửt lả trong ngày 22 juillet, có chửng trót trảm quân 
kiếp giả ở trẵng Tháp-Mười đến đảnh làng Mỷ-Trả 
(thuộc tỉnh Sa-Đéc kim thời). Đảng cướp cô vài cây 
súng tay, hai vị đại bác, hỏa phi đồng vả giảo mác, 
song chủng nỏ khổng đè gặp người ta chống cự lại. 
Vì dân làng nầy chạy tới đoạt lấy mấy vị đại pháo, rồi 
day nỏ lại mả bẳn kẻ cướp, lảm cho quân ấy chạy 
trổn mấtị đề lại nơi giao chiển một đứa bị thương 
thật rất nên thẹn thuồng. Phía làng có một người 
'■ chết với ba vị bị vít. Quan thủy sư Roze gởi một ngàn 



góc tư, đặng thưỏTig dân lảng Mỷ-Trả về sụr gan đam, 
vả ban một cái đồng hồ trái quít cho hương Khanh, 
iả người đốc suất chống trả. 

LẬP RA VÀ LÀM MỘT ÍT VIỆC 

Ngày 16 juin 1865, quan thủy sư cỏ tạo lập một 
hội nông nghệ, đến sau hội ấy có giúp nhiều việc hửu 
ich, nhứt lả mấy lúc đấu xão hằng niên mả người 
đ ?y khai ra tại Sài-Gòn, lần trước het khai đấu nhẳm 
ngày 25 février 1866. 

Về ỉe đức hoảng, đế, chánh ngày 15 aoùtl865, thấy 
co bày ra một chuyện mà đem vô bản bièn các cuộc 
? ua , W a - Bua tại đồng Tập-Trận. Các năm 
kể, mấy lần đua ngựa đều dời qua mùa khô, lại thấy 
người ta ở mấy xứ thuộc địa làn cận Phố-Mới, Hương- 
cảng, cũng có đến mả tranh thư&ng. 

Trọn năm ^1865, các công việc chung dều làm lại 
cách nong nả lắm. Sau hết, tại kho thủy (Ba-Son), 
người ta có rảp một cái thủy thảnh nồi bẳng sắt. - 
Trong chàu thành cỏ chừng hai ngàn dân thợ lo làm 
đủ thứ công chuyện. Bắt hai cầu bằng cây qua rạch 
Avalanche (Thị-Nghè). Vưởng thảo mộc (Sử thú), cùa 
ông Pierre lặp trong năm 1864, khi ấy cỏ sưa lại 
nhiều nơi. 

Ngảy 27 novembre 1865, quan thủy sư De la Gran- 

5 hiếc Tịỹ re Messa &eries Impériales mả 
trở qua tới Sài-Gòn, cỏ đem cả gia quyến ngưởi theo. 
Qua mồng 2 dẻcembre, quan thủy sư Roze xuống 
chiếc írégate Guerrière mả qua Nhựt-Bồn * người 
đe tiếng lại xứ Nam-Kỳ đáng ng^khen lỉm. 



l 

<ZfcTTA3>T TH'UY' STT* 

IDE LA. GRANDIẺRE 

Cuộc hành quán tại trảng Tháp-Mười. — Ồng 
Pù-Kầmbô dấy loạn. — Choán lấy ba tĩnh hưởng 
táy . — ông Phan-Thanh-Giảng du tiên . 

cuộc HÀNH QUÂN 

tại trang THÁP-Mirờl 

Lức đầu nàm 1866 thi sự thề trong xứ đặng thái 
binh thạnh trị. số thâu đẩ định ỉả 5.056.000 góc 
tir. Gác tỉnh đẵ yên, lại khi qũan thống đốc vừa lại 
tới Sài-Gòn, thấy ngưỏâ có tiếp rước nhiều hội hương 
chức an-nam và thanh khách đến mà mừng quan 
thủy sư De la Grandière đã phục hồi đặng vô sự, cùng 
chúc cho quan thủy sư Roze lên đàng thuận buồm xuôi 
giỏ. Trưức khi quan thống đốc dời chơn ra khỏi nước 
Langsa, ngưỏ-i có xin đặng một ít khuè bải đề thưởng 
mấy kẻ đã giúp người, trong mấy vị ấy có ba người 
an-nam, là : quan phủ Trần-Tữ-Ca, ông đội Huỳnh- 
Công-Tấn, hai ông nầỵ đặng ngủ phằm bữu tinh, ỏng 
đội Trần-Bá-Lộc thi lảnh quân còng bội bài. Khai niên 
coi mòi hưng thạnh lẳm, cho đến đồi cảc nước làn 
cận đều tỏ lòng thiết nghĩa với xứ Nam-Kỷ langsa. 

Nhưng vậy, thuở ấy cỏn một miền khống đặng chẳc 
ý, phải coi chừng, lả trảng Thâp-Mười. Địa phương 
nầy khó đi cho thông thấu, những người an-Dam làm 
ngụy tới đỏ trú ngụ, lại họ hữu thế bắt buộc cảc lảng 
phải chạy bạc tien mà ít khi họ làm hạĩ. Khỉ giỏi 
củng thuốc đạn đều có tàu thuyền chỏ* lại Hả-Tièn 
với Rạch-Giá, rồi điệu ngang qua mấy tĩnh hướng táy 
mả đem tới cho họ. Quan thủy sư có cho các quan 
tồng đốc an-nam ỷ chĩ rẳng, đó là một điều phạm 



— 450 — 


đến sự bất dự vỏ chuyện giặc đã buộc trong tò* ưỏ*c 
năm 1862 ; rốt việc người đặng các quan an-nam trả 
lời cách lịch sự mả thôi. 

Bữa 20 janvier 1866, ông Phan-Thanh-Giảng ở Huế- 
trở vô tói, ngưởi đặng phòng ỉảm kinh Ịược tam tỉnh 
hướng tây. Ai nấy có lẻ trông cho ngưửi sữa yên mọi 
chuyện ; song khong thấy chỉ hết. Quan lảo tôn quí 
nầy chẳng ngăn cấm đặng nữa; dầu người có tư tò* 
cho các tĩnh quan, thì cảng ngày mưu kế chủng ngụy 
tặc tại Tháp-Mưò*i củng cầDg lộng và tràn ló*n ra luôn. 
Mấy phần hờ ỏ* riêng tại tĩnh Mỷ-Tho đều bị dánh 
phá. Bầu tháng mars, phô tặc tữ ẩy có rải tờ cao rao 
mà giục dân chỗi dây. 

Cuối thảng mars, họ đến dánh thình linh làng Cái- 
1N ứa (tĩnh Mỷ-Tho), nhà nước có sai một toán binh 
langsa đánh đuồi họ một lần đầu, rồi sau họ đáo về 
mà ỏ* dỏ nữa; nên phải đánh lại vả đặt một phần hờ tại. 
chọ Sự thề như vậy không đặng bao làu, vi chưng nhà 
nước đã nhứt quyết hành quàn mà sữa trị. Người ta 
nhấm đảnh lấy đồn Thảp-Mười, là chồ thế trung tim 
của ngụy đảng. Có ba cái đường đi băng ngang qua 
bưn mà tứi đỏ, mồi dường đều có một dạo colonne 
đi, kéo chấu tới một lược. Binh ra tràn tính đặng 100 
lính bộ langsa với 260 lính lệ an-nam, có ồng quan 
ba Boubée, Pâris de la Bollardière, Gally-Passebosc, 
ổng quân Tấn vói ông huyện Lộc đốc suất. Các luy 
giăng và cảc bảo ở tại ba đường dều đánh lấy cũng 
trong một ngày. Bữa sau, là 16 avril, ông Gallỵ ầp 
dánh đồn chảnh, kêu là Đồn-Tả, nó có 350-ngườicố 
thỏ, trong đám đó có một tên lính đào langsa, vả 40 
khằu dại bác. Đội compagnie lỉnh thủy thượng ngạn ỏ* 
chiếc Fusée có dự vảo trận, bởi trước khi đảnh, quan 
cai đạo ấy có biềuhọ giúp. Chúng ngụy có nỗ lực chọng 



cự, rồi chạy mất, bỏ khí giỏi vả đồ đạc lại. Chuyện nầy 
lảm cho đạo colonne hết hai người tữ trận và mưỏù 
bảy ngưòậ. bị thương. Cũng trong ngày ấy, ông quan 
ba Gally-Passebosc có đuỗi tbeo mấy kế chạy trốn cho 
tói đồn Tháp-Mười, song người thấy nỏ đã bỏ khỏng. 

Ví như trong cuộc hành quâu nầy mà người ta 
đoạt thàu chẳng thiếu chi lả khí giới, thuốc đạn, thi 
người ta lại sanh hoạch đưọ*c cỏ vài ba tên mà thôi. 
Ong thiên hộ Dương cai đãng ngụy dã tẵu thoát ; dầu 
vậy, người ta cŨDg bẳt đặng tại Cái-Thia (tinh Mỵ-Tho) 
một ít người an-nam, hai tên lỉnh tagal vơi một 
người langsa trốn lính, tên là Linguet, cã thảy có 
nhập vô raấỵ đoản làm ngụy tại trãng Thảp-Mười. 

Bựa24 avriỉ, khi binh ỏ- Tháp-Mưòả mả về, thì có 
mưòi lăm người lỉnh hộ langsa chết chim tại Sông 
Vủng-Gù, ngay trưỏ-c Tàn-An~ 

ỔNG PÙ-KÃMBÔ.DÀY loạn 

Chuyện khởi ngụy mời nầy dày đưa hơn một năm 
rưởi, nó cũng đồng tràn ra trong xứ Nam-Kỷ vá tại 
nước Cao-Man, hản thật nó là một cuộc đảng kinh 
hơn hết mà chúng ta phải chống lại ; bởi không 
phải nó de hại sự chúng ta cai trị hơn mấy cuộc 
trước, song vi nó lảm cho chúng ta phải một lúc 
chẳng cử dộng được hơn mấy lần kia, vả cũng hại 
chúng ta phải hao binh tốn của nhiều hơn nữa. Khi 
đó hung khỉ loạn tặc đã đồi ra khác ; vi trong lúc 
hành binh tại trảng Tbáp-Mười, vả cũpg có khi trước 
nữa, thấy sủng lỏi đã thế cho sũng cò mốỷ dá, nên 
vỉ như lúc đỏ raà mấy hột nồ gìn giữ cằn thận và lảm 
nó cho kỷ lường hơn, thời có ỉẽ nỏ hại đặng chúng ta 
nhiều hơn lả bấy Ịàu. 



— m — 


Trirởc khỉ thuật ồác lúc loạn lạc cánh biến nầy, 
thật hửu ích mà kề tắc lại chuyện ba vị dã lảm vaỉ 
nhứt trong cơn đỏ. 

Đứng đầu là ông Pù-Kầmbó, hoặc kêu Pô-Kầmbor, 
làm thầy chùa' cao-man, ông ấy xưng minh !à con 
vua Nẻàc-ông-Chản vả anh vua An-Buông, vua 'Dầy lại 
lả cha cùng lả đấng trị trước vua Norodom. Trong 
thơ ông Pủ-Kầmbô viết gởi cho ông Vignes, lảm 
giốm dốc Sài-Gòn, đề bữa mồng 2 mai 1865 và in 
vào ỉournal officieỉ nhằm mồng 5 octobrel866, 
thấy ngư<Vi cỏ dần giải nguyên tích và các quờn 
phép mình đặng lảm sao (song nghịch với chuyện 
người ta đã biết về sự nước (Ìao-Man lẳm). Quan 
thủy sư Roze biều ông ấy xuống Sài-Gòn, cấp dưởng 
cho người và khuyên ở an có chúng ta phù hộ, mả 
đừng cỏ kiếm thế khuấỵ rối nước Cao-Man. Bề ngoài 
òng Pù-Kầmbò vàng phục cùng cư an tại Sài-Gòn. 

Một vị khốc, là ông Phra-Keo-Pha, là ngự đệ vua 
Nọrodom. Trưửc người ở tại Bangkok, rồi trong 
tháng juillet 1805, người quá giang tàu Mitraiỉle mà 
đến Sài-Gòn, xin nhà nước ỉangsa phù hộ cho minh 
• ỏ* đó. ông Phra-Keo-Pha đặng quan thủy sư tiếp 
rưửc cách tử tế lẳm và cho chồ ở, tồn phí bao nhiêu 
có nhả nước chịu, ồng ấy là một vị kièn tâm, lực 
lưọ-ng, nên thân huynh người sợ, mói chịu cấp dưỏ-ng 
cho người ở tại Sài-Gòn, đặng dang người cho xa 
nước Cao-Man. 

Sau hết, có một tên thứ ba nói minh cỏ phép tranh 
ngai nước Cao -Man. Nó tên lả A-Xoa, con người 
thanh khách kia*lậm bạn với một ngưòi dờn bà đàng 
thồ mả sanh ra, khi-trước nó rút vô mấy hòn núi, phía 
giáp giải tỉnh An-Giang an-nam, mà ở và đi cướp 
phả trong nước Cao-Man, sao bị chúng rưọt, nó mới 



— 458 — 

chạy qua phần đất an-nam mả tị nạn, 0 - đó các quan 
cung đồng tinh, nên nó khỏi bị chứng trị tội. Trong 
tháng đẻcembre, tên ấy cũng có xin quan thống, đốc 
cho minh một tờ thông hành đặng xuống Sài-Gòn 
mà. tỏ bàỵ quyền phép minh trong vụ lảm vua nước 
Cao-Man. Quan thủy sư De la Grandiẻre không chịu, 
vi cỏ lẻ tữởng rằng mình cỏ cũng đẵ nhiều vị tranh 
lập ờ tại Sải-Gòn, còn tên A-Xoa chẳc có lẻ nó dùng 
giấy phép ấy mà lên Cao-Man. 

Trọn mấy tháng đầu năm 1 866, nứớc Cao-Man dặng 
binh yên vô sự. Tại Sải-Gòn, ổng Phra-Keo-Pha với 
Pù-Kầmbô đều cư an. Thật thi ông Pù-Kầmbô cỏ đặng 
một ít tiền bạc cứu giúp, của tốp cao-man đã ở tại 
phần đất chúng ta (phía bẳc Tây-Ninh) kề tử khi vua 
An-Đuòng qua đừi. Mấy người đỏ — đặng chừng hai 
ngàn — nghịch với vua Norodom, song họ ỏ- yên phục 
quyền chúng ta bảo hộ, bởi đỏ người ta không lo vê 
sự họ gỏ-i bạc cho ông Pủ-Kầmbở. Người ta có hay 
biết lả khi òng ấy ra khỏi Sải-Gòn thinh linh lối đầu 
tháng mai mả trốn lẻn hướng bẳc. Người ta tim kiếm 
mọi nưi, mới rỏ ông Pù-Kầmbô dã làm đầu trót trăm 
người và đi củng xử mả rao rằng minh muốn dụng 
hung khí mả phục vị nước Cao-Man. 

Sự như vậy xem ra chẳng mạnh thế lả bao nhiêu, 
lại người ta không dẻ ông ấy dám cự chiến. Song 
bồng chúc thấy có một đám cao-man, chàm vả an-nam 
ứng dậy, tên tranh lập A-Xoa cũng có dự vò nữa, nên 
tự nhiên người ta mới trộm tưởng rẳng, khổng biết 
cơn dấy dộng nầy có phải bởi triều đinh Huế xúi 
giục^chăng. . . 

Bửa mồng 7 juin ban mai, có một đoản con người 
lao xao, chừng hai ngàn, cỏ cầm khí trương, cờ bạch 
phơ phất, kẻo tói đồn Tày-Ninh. Quan đốc ĩỷ bồn 



— 4 & 


quốc sự vự, lả ‘ỏng -De Larciauze, tơỏ-ng 'có lễ vồ Ve 
họ đưọ-Ọi nên đi xốc tói họ vỏi hai mươi ngưỏú hộ vệ 
mà thòi. Khi gần tới đám ấy, người bước tồà một 
mình ; tức thi quàn nghịch vây người mà đảnh. Ngươi 
băn kịp được tìỊỘt phảt súng carabine, rồỉ ngưỏri bị 
một viên đạn trúng nặng quả mà ngã xuống. Ong 
quan một^Lesage cai tốp hộ vệ, chạy tỏ-i tiếp cứu, 
cũng bị giết chết với chín tên quản. Bao nhiêu binh 

ỉa ?pf í òn dư lại ’ thi họ tả đ w hưu xông hết sức mới 
giai khoi mà thôi ve đon, nhờ cổ một tốp hai mươi 
lính với ông quan ba Pinaud ỏ* trên đồn chạy xuống 
mới lảm cho đàng tiên chiến dửng chản. Bỏ-i thiều số 
quá khòng sức cự lại, nên tốp binh nhỏ ấy phải thủ 
đồn ; nhưng vậy nó cỏ gỏ đặng dày thép xuống Sài- 
Gòn mà báo tin, vi qua chiều, quàn loạn mởì tưỏ-ng 
tới vụ chặt điền tuyến mả thôi. 

^ thi co mọt chiếc tàu ơ Sải-Gòn đi với binh tiếp 
có ông phó quan năm bộ Marchaisse tồng lảnh ; con 
ỏng quan ba bộ Prémĩet, đốc Iỷ tại Trảng-Bảng, thì 
mau mau xuất hành với một toán 40 ngươi, lối chín 
giừ tối tới Tảỵ-Ninh mả khỏng cỏ sự chi cảng trở: 

Khỉ ông quan năm Marchaĩsse dến nơi, ngươi có 
dạy tầm soát nghịch đãng lối chung quanh đon, song 
khòngthấy chi hết. Bữa 14 juin, ngưò-i đi ra một lần 
nữa vỏ-i 150 quàn nhơn vá hai khẫu đại bác. Lần nầy 
người gặp giặc như người ta đă bảo. Lối ba giờ chiều, 
ngưỏ-i thấy quân cao-man ờ sau Rạch Vịnh, mà hai 
bên bò- sình nẳy lung lắm; ngưửi truyền lịnh áp đảnh. 
Không đặng bao lảu, đạo cốlonne binh liền ra giưà 
lầ ymả xáp với quân giặc đòng số quá đồi, ông quan 
năm Mạrchaisse với mưỗi ba người b| tư trâm. Qua 
năm giờ, phải thối về, nhờ có hai khẫu pháo thủ nẻn 
ôug quan ba Fouruier mó-i ngăn đặng quần nghịch 



455* — 


lại- — bọ chết nhiều — và đem bĩnh về, song rũiphẵi 
bỏ mấy người tữ trận. Quân cao-man liền lột lấy ảo 
quần họ ; qua hai ba bữa sau, khi người ta tới đặng 
tại chỗ chỉến tràng ấy, thời thấy mấy thày đẵ bị thú 
rừng, kên kên quạ quạ xẻ àn, vã chăng đã hư rã quả 
đồi, không nhìn lại được. Một phần tữ thi phải 
dòng xuống giếng mả lấp đi, phần khác bô vào một 
cải thùng cày lớn mà ehôn, đầu ông phó quan năm 
thỉ gặp tại một góc cây kia, song theo lởi mấy vị 
trưởng lảo trong xứ lại nói rẳng, người ta kiếm không 
ra hoặc lả chẳng nhìn lại đặng xảc người. 

Xong chuyện khốn hại ấy rồi, tốp binh giữ đồn Tày- 
Ninh đặng thêm cho tởi 500 người, cỏ ông quan tư 
Alleyron quản lãnh ; tốp quân thủ tại Trảng-Bàng thời 
thèm đòng hưn, còn tàu phải đàu trong sôngBến-Lửc. 
Song dời binh đi như vậy, thi làm cho Sài-Gòn ra bớt 
quàn sĩ, là nơi đã cỏ linh thảm của loạn tặc di rảo 
cùng mả sẳm sữa dến dánh. Người ta có lo phương 
thế đề phòng trừ nạn, lả thêm cho đũ số binh thủ 
thành, nhờ cỏ mấy. compagnie lính thủy thượng 
ngạn ở dưới các chiếc tảu đậu trong sồng, vả cho 
ỏng quan năm thủy Lejeune đặng chửc cai thành. 
Bạch Arroyo-Chinois thì có một ít ghe thuyền trí khí 
giải với phần hờ cỏ lỉnh lệ lựa rút mà giữ lấy nó. Còn 
Chơ-Lỏm lại đặng 300 quàn thú. Cảc chuyện phán đặt 
như vậy chẳng phải là nhiều quá đâu, vi đến sau, khi 
bẳt đặng thơ từ cua mấy tay dấy loạn, người ta mới 
biết nỏ thầ nào. Mói vửa khởi ngụy đặng ít ngày, thấy 
cỏ một ít chánh đâng an-nam theo phe ỏngPù-Kầmbd, 
trong đám đó cỏ người con ồng quân Bính, lảTrương- 
__Huế,^QHgAêii.thiên hạ .biết hơn lả Hai-.Quyền với Thị- 
Quýền. Cỏ vài ngiựri tagal trốn lính vói dám hoang 
' côn trong xứ cung nhập vô lũ loạn tặc ấy nữa, 



— - 456 — 


Bởi tại Sài-Gòn da dụng phưong thế mả phòng bị, 
nên người an-nam không dám fỉến đánh thảnh ấy, 
song muốn cho đặng giủp quân cao-man, thi họ đảnh 
phá Thuận-Kiều mà lảm cho chủng ta đồi ỷ. Bữa 24 
juin, lúc 4 giờ sáng, họ leo qua bờ lủy đồn. cỏ một 
tên lính canh ỉa lên « giặc, giặc ! » và bắn, thì khi 
ấy quân nghịch đẵ lẻn tới đầu vách đồn. Binh thú kề 
dược năm mươi lỉnh bộ an-nam với mười sáu tên mã 
kị spahi, đã phân ra từ tốp năm người mà ử trong 
mấy cải nhả, rán hết sửc mả binh vực lấy minh cùng 
hiệp nhau lại một góc kia trong đồn, còn mấy kẻ tiên 
chiến— đại phước cho binh thú— họ mẳc lo cướp đồ 
đạc trong mấy nhà và trong kho mà thòi. Binh dồn 
tiếp bẳn luôn luôn, giết đặng nhiều quân ngụy, song 
thuốc đạn gần. hểt, nên sáng ngày binh ẩy phai dụng 
lưởi lẽ xông tới mả đàm ; sau hết mới đánh tẫy quân 
ngụy ra khỏi vòng đồn. Binh kị lấy đặng ngựa minh 
lại, mửi cỏi chạy sải mà phá tan quân ấy. Trong lúc 
người an-nam tới đánh đó, bên binh đồn cỏ hai vị 
từ trận và bảy vị làm thương. 

Bang khi ngụy dảng leo đồn Thuận-Kiều, thi có 
một tốp khảc đánh phá chợ HóoMỏn ; song ông phủ 
Cạ với mấy lên lính người chống cự, ông ấỵ nhí có 
thầy cai tồng' ỏ* Gò-Vẳp cửu khoi, vỉ nghe sủng bắn, 
nên chạy tới vỏri một ít dân làng bọc hậu quàn ngụy 
và bẳt đặng một ít têa mà dần xuống Sải-Gòn. 

Nội bữa đó cỏ lẻ Trảng-Bảng cung phải bị đánh 
nữa, song loạn tác tbấy đồn kiên bế hẳn hòi lẳm, nêĩỉ 
họ có xạ vài phát súng dong vô làng mả thôi. B5a 
sau, ông quan hai Eymard, làm đốc lỷ bồn quốc sự 
vụ, đara lính với dân làng mà đánh họ. Nên họ phầi 
dang xa. 


% 


% 



45 1 — 


Mấy đoàn ấy xem ra đã tụ l;)p, bằng chẳng thì 1 k qui 
mộ nhau tại Cầu-An-Hạ, chốn đỏ lúc nào ăn cướp 
với mấy lay lảm giặc cung cô chồ mà trú ngụ luôn. Nên 
sợ cho nỏ thành nên một nơi trung tim đấy loạn, như 
tại Gò-Còng vả Tháp-Mười. Quan thủy sư có sai nhiều 
đạo nhỏ đi khắp chồ trong miền, nguyên mấy đạo nầỵ 
lập đặng nhờ cỏ các lính 'khi ấy rảnh dùng mả ra. 
Vi vậy, ngày 27 juin cỏ một colonne binh kề dược 
200 ngưòa langsa, 100 lính lệ với hai khằu súng xe ở 
tại Thuộn-Kĩều kẻo đi, cỏ ông quan tư pháo thủ Roche 
quản lảnh ; đạo nầỵ đánh lấy bò* đẳp chạy^ngang 
qua tồng đỏ, chẳng kề quần loạn chong tra. Một 
colonne khác được 50 linh thủy, có ông quan ba thủy 
Rẻraỉot-Lerebours cai, bẳt bên phía nghịch mà đi lại, 
độ lên mẻ tả Sông Bếh-Lửc,.phả tan đảng ngụy, đoạt 
lấy cua họ một vị súng lỏm rồi đi củng trong miền ấy 
trọn bốn ngày. Mấy người an-nam làm giặc, trừ ra 
Trương-Hue mà thoi, thấy minh bị càn tầm đánh bẳt 
như vậy, thỉ kẻo nhau lèn hướng bắc đặng hiệp với 
quàn cao-mên. Có vài tốp đi thử xuống phía nam mả 
trốn, song bị hủy tan. 

Mong 2 juillet, ông quan tư Alleyron ở Tàỵ-Ninh 
đi ra vơi cả binh gia, Dgười phải mấy đoản quân của 
ông Pủ-Kầmbô đánh tại một chồ trống kia trong rừng, 
là nơi ngơòù mỏi dạy binh ngừng lại. Binh ấy hiệp 
nhau mau lắm và rước bẳn mấy vị tiên chiến lung 
quả, còn tốp quản kị đặng hai mươi lăm người, cộ 
ông quan hai Bẻchade đốc suất, thì gịuc ngựa tó*i mà 
chẻm giết.Quân cao-man chạy trốn lạng hàng thất thử, 
đề lại chồ ấy chừng sảu mươi tên tữ trận. Bạo colonne 
cỏ bốn người bị vít. Ngày thử, khi đạo ấy kéo về Tây- 
Ninh, nó cũng có phả tan một đoàn 300 ngưửi an- 
nain nua. Song rủi, tối đêm đỏ mấy kẻ cướp phả có 
tứhmà đốt đặng chợ lả. 


30 




Bữa 11 ịuillet, ông quan tư AUeyron cỏ xuất binh 
nữa, rồi qúa 13, Dgười đánh đuồiquàn cao-mênỏ- tại 
mấy lủy kiên bế họ lập tại Ba-Yang. 

Qua ngày 12 juilet 1866, chiếc hải vận Sarthe cỏ 
chỏ- đi đày 112 người an-nam dự vồ chuyện dấy loạn 
mà đã bắt đặng. Tàu ấy cũng cỏ đam mưò-i hai đứa 
con trai an-nam dề cho vào trường La SeyDe. Mấy 
đứa đó là con nhà tử tế, chúng nó phải qua nước 
Langsa ở học hai năm, đặng sau trở về Nam-Kỳ. 

Sự đem đi đày mấy ngưò-i an-nam lảm giặc đã bị 
sanh hoạch cùng đuồi theo đánh bẳt khôn dửt những 
kẻ côn kình chống, thì làm cho cảc đảng phải đi qua 
đất cao-man, đều như vậy là đồi cuộc nguy hiềm 
kia mà thế chuyện gay trỏ- nọ mà thôi, vì loạn lạc lân 
nước Cao-Man sẻ đe hại sự vận con thịt cho xứ 
thuộc địa. Tính một mình binh sĩ mà thôi, mồi tháng 
dùng hết chừng 500 con bò, ptíần nhiều trong số đỏ 
bởi miền trên mà xuống. Bỏ-i Yậy quan thủy sư m<H 
tạm cấm chử trâu bò ra khỏi xứ. 

Trong lúc đó, các quan an-nam trị mấy tình hưó-ng 
tầy đ3 không giúp chúng ta đặng bình loạn, hay là 
giữ sự bất dự vào cuộc giặc mà thôi, họ lại cho mấy 
đầu đẳng ngụy an-nam trủ và đề ghe thuyền đi vận 
hoảthực cho mấy tay làm giặc. Ong Phan-Tbanh-Giảng 
thấy vậy lấy làm lo sọ- sự lồi nặng sẻ đồ cho minh, 
củng như sau nó qui cựu cho cả vả nhà nưỏ-c an-nam 
vậy. Ngày 14 ịuillet, người lên Sài-Gòn nói rằng cho 
đặng tĩnh một chuyện người đã phỏng nghĩ về cuộc 
giao ưỏ-c buôn bản, song sự ấy bỏ qua,- vậy người 
cho ai nấy biều triều đình Huế muốn biết Ỷ chúng ta 
thề nào mả thòi. Triều đình an-nam đâ khòng dửt thủ 
nghịch, mà cũng không truyền cho những tay làm loạn 
trử về nhà, vì có cớ nay lam chửng chắc hơn hết về 



— 459 — 


sự ấy, là bữa mồng' 3 aoùt, người con ông quản Định 
gần bị thầy hộ ở tại Chợ-Lớn, lả ông Bồ-H ưu -Phương, 
có ông Bồ-Kiềng-Phữớc lả cai tồng Bình-Biền giúp, 
bắt đặng tại Bến-Lửc.Hai ông nầy lấy hết thảy đo đạc 
của Trương-Huế, trong đó có giấy tờ trọng hệ lẳm. 

Mấy chuyện quan thủy sư cư 'kêu nai vói nhả 
•nước an-nam luôn, thỉ nỏ cũng cỏ íảm cho mát 
lòng một chút, ỉà dồi quan tồng đốc tĩnh Chàu-9ốc 
và, qua ngày 19 aoùt, giao lại tẻn A-Xoa là người cao- 
man tranh lập. Khi trước các quan an-nam che chở 
tên ấy, sau dạy bẳt nó vả trở lòng bẳn nỏ hai phát 
sủng vỏ lưng. 

Vẵ chăng, sự giao lại đỏ làm cho dề óng Pù-Kầmbô 
mả thòi, vì khi ông ấy khỏi kẻ đồng tranh với mình, 
thì người thong thả tung hoành tại Cao-Man. Mấy kẻ 
theo phe người đặng đông số, còn dám nông phu 
cao-man lại không dự tới, nên đức vua Norodom lúc 
đỏ có một ỉt viên quan với vài mẹ sốc mà thôi, song 
như làm cơn hoạn nạn, thi hết thảy sẻ bỏ người. 
Khi ấy cũng phải sọ* ông Si-Vattha nữa, lả em thử ba 
vua Norodom ; ông nầy ở tại Bangkok, bị vua xièm 
cầm lại đó, vi sợ sanh bất bình với nưỏ-c Langsa. 

Vua Norodom sa đắm vui chơi, người thời gan dạ, 
song lơ láo, bị mấy kẻ hầu hạ gạt gằm, nên không 
ra sức mả đánh ông Pù-Kầmbô cho tận lực. Binh SI 
nhả vương khòng có khí giái cho hẳn hòi và khòng 
cỏ ai đốc suất cho trúng cách, nhưng vậy ban sơ no 
cuog cỏ thắng đặng vài lần; song qua ngày 13 aoùt 
1866, khi xáp trận mớỉ* quan thượng kràlahom cầm 
binh bị một phát sủng mà tữ trận, tức thi quân nhơn 
ngưòi đều đồ ráo. Vua cao-man cỏ xin xư Nam-ky 
cứu giúp;'nhả nước langsa không từ chối đặng, bơi 
chưng mrờc Cao-Man đã cbịu cho Bặỉ-Pháp bao hộ. 



ông quan tư Àlieỵron có đảnh phả lần đầu, tại phía 
Gò-Xoài (ngay trưửc Trẳng-Bàng); đạo colonne quan 
ấy cỏ 1.800 ngựời cao-man đi tiên phong cua ông phủ 
Sôe, ìà em quan, krâlahom, đã qui đặng. Npởi ta cỏ 
làm cho ngưng tạíp mấy chuyện tấn phát của vỉ tranh 
lập tại nước Cao-Man. 

Thuở đỏ, có ông quản Là ra đầu thú (nhằm ngảỵ^l : 
septembre 1 866), người là một vị trong các chảnh đãng 
CỐ cựu hơn hết và trượng ho*n hết, người đặng phép 
về làng mả ờ thong thả, nghĩ vì người đã niên cao kĩ 
trưởng cùng it phả hại trong lúc giặc giả. Ve chuyện 
(í hác, người ta có nghe tin ỏng thiên hộ Dương mửi 
chết chìm tại phia mủi Dinh (Padaran), là nơi ngưò*i 
đánh với ba chiếc tàu 6 của đảng ăn cướp, quân ấy 
hạ hết hai chiếc ghe người. 

Ngày 25 oetobre, quan quân theo phe yua Noro- 
dom bị thất trận, còn tỉnh Baphnôm phải ông Pủ- 
Kầmbò soản lại. Cơn 'giặc nầy ra bất tận là như vậy. 
Quân linh langsa cần có một đoàn lương lỏm đặng 
dÙDg, song không sức mà làm cho dứt chuyện với 
một kẻ nghịch kia khòn hề bẳt được, hề đến gần thì 
nó cử chạy xa, mà nhưng vậy nó hằng đề phồng vả 
sẳn sàng đảnh phá mấy đạo colonne. Họ cất nhau đi 
càng bạt thiệp lẳm, nên nơi nào họ kiếm cũng cỏ vật 
thực luồn mà chi độ, lại họ vận đặng khi giái, thuổc 
đạn, bởi có nhờ ba tĩnh an-nam bên hưởng táy bảo 
lảnh. 

Trọn thảng novembre, binh gia thất công đi đi 
về về tại xứ nẻ địa, lả chôn cỏ bệnh rét, bệnh hạ lợi 
nhiễu hại chúng nó quả sức. Trên Nam-Vang,ch5 vua 
Norodom mới đỏng đô, thì phải quàn loạn đe đánh 
phá. Quan thủy sư mỏi sai lên đỏ 250 người cổ ông 



— 461 


quan tư 'Briẻre de risie quản lảnh. Bữa 17 đécembre, 
ông Pù-Kầmbô đến trước O-Bòng ; người đã vò đặng 
trong đền, kẽ bị ông quan tư Briẻre de 1’Isle đánh 
đuồi ra. Bữa 18 dẻcembre, ông quan năm Reboul 
cũng lên Nam-Vang nữa, bỡi người ta định dẹo 
rằng quàn nghịch sẻ ra sức mả đánh đó. Quả thật 
như vậy, vì lối giữa thành nầỵ với O-Bồng đã có 
xáp một ít trận đầu. Trong thảng janvier 1867, 
phẳi đề binh đánh lại phía Baphnôm. Ngày mồng 
7 janvier, ông Pù-Kầmbỏ thất một trận lối giữa Nam- 
Vang với O-Đòng. Ong quan năm Reboul đuồi theo 
đảnh vả rược ép tới lảm cho chạy đụng toán binh bộ 
với lính lệ (thuộc quan tưDomangecai), nên toán binh 
nầy có làm cho ông Pủ-Kầmbô phải thiệt hại nhiều. 
Khi quàn gia bị chết liều yếu trong mấy trận đỏ, thi 
vị tranh vương bèn quày trở xuống hướng nam liền, 
lối giữa hai sông Vủng-Gù với Bển-Lửc, lấn dồn 
mấy người cao-man của ông phủ Sôc lại. 

Ta cung phải cho ai nấy biết, cũng trong mấy 
ngày đầu tháng janvier đó, họ có đạo ở tại Méât- 
Krỗsa (tỉnh Lovẻa-Em) bị quàn ngụy sát hại. Khi 
thầygiàng Barreau biết quàn ấy kéo tới, thi (C người cỏ 
sai kẻ báo tin cho quan công sứ Nam-Yang hay, quan 
nấy liền sai một chiếc canonniẻre đến mả cứu người 
đặng đem về đô thành. Song rủi, chiếc canonnière 
đó không chở cbo hết cảc nhà cỏ đạo.Bỡi vầy, dầu 
cho năn nĩ chí tinh, thi thầy giảng nầy cũng không 
chịu bỏ mấy người mỏ-i vào đạo, nên qua mồng 9 
janvier 1867, ngữòi bị giết chết iạ dưới chân bản 
thò*.** (Cha Guerlach). 

Tóm lại một đều, lả sự thề không dời dồi ‘chút 
nào. Ong Pù-Kầmbô cứ dảnh phá luốn, còn chính 
vi tại triều vua Norodom, bả quan lại theo chuyện 



— m — 


tu-ỉọ-i mình, tâm tánh khác nhau lẩm, cho đến đồi họ 
cải lẻ với nbau về sự phế vua mà cho ông Ebra-Keo- 
Pha lẻn thế lấỵ ngôi 

CHỎÁN LÃY BA TÌNH 

HtPỚNG TÂY 

Khi ngụy Pù-Kầmbô dấy ra, thỏ-i mấy ngưòà an-nam 
theo nhà nước langsa có ngả lòng lại một ít. Gác lúc 
hành quân đó lảm cho chúng ta khó mà ở tại địa phận 
chúng ta, nó lại bắt họ lo sọ* cho nưỏ*c Langsabỏ dứt 
xứ nầỵ nữa. Các quan an-nam ỏ* mấy tỉnh hướng 
tày, lại với một phần dản sự, dều có giúp ríhững ke 
lảm loạn gần chán chường, nên họ làm cho tâm trỉ 
mấy ngưò*i theo phe chúng ta ra như vậy luôn. Ât 
thật, xứ thuộc địa nầy mà có đặng trang tịnh, lả ke 
từ ngày nào người ta choán lấy xong ba tỉnh hưómgtây 
mà thôi, ngày nào người ta đuồi hội quan báo hại vả 
xảo trả đó ra khỏi Nam-Kỳ, là mấy kẻ tưởng hộ vực 
nưức Đại-Nam, tẻ ra lảra cho hư mất mả khôn sữa lại 
đặng, bởi kiêu căng và bất thông thế sự mà ra. 

Chính vi tại Huế nữa, thấy mấy ông thầy chùa với 
nhiều quan cũng cỏ âm mưu mà hại đức vua Tự- 
Hức, vi họ nói vua khồng hềm nghịch vói người ngoại 
quoc cho hẳn hòi. Họ muốn lập con anh cả người 
lên thế lấy ngỏi, lả con ông Hoảng-Bầo đả tự ải trong 
ngục « vì lệnh người dạy J>. Bữa 16 septembre 1866, 
họ ra tay lảm chuyện toan tính. Thuở đó, vuaTự-Đức 
cỏ dạy xây một cái lăng tằm người gần kinh thành ; 
người dùng ba ngàn dân thợ, cả thảy đều bắt tới lảm, 
mà 1 huởn cồng ít, nên bọn ấy không bằng lòng về việc 
chẳng có ích chị cho lắm mả người ta biều minh làm 
như vậy. Mấy vị làm đầu chuyện tập lập nầy, lại trong 


i , % 


* ! % 



- 463 - 


đám đó có người xúi giục ià ông huề thượng, dều đem 
nhau đến mà nói trước với bọn dân thợ răng vua đa 
bị phé rồi ; họ rủ mấy người ấy theo đặng tung hò 
mà mừng tân quản. Đam đỏ kẻo tới nhằm lúc các 
cữa thành mởi mở ra, họ tràn vô đền ; mấy vị rập 
mưu dần .đầu, đi ngay vào cung vua Tự-Bức; khi ấy 
có một ông quan trung tin cầm đao giữ cữa mả cự 
lại, nên làm cho vài tên lý thiện tận trung chạy đen 
mả cứu vua. Ong quan nầy bị thương nặng, song người 

cửu vua khỏi chết vả khỏi mất ngai. ^ 

ông huề thượng thấy chuyện bất thảnh, hen tự 
vận đi, còn một quan đại thần đồng loẳ vỏà người 
thi về nhà uống thuốc độc mả chết. Bà mẹ, người vợ 
vả hai đứa con vị tranh lập (đứa nhỏ hơn hết đăng 
sáu thảng) đều bị xử tử. Còn mấy quan khảc hên cang 

trong chuyện ấy đều bị cầm tù. 

Sự tâp lập niy tuy bất thành, song nỏ cũng làm cho 
ai nấy ca kinh. Vua Tự-Đức biết mình chẳng còn an 
cư đặng nữa, nên không đem lòng Un ai hết.^Người 
mới triệu ông Nguyền-Tri-Phương ngoài Bẳc về, vi cả 
và thiên hạ d'êu kinh vi ùng ấy lẳm. Quan cam dam 
nềy dần một đạo binh lai trào, đồ đạc riêng cua ngươi 
dùng thì còn cỏ vài cải áo quần mà thôi, song đã mòn 
rách bởi đánh giặc mà ra, lại cỗ một tên lỉnh kia v|ch 
nỏ phất phơtren mủi giáo mả dam về. Ong 
Tri-Phương chỉ ra . chuyện như vậy là giặc giả không 
làm cho người giàu ; lại sự thanh liêm quan tưởng lao 
' ấy cũng chàn thật như sự bất cầu lợi của quan phó 
cựu người là ông Phan-Thanh-Giẵng vậy. , ^ 

Hai người ấy làm gương về sự .đoan chánh ở đợi 
cùng kiện ước theo việc quân bình, mả sách truyện các 
dân phương Tày khổng từ chối, lại Bgưòà ta lấy làm 
vui long ma bày lỏ no ra chính giữa những chuyện 



— 464 — 

hồngươi, vạy vọ -các quan an-nam. Đầu vậy, te xẻt 
thấ y lrí ỷ ồng Phan-Thạnh-GiảĐg với ông Nguyền-Trí- 
Phương khấc nhau lạ íủng.Ong trước thi hỉeublết sức 
thông thái vảgiáọ hoáchủngta thề nào, nên có lẻ muốn 
cho các kẻ đồng bang học đỏi những đều chung ta 
dạy dồ. Ong sau lại chắc y về cuộc giao huấn tàu* nen 
không chịu biết tới sự thông thái ngưửi phương Tay 
chut nào. Ong Phan-Thanh-Giảng, là người thay mặt 
về chuyện tấn ích pbải lẻ ; còn ôngNguyen-Tri-Phương 
thaỵ ve sự chấp kinh bất phục ; cẵ hai đều chắc theo 
ỷ minh tưởng, cả hai cung đều ỉiẻm chánh. 

Nhưng vậy, chuyện hiềm nghèo vua Tự-Bức mội •' 
c ^ u đó cung không cải được cách ngưửi lảm khó 
cho những người langsa. Sự mu quáng đã ám trí 
người cùng tri cảc quan triều thi chẳng tan đặng. Các 
dấng ẩy không biết chút nào về sự thề chứa đầy chuyện 
gian nan mả họ lảm cho trong Nam-Kỷ phải chịu 
đó thỉ không còn lâu đặng nữa, về sự nưửclangsa co 
phương thế mà lảm cho dứt, lại cũng gần duDg '■ 
lấy nỏ. Khi ấy quan, thủy sư De la Grandiẻre co cho 
ông Phan-Thanh-Giảng hay trước rằng, những mưu 
k ^ngưởi an-nam dùng buộc người cực chẳng đã 
phải choán lấy tam tỉnh, chuyện phả hại. đã qua 
lẳm, không làm cách náo khác đưực. 

Dầu vậy, trước khi nhứt quyết, qụan thủy sư cỏ 
cho Dgưòi tính toán thử V(VÍ triều Huế. Quan thống 
lỷ Via! phải đi chiếc Casmao mà ra đó, tàu nầy đậu 
tei cữa Sống Huế nhẳm bữa 14 octobre. V| phái Viên 
quan thông đốc được tiếp rước tữ tế lắm, song các 
quan cho ông ấỵ biết trước người không thấy vua 
dăng, vi sự ra mẳt như vậy chắc sẻ làm cho nhơn dân 
lo sợ, nhứt ỉả bỡi mới bị chuyện tập lập mả ra.Tneu 



— 465 — 


•đình Huế không chịu xem xét lại tờ giao ước ỉ 862 
iheo như mấy điều quan thủy sư bảy tỏ, lại viết thơ 
xin đợi thèm mả thôi vả xin đừng giục tốc sự chi hết. 
Vua cỏ dạy trao lề vật cho phải viên đặng đem về cho 
quan thống đốc, vói một ít khuê bải, song có bấy mả 
*hôi. Quan thống lý trở về.CÚQg phải nỏi rằng, có khi 
-chọn lúc như vậy mả nàì xỉo thì không nhằm ; vỉ chẳng 
bao ỉâu có lẻ tại kỉnh đô sẻ cỏ chuyện hiềm nghẻo 
■dấy ra mà ẻp vua Tự-Bức xin chủng ta cứu giúp. 

Trong tháng dẻcembre, ngoải Huế cỏ gỏi một 
•phong thơ vảo cho quan thống dốc mà nói rẳng, ông 
Phan-Thanh-Giảng đã được quyền tiếp bản luận về 
tam tỉnh hưởng tây. Thơ đó cỏ xin người chỏ’ vội 
làm sự gi, cũng như thơ trước vậy. Quan thủy sư De 
ỉa Grandière muốn vì nề quờn phép vua nước Bại- 
Nam khi ấy đã yếu, nên người bằng lòng chử đợi nữa, 
song cung một khi ngưòù tin cho ông Phan-Thanh- 
•Giảng bỉết minh làm sao cũng nhứt quyết choán lấy 
ba tĩnh hưửng tây mà thôi. 

Bữa 14 íẻvrier 1867, ông quan ba thủy Monet de 
la Marck đi chiếc Monge mà ra Huế, đặng đỏi tiền 
bồi thường về giặc giả đẵ tỡi ki . Cung một khi ngưòi 
phải xin nhà nưó*c an-nam một lần nữa về sự nhường 
tam tỉnh hướng tây. Các quan đại thần rước ông ấy 
không thật tinh, lại nói rằng chẳng những muốn 
nhượng mấy tỉnh đỏ, mà lại mình tính tỏ bày sự 
.chuộc lại các tỉnh chúng ta dang choản. Chuyến nầy 
việc quốc chánh an-nam đã tố trần minh bạch, nó 
•còn đề cho nước Langsa có một phương thế má thòi, 
là chiếm soán ba tỉnh hưóng tây. 

Dầu cho kề từ khi ấy mà tại Sài-Gỏn người ta nông 
£ức lo lẳng chuyện nẳỵ, thỉ người, ta cũng không 
ngưng làm mấy việc bình an chút nào. Là khai cuộc 



— 466 — 


aấií-xảò nhẳrá. ngày 24 ĩẻvrier,. cũng như năm cọp 
vậy. Chínb^ì quan thống đốc phát phần thưẠng, hai' 
bên người cỏ ong Phan-Thanh-Gỉảng, òng hoảng: 
Phra-Keo-Pha với hai quan thượng thư vua Norodom.. 
Qua mồng 4 avrtỊ 1867, có ra một lời nghị mà lập> 
thành phố Sài-Gòn. 

Nhưng vây bên Đại-Phảp mấy người gièm siếmr 
cùng nghịch với thuộc địa cũng chưa nguòi lòng 
thời may có quan thủy sư Rigauìt de Genouilly raứi 
lảnh chức thủy bộ thượng thư (ngày 1 9 janvier 1867), 
Bởi người làm quan thượng thư, nên ngưừi binh' 
vực Nam-Kỳ cách mạnh mẽ lẳm, song người khòng; 
ngăn cảng đặng một ít thứ nhựt báo dừng đề nói' 
xấu nhiều sự cho xử nầy. Bửi vậy đức hoàng đế r 
hoặc muốn cho minh biết tất các việc, hoặc làm chơ 
mấy kẻ hiem tâm nhiều hơn là thông đạt sự thề đặng, 
vui lòng, nên người phú cho ông quan ba thủy Des- 
Varannes, là một vị trong mấy quan hầu^ cận, lảnh 
việc khó, là qua traxét các cuộc huê ợi và sự lập cho 
thành xứ địa hạt thề nào. Dầu cho ông Des Varannes- 
nhỏ chửc mặc lòng, thì người cũng được quan thống' 
đốc tiếp rưóx thật lỏng lẳm ; ỏng ấy tin chẳc hừu 
ích cùng cần kíp mà gìn giữ xử thuộc địa nầy. Về ; 
chuyện khác, nhà nưó*c langsa rỏ biết các mưu kư 
của triều Huế, nên đã cho phép quan thủy sư De la- 
Grandière lấy ba tỉnh hướng tầy. 

Quan thủy sư đã sẵn sàng ma hành sự, song người- 
còn .chờ lúc tốt, nghĩa là khi nhưn dàn ỏ* phần đất 
an-nam không còn chịu nồi tảnh xấu các quan mình' 
và những chuyện rối rẳm hẳng có luôn, nên chịu 
chúng cai trị nhữ một diều thi ân vậy. Cuộc sai 
binh đề đi lấy mấy tỉnh đã sẳm sửa trươc ba tháng: 



467 



cách cằn mật lảm. cỏ một quan vỏ kia, đặng quan 
thủy sư tin cây về sự kín miệng lại cỏ người xem sỏc r 
lảnh đốc suất thi hành các việc truyền dạy, dặn bảo và 
lo vẽ họa đồ. Các giấy tờ đó không cỏ dề ngày, không 
kí tèn, quan thủy sư cất giữ nỏ cho tói khi sau hết. 

Tại các trưỜDgbố đều có mộ linh, còn số những 
Dgữời tho- ký lại thêm trội mà chẳng ai biết cho 
chắc vì làm sào như vệy. Người ta không ngỏ- cỏ 
chuyện động binh nào cho cả thề, vi nhằm mùa mưa. 

Bữa 15 juin 1867, quan thủy sưtinchẳc rằng, phần 
nhiều trong dân sự tam tỉnh ao ưức cho đặng thạnh 
lợi và an tầm như mấy làng tại phần đất chúng ta, 
nên ngưở-i có mật tín cho các quan làm dầu mấy sỏ- 
hay ỷ người quyết định xuống Vỉnh-Long. Người cỏ 
dặn bẫo các quan cai [mấy đạo binh riêng và các 
quan quản đốc mấy chiếc tàu trận. Chỗ định hiệp 
nhau là Mỷ-Tho. 

Chiều ngày 17, quần sỉ xuất hành. Bữa 18, tai 
Mỷ-Tho có một ngàn hai trăm binh đã tựu lại đó. 
Khi ấy có tám quan đốc lý và những người tho- kỷ 
đề lo sửa trị mấy tĩnh mới cúng 400 linh lệ đã ở tại 
Mỷ-Tho cựu, mà chỏ- thuyền chiến và lịnh truyền 
đến. Còn mấỵ chiếc canonnière bằng câv Mitraiỉỉe, 
Bourdais , Aỉom-Prah, chiếc canonnière bẳng sẳt 
Espingole, Glaiưe, Fauconneau, Hallebarde, Arc, 
' chiếc aviso Biên-Hoà và chiếc chaloupe chạy hữi 
dã gieo neo mà dậu tại sòng Mỷ. 

Bưa 19 juin, lối một giò- trưa, quan thống đốc ngồi 
chiếc Ondine di vòng ngã biền mà tới Mỷ-Tho. Các 
quan đốc suất binh bộ va các quan, cai thuyền chiến 
đều xuống tàu người mà lảnh lừi dặ‘H bảo lần sau hết. 
Binh bộ với lính lệ đều độ xuống tàu, qua nữa đêm 
doòn tiều thuyền khai hành. Tảng sáng (ngày 20 juin 



- 468 - 


1867), có sương mủ dày một chút bao lấy các tảu^ 
dầu vậy, nỏ tòiĩần lần mà đậu ngáy trước thanh Yỉnh* 
Long Qua bảy giờ rưỡi sáng, hết thẵy tàu thuyên 
dều xảng neo tại chồ nó pbầi đậu mà đánh, còn vẩu 
đội corapagnie bÍỊih bộ thuộc thủy thi độ lên bỏ- nhạn 
trước mấy mặt thành ấy. Xong rồi, cỏ một quan 
trưỏ-ng sử của quan thủy sư đen buộc thảnh phải 
lai hảng. Trong lúc đỏ, có một ngộn gió hiu hiu 
thoi tan sa mù, nẻn các quan an-nam, bị vây thinh 
hnh trong lúc an tàm, mới hiều biết cỏ chống cư 
cách nảo cũng vồ ích. 

ôn ể P ^n-Thanh-Giảng đã biết trước mẩy thảng 
người phảHàm đi gỉ, ngưòi cỏ cho cảc kẻ đồng 
bang ro thay Sự thật the nào, nên người tỉnh tâm 
khi lẩm cơn đại hại như vậy, là chuyện người phai 
gánh vảc trọn, ngưửi bèn định giao thanh. Muốn cho 
bỏ-t, đặng bao Iihiêu hay bấy nhiêu, về sự các quan 
bồn quốc tam tỉnh phải chịu thiệt hại bỡi cuộc chiếm 
cử mà ra, thi quan thủy sư cỏ chỊu dề cho các 
vỉ ẩy đặng giữ chức vả bồng lộc như trước, hay là ơ 
tại phân đất chúng ta cho đến khi nào ve đặng xư 
sở. Một it vị chịu; QÒn quan lảo kia ỏ- Huế vào đặng 
làm chủ khảo các cuộc thi cử, thi uổng thuốc độc mả 
lự vận. Ông Phanh-Thanh-Giảng tuân theo lời quan 
thủy sư xin, ngưò-i viết tho- cho hai quan tồng đoô 
tỉnh Châu- Bốc với Hà-Tiên mà báo tin về sự nộp 
thành Yỉnh-Long và cho biết các lời hửa đễ cho dân 
chúng an tâm, song ngưò-i bỏ quên không nói tới mấy 
điều đã chịu cho các viên quan muốo lảm tôi nước 
Langsa thề nào. Trong khi liều chuyện như vậy, thấy 
người rủn chí, lại trong mấy thơ — đến sau ai nay 
mới rỏ — người có viết câu chót mà dặn bảo dân sự 


1 : % 



— 469 — 


ơ an, vì chưa cô lệnh truyền ỉỉbi dậy. Hai phong 
tho- niêm lại mà trạo cho quan thủy sư. 

Ong quan năm bộ Reboul lảnh quyền tồng quản 
tam tỉnh, cỏn ông quan ba bộ Bourchet thì thọ phong 
làm đốc lỷ Vỉnh-Lpng. 

sỏ-m mai bữa sau, lả ngày 21 juin, ông phó quan 
năm thủy Gaỉey với quan thống lý Yial đi chiếc Bỉên- 
Hoà mà qua Chàu-Đốc với một đoản tàu canonnière 
cùng quàn sỉ. Dọc đảng, gặp tại kinh Vào-Nao hai 
chiếc ghe hầu có kéo cờ và che tảng.Thuyền ấy chở 
quan tồng đốc Hả-Tiênqua Rạcb-Giả. Lệnh liền ra mà 
dạy người đến tàu Bỉén-Hoả ; ngưò-i vâng, người ta 
bèn trao thơ ông Phan-T han h-Giảộg cho ngưửi. Quan 
tồng đốc phải ồ- tại tàu, rồi người ta đi luôn qua 
Châu-Đốc, chiếc tảu trong đạo tiều thuyền tới bỏ 
neo trưỏ-c hết chừng lối tám giờ tối. Các chiếc canon- 
nière đều đến lần lần, qua mười một giò- khuya chiếc 
chót đâ tở-i đậu tại chồ đề đấu chiến trước thảnh. 

Khi chiếc Biên-Hoà vừa đinh bạc, thì cỏ một chiếc 
ghe ô vàng lệnh quan tồng đốc sai ưến hỏi người 
langsa muốn chuyện gi, người ta trả lời rằng có thơ 
của ông Phan-Thanh-Giảng gởi dặn bảo đề đưa cho 
quan tồng đốc mà thôi. Quan ấy dụ dự, xin thử đề 
kẻ khác thế cho minh, mà khòng đặng, sau hết chính 
vì người đến tàu, khi ấy nhằm lúc chiếc canonniẻre 
chót mới*dậu. Ngưòi ta trao thơ, người về khán về 
lưởng lự, đoạn nhờ cỏ. một cải lồng đèn thường kia 
đề trong phòng quan cai chiếc aviso chiếu sáng, 
người mới đọc thủng thẳng mấy lởi qụan trèn người 
dạy làm sao và thở ra đòi ba lần. Khi hồi tâm lại, 
người cỏ xin hẹn đề một ít làu sế giao thảnh, mà 
ngưởi ta không chịu. Vậy quan ấy mỏũ xin quan 
thống lỷ lên bở mà nghĩ cho qua đêm ấy, hầu cho 



- 470 — 


cảcquan an-nam khỏi thiệt hại nhem cỏ ngữởâ tại đỏ. 
Người ta có cho quan tồng đốc ỷ chỉ về phương thế 
nầy không ích chi cho lẳm, đầu vậy cũng đẵ định 
cho òngYial lên nghĩ tại dinh quan tồng đốc, còn ông 
quan tư Domange đăng ngạn với một trăm quản. 

Bữa sau, quan thủy sư De la Grandière ngồi tàu 
Ondine mà lẻn tỏi, lúc đi ngang qua, người cỏ dặt 
ông quan hai binh bộ Yignes lảm đốc lỷ tại Sa-Béc. 

Bữa 23 juin, òng phó quan năm thủy Galey ở Cbâu- 
Đốc đi ngẵ kinh mà qua Hà-Tiên vởi chiếc Flamber~ 
ge, một chiếc cbaloupe chạy hơì cùng hai mươi chiếc 
ghe lê chơ binh bộ và linh lệ.ỡng phỏquan năm ấy đi 
với quan thống lý cùng quan tồng đốc đã theo người 
kề tử ngày 21 . Đi được ba phần đảng, chiếc canon- 
nière phải ngừng lại vì kinh cạn ; người ta phải dùng 
hai mưcri bốn giờ mói đền nơi. Lấy đặng Hà-Tiên 
không có sự chi ngăn trở. Ong quan ba bộ Dauvergne 
lảnh quẵn suất miền ấy. 

Khi thâu tam tỉnh hoàn thành, quan thống dốc 
bèn sai ông Legrand de la Liraye, là thông ngôn của 
người, đi chiếc Monge mà ra Huế, đặng đem tin cho 
nhà nước an-nam hay. Các quan đại thần không 
bằng lòng, đều như vậy đềìiiều. Họ* xin trả khi giái 
trong ba tỉnh lại — sự ấy khi trước quan thủy sư có 
chịu cho, song về binh khí nào mà các người giúp 
việc đem đặng mà thôi — vái một phần đất tại hai 
tỉnh Biên-Hòa vả Sài-Gòn đề mà thường lại, sự như 
vậy người ta không chịu là chẳc chẳn. Các ngưò-i an- 
nam giúp việc đều xuống chiếc Ville-de-Huề với khí 
trượng minh đặng đưa về Trung-Kỷ. 



— 471 — 


ÔNG PH AN-TH ANH-GIAN G 

~:DU T I È N 

'Khi thâu ba tỉnh hưởng tày, thi ỏng Phan-Thanh- 
Giảng đã đưọ-c 74 tuồi. Trọn lúc người làm quan 
làu nâm như vậy, người hằng giúp nưức Bại-Nam 
tận tảm vả giữ đức thanh liêm vẹn tuyền. Cuộc biến 
đời khôn lánh khỏi đã lảm cho dứt sự người siêng 
sắng đó, là một chuyện bất công về mạng lỷ, song 
mấy người chí khí đại lượng biết chịu bền đồ mả 
thôi. Thật người lấy làm vững lòng và tỉnh tàm 
tuyệt hảo mả xem xét chuyện xãy đến, lỡi vua trách 
cứ về những lồi người không gánh vảc lại muốn lảnh 
cho khỏi, sự mấy quan nghịch với người ghen ghét 
gièm siềm và làm cho người mất danh tiếng nữa. 
Người biết cách ra khỏi mấy chuyện đó mả‘được 
vĩnh hiền như một đấng thánh hiền kia vậy. Khỉ người 
dạy sảm sữa thọ đường an bải củng viết một phong thơ 
dài đảng mủi lòng mà gởi cho quan thủy sư De la 
GrandỶère, thi người kẻu gia quyến người lại, khi ấy 
đã vời về Vỉnh-Long, rồi dặn chung các con người 
đừng làm tôi nước Langsa, song phải ở yên tại làng 
chúng nó và biều phải nuôi nấng dạy dồ mấy đứa 
cháu như người langsa vậy, rồi người uống nhiều 
á-phiện trưỡc mặt bà con thân quyến. 

ỏng Le Coniat, lả lương y thuộc thủy, cỏ ra sức 
cứu thữ òng lảo anh danh nầỵ mà không đặng, người 
• sống thèm đưọ-c hai ngày, rồi qua mồng 5 juiỉlet 
1867, ngưỏ-i tẳt hơi. * 

Quan thuy sư De la Grandiẻre có viết cho trương tữ 
òng Phan một cải thơ điếu tang vả dạy de quan cữu 
ngưởi trên một chiếc ghe lớn mà bầt chiếc canonnière 
dắc xuống cho tới Bảo-Thạnh, là lảng quán ông Phan- 



— 472 - 


Thanh-Giảrtg, gần cưa Ba-Lai (tĩnh Bến-Trẽ-ỳ Gỏ cho 
một toán binh bộ,langsa tống táng trưỏ-c raẳt vô số 
nhơn dân trợ giúp. Mã người thi xây tầm thưởng lẳm 
và cỏ đề câu chữ nầy : Lương-Khê Phan lảo nông 
chi mộ. Nay mã đỏ cỏ hai ông giả khảc gin giữ, lả 
Phan-Đôn-Hậu với Phan-Đôn-Khải, ỉà con vỏì cháu vì 
khanh tưứng ấy. Đặng chỉ về sự kính trọng danh 
tiếng người an-nam đại độ nầy, ta xin kề lại sau dây 
một dõi hàng mưọ-n của hai vị làm sách đã thấy người 
tỏ rỏ và khi người khuất trần rồi, có lấy lẻ còng mả 
xét cho ngưòỊ, lả chuyện triều đỉnh Huế dã bảt. 

ông Phan-Thanh-Giẫng chết đi thì làm cho dứt hết một mạng 

sống kia trong sạch cùng siêng sắng Trong năm năm, ông 

nầy, lả một vị khôn ngoan, duệ trí hem hết trong cảc người an- 
nam, hằng nhứt quyết chống cự cùng quò-n phép chủng ta luôn, 
dôi phen cũng tùng theo sự mấy kẻ dồng bang định chừng và 
vọng tưồ-Dg nữa, cho đến doi trỏng cậy có lẻ chúng ta nghe 
theo lòi vua Tự- Bức hứa mà bỏ đất nầy, là dều bảo lảnh về mạng 
sống và bề thong thả nữa triệu con dàn có dạo đã chịu cho chúng 
ta phò tri. Song khi chúng ta dỉnh bén, thi người bị phong tục, thói 
phép và nhứt là trí chúng tatưỏ-Dg về sự dạo quyến dụ lòng ngưò-i. 
Sau hềt, người mói hiều rằng, noi chúng ta, cách nhem dân ăn 
ỉr vó-i nhau đả sẳp dặt chinh lý han, cữu trường hon, thung dung 
hơn và quảng dại ho n phầm hạnh ngưò-i canh đòng nầy ; ông 
ấy biết sự buôn bán thăng thả và châu truyền các lẻ thông thái 
trong nhơn dàn thi ân là -dường nào ; lại bỏi thương mà'y kẻ đồng 
hương, bồ-i ưỏ-c ao thấy họ có phưó c.nền lần lần người mỏi bỏ 
họ theo số mạng, tuy vậy cũng liếc mắt xem lại mấy việc 
dã qua mả tiếc, trong lương tâm hằng ỉưởng ỉự về cách sống 
mỏi Dầy, nó đã đúng tới tri hoá ngưòi, cũng về những chuyên 
cũ mả lòng người còn nhỏ-, là chuyện làm cho nguò-i trỗ- lại lúc 
xuân xanh tuồi trẻ. (Via]). 

Khi ta biết, thl người là một ông lảo kia phương phi, dung 
nghi toàn hảo, diện mạo cao sang cùng duệ tri. 

Ngưỏ-i đáng ngọ-i khen nầy biết dã lảu rằng, không sức mà 
chống cự vói nưởc Langsa, đoản ^xét chiến tranh vô ích, vi 



— m — 


ngưò-i an^nam phai đồ máu mà thôi. NgưỂri trồng cây cho tử 
giao hoả thi hành y theo, cho liệc vị đồng bang trỗ 1 nẻn đẻ tử 
chúng ta, cụng như học đòi cuộc giáo hoá chúng ta vây. 

Mấy điều mcr tưởng các đấng đại lưọ-ng ít khi tạo thành đặng ; 
khi cuộc giáo hoá kia rút cuộc giảo hoả nọ thl phải có sự chnỵỉìn 
động mạnh mẻ, chống chỏi lâu ngày và đau đỏm lắm. Dầu cho 
ông Phan-Thanh-Giảng ra sức ngăn ngừa, thi nhà nưó-c langsa 
cũng đã mỏi mẻ về những chuyện đảnh phá khôn dứt bởi ba 
tỉnh hưòmg tây mà ra, hết sức chịu về ý xấu hằng thêm cùa 
triều dinh Huế, nên mỏ-i sáp nhập ba tỉnh ấy vảo Nam-Kỳ langsa. 

ỏng Phan-Thanh-Giẳng không chống ỉại chút nào, vì người 
biết trưó-c vò ích. Ngưửi dạy nọp thành cho quàn sĩ íangsa, thi 
ngưòi ta vâng lòi. Song, bởi trưug với vua và muốn cho đặng 
phạt mình về sự mtnh không sức ngăn cãng, thi ngưòi từ chối 
mấy-chuyện kẻ thắng trận đã rộog lòng chịu cho và uống thuốc 
độc cách tĩnh tảm lắm, như một ngưdri romain xưa kia vậy. 

Quan kỉnh lưọ-c tam tĩnh giữ lương trí thong thả cho tói cùng, 
người chết tại nhả tranh kia nghẻo khồ, là cho người dã ĩr trong 
lúc trị dàn, như váy Jà muốn làm gưomg cho mỗi ngưỉri về sự 
bất cầu lọi, v'ê sự cơ bần cùng thanh liêm nghiêm nhặt trong 
khi làm quan cao phầm. (Luro). 


CHUNG 




TỊPA 


I 


Khoản thứ nhứt 
BẲC-KỲ 

Bò- cỏi nưó-c An-Nam 

Ti'ển nhựt ' 

Nhà Hồng-Bàng 

Sự cai tạ vua nưác Thục 

Nhà Triệữ ],*![”*** 

Khoản thử II 
TRUNG-KỶ 

Nhà Triệu (tiếp theo)  

Trung-Quốc chiếm trị 

Nhà Binh 

Nhà Lẻ (tiền) 

Nhả Lý . . . . . . . . . . . . ' * ■ ’ ' ' * ' * ' ; ; * ; ; * * 

Nhà Trân !””.!!!!! 1 ’ ' 

Họ HỒ tiếm vị ' * *■ 4 ' ^ ' ' ' ' ' ' ' 

Trung-Quồc chiếm trị ’ 

Nhà Lẻ 

Họ Mạc tiếm vị 

Nhà Lê khôi phục 1 ! 1 . . . 

Khoản thứ III 
NAM-KỲ 

Nhà Lê khôi phục (tiếp theo) í .... . 

Tây-Sơn dấy loạn. 

Nhà Nguyễn . 

Khoản thứ IV 

NGườI LANGSA CHIỀM cứ 

Chuyện nưỏ-c Tàu 

Soán lấy Cừa-Hàn. .. * 4 f * " * * * 

Sai binh .đảnh Nam-Kỳ năm 1 859-1 860 .*!.*! * 

Sai binh đảnh Nam-Kỷ năm 1861 .777. 


1 

2 

10 

17 

19 


21 

26 

53 

57 

58 
70 

85 

86 
92 

103 

110 


123 

147 

198 


221 

227 

237 

272 



—'476 — 

TRƠO’NG 

Hàm tây đòn Chỉ-Boà 281 

Bũồỉ theo đại bmh an-nam 303 

Qui thuận xử chiếm đặng 308 

Lũy thành MỘTĨho. .... 311 

Thì sự trong xứ saậ khi lấy đợợc Mỷ-Tho 330 

Khoản thứ V 

THỦY sư* THÒNG ĐỐC 

QUAN THỦY Sư BONARD . 

Trí vẻ quan thủy sơ..'. !' 367 

Dấy viêc binh lại , . 373 

Đăng thành Biên- H oà *. 376 

Chuyện bối rọi tiêp sanh và đánh tây Bả-Rịa .. . 386 

Lẩy thành Vỉnh-Long và chuyện hành binh 392 

Sữa sang lại. Lập cảc sở và khai công việc 396 

Lê-Phụng dấy loạn lại Bắc-Kỳ 405 

Lúc bình an nàm 1862. Thù tạc YỚi nước Cao-Man. Nồi loạn 
năm 1862-1863 (Lấy Gò-Công lại) _ 411 

QUAN THỦY Sư DE LA GRANDIÈRE 

thầ trong xứ. Sai một bộ sử an-nam qua Paris 426 

tíảo hộ nơỏ-c Cao-Man 429 

Sự thề trong xử 436 

Đạo sứ an-nam ỏ- tại Paris cùng khi trô’ vê. 439 

Ông quản Bịnh khuất trần 443 

QUAN THỦY Sư ROZE 

L$ vui choi tại Chợ- Lỏn 446 

Chuyên Mỷ-Trả . . . . 447 

Lập ra vả lảm một ít việc 448 

QUAN THỦY Sư DE LA GRANDIÈRE 

Cuộc hành quân tại trảng Thảp.Mưòi 449 

ỠDg Pù-Kầmbô dấy loạn 45! 

Choán lấy ba tỉnh hưỏugtàỵ 462 

Ông Phan-Thanh-Giảng du tiên 471 



Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Giáo Dục

Xem thêm:   Hạnh phúc đơn giản lắm, chỉ cần học cách quên và tha thứ thôi

Xem thêm :  Top 5 Phần Mềm Giả Lập Xbox 360 Cho Pc », Top 5 Phần Mềm Giả Lập Xbox One Cho Windows Pc