Kiến Thức Chung

đặc điểm ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng trong ca dao nghệ tĩnh luận văn thạc sỹ ngữ văn

đặc điểm ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng trong ca dao nghệ tĩnh luận văn thạc sỹ ngữ văn

doc – 88 trang

Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o

Trêng ®¹i häc vinh

NguyÔn thÞ thñy

§ÆC §IÓM ng«n ng÷

ThÓ hiÖn ý nghÜa trµo phóng

Trong ca dao nghÖ tÜnh

Chuyªn ngµnh: lÝ luËn ng«n ng÷

M· sè: 60.22.01

LuËn v¨n th¹c sÜ ng÷ v¨n

Ngêi híng dÉn khoa häc:

pGs.ts. phan mËu c¶nh

Vinh – 2011

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………………….1

1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………………………………..1

2. Lịch sử vấn đề…………………………………………………………………………………..2

3. Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu………………………………………….4

4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………………………….5

5. Đóng góp của luận văn……………………………………………………………………….5

6. Cấu trúc của luận văn…………………………………………………………………………6

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI….7

1.1. Khái niệm ca dao và ca dao trào phúng……………………………………………..7

1.1.1. Khái niệm ca dao………………………………………………………………………….7

1.1.2. Khái niệm trào phúng và ca dao trào phúng……………………………………11

1.2. Vài nét về Nghệ Tĩnh và ca dao Nghệ Tĩnh………………………………………17

1.2.1. Vài nét về Nghệ Tĩnh………………………………………………………………….17

1.2.2. Ca dao Nghệ Tĩnh……………………………………………………………………….20

1.3. Tiểu kết chương 1………………………………………………………………………….25

Chương 2: CÁC LỚP TỪ NGỮ THỂ HIỆN Ý NGHĨA TRÀO PHÚNG

TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH…………………………………………………………27

2.1. Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười hài hước, mua vui………………………………27

2.1.1. Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười mua vui về tình yêu nam nữ……………..27

2.1.2. Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười mua vui về hôn nhân gia đình…………..30

2.1.3. Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười về thói hư tật xấu của con người……….37

2.1.4. Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười về những vấn đề xã hội……………………39

2.2. Lớp từ ngữ biểu thị thái độ châm biếm, phê phán………………………………41

2.2.1. Lớp từ ngữ biểu thị thái độ châm biếm, phê phán những thói hư tật xấu

của con người……………………………………………………………………………………..41

2.2.2. Lớp từ ngữ châm biếm, đả kích chế độ phong kiến, đế quốc, thực dân

và một số hạng người trong xã hội…………………………………………………………49

2.3. Tiểu kết chương 2………………………………………………………………………….56

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC CƠ BẢN BIỂU THỊ Ý NGHĨA

TRÀO PHÚNG TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH………………………………..57

3.1. Hình thức chơi chữ………………………………………………………………………..57

3.1.1. Dùng từ đồng âm………………………………………………………………………..58

3.1.2. Nói lái……………………………………………………………………………………….59

3.1.3. Một số thủ pháp chơi chữ khác…………………………………………………….62

3.2. Các hình thức so sánh, đối lập…………………………………………………………63

3.2.1. Hình thức so sánh……………………………………………………………………….63

3.2.2. Kết cấu tương phản, đối lập…………………………………………………………66

3.3. Các hình thức nói ngược, cường điệu, phóng đại……………………………….67

3.3.1. Sử dụng lối nói ngược…………………………………………………………………67

3.3.2. Thủ pháp cường điệu, phóng đại…………………………………………………..70

3.4. Thủ pháp ẩn dụ……………………………………………………………………………..74

3.5. Sử dụng yếu tố tục…………………………………………………………………………76

3.6. Tiểu kết chương 3………………………………………………………………………….78

KẾT LUẬN……………………………………………………………………………………….79

TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………….81

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

1.1. Trong kho tàng ca dao Việt Nam, cùng với những bài ca dao về

tình cảm gia đình, về tình yêu quê hương, đất nước, con người thì ca dao trào

phúng cũng là một mảng nội dung đặc sắc, thu hút mọi người, mọi thế hệ.

Ca dao trào phúng mang tính hiện thực sâu sắc, hơn nữa, nó còn mang

tinh thần chiến đấu mạnh mẽ. Ca dao trào phúng có thể là tiếng cười hài hước

mua vui hoặc có thể là tiếng cười trào lộng, đả kích, châm biếm… Nhưng nói

chung, tất cả đều muốn thể hiện những mơ ước chính đáng của người dân lao

động, mơ ước về một cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Trào phúng thực

sự cần thiết cho quần chúng lao động bất kể ở thời điểm nào của lịch sử. Bên

cạnh những giá trị về nội dung, nghệ thuật tạo dựng trào phúng trong ca dao

cũng là một đóng góp không nhỏ cho nền văn học dân tộc. Nó thực sự là kho

báu của người Việt, là vốn nghệ thuật đặc sắc của mọi thời đại.

1.2. Nghệ Tĩnh khi là hai châu, hai phủ, hai lộ, hai tỉnh… khi là một

quận, một châu, một lộ, một thừa tuyên, một trấn, một tỉnh, song người các

địa phương khác quen gọi vùng đất sông Lam núi Hồng này là xứ Nghệ.

Nghệ Tĩnh là một vùng địa lí – hành chính có nhiều điểm khác biệt về địa lí,

lịch sử, dân cư, ngôn ngữ, văn hóa. Nghệ Tĩnh có một kho tàng thơ ca dân

gian phong phú, đa dạng gồm nhiều thể loại, có nhiều nét độc đáo trên cả hai

mặt hình thức và nội dung, trong đó không thể không nhắc đến ca dao trào

phúng. Ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh có nhiều biểu hiện, nhiều sắc thái, mang

đậm dấu ấn tính cách người Nghệ.

1.3. Thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh nói chung, ca dao trào phúng Nghệ

Tĩnh nói riêng đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu trong một

số công trình nhưng hướng nghiên cứu hầu như chỉ tập trung khai thác phần

nội dung mà chưa chú ý đến hình thức thể hiện. Bởi vậy, việc nghiên cứu hình

1

thức ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh, các phương thức biểu hiện trong ca dao

trào phúng Nghệ Tĩnh, trong đó có ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng đang

là một đòi hỏi bức thiết cần phải được quan tâm nghiên cứu.

Từ những lí do trên, chúng tôi chọn Đặc điểm ngôn ngữ thể hiện ý

nghĩa trào phúng trong ca dao Nghệ Tĩnh làm đề tài cho luận văn của mình.

2. Lịch sử vấn đề

Ca dao trào phúng Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu quan tâm ở

một số góc độ nhất định.

Tác giả Bùi Quang Huy trong Thơ ca trào phúng Việt Nam khẳng định:

Nói đến thơ ca trào phúng Việt Nam, trước hết phải nói tới ca dao, dân ca.

Không ở đâu tiếng cười lại đa dạng, phong phú, rộn rã như trong sáng tác

dân gian… Tiếng cười trong ca dao trào phúng trở nên sâu sắc mạnh mẽ khi

vạch trần được những mâu thuẫn mang tính hài của xã hội. Khi nhìn nhận ở

góc độ cấu trúc ngôn ngữ, Bùi Quang Huy cho rằng: Ca dao trào phúng đã

thể hiện một trình độ sử dụng ngôn từ hết sức uyển chuyển và hiệu quả.

Trong Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, tác giả Vũ Ngọc Phan đề cập

đến những bài ca dao có tính chất trào lộng. Ông cho rằng, ca dao có những

bài cười cợt, chế giễu nhiều việc ở đời, cách cường điệu hóa tạo nên tiếng

cười nhẹ nhàng vui vẻ. Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã dành khá nhiều thời

gian bàn về tình cảm, tính cách của người phụ nữ trong xã hội cũ thể hiện

trong ca dao trào phúng. Đó là cảnh lẽ mọn, cảnh chồng chung vợ chạ, cảnh

làm lẽ bị áp bức bóc lột hết sức nặng nề.

Trong cuốn Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Cao Huy

Đỉnh nhận xét: Cái cười của nhân dân phê phán những cảnh lố lăng, trái

ngược, hư hỏng trong sinh hoạt bình thường của nhân dân, những thói hư tật

xấu phải được uốn nắn, tẩy trừ.

Một số nhà nghiên cứu khác trong lịch sử văn học Việt Nam khi phân

tích nghệ thuật trong ca dao đã nhận xét: Ca dao của ta có nhiều hình tượng

2

tế nhị kín đáo nhưng ca dao của ta cũng có nhiều tiếng cười rộn rã. Ở đây,

chúng ta gặp lại nghệ thuật ngữ ngôn trong lộng chữ, chơi chữ, trong đối lập

hình tượng tự nhiên và không tự nhiên. Nhưng các tác giả chưa đặt tiếng cười

trong ca dao trào phúng thành một vấn đề riêng để nghiên cứu.

Trong Bình giảng ca dao, tác giả Hoàng Tiến Tựu cho rằng: Trong ca

dao trào phúng có những chuyện hư cấu, bịa đặt để mua vui giải trí nhưng đó

là sự bịa đặt thiên tài với cấu tứ và dựng chuyện không phải ai cũng làm

được. Trong cuốn Văn học Việt Nam, Hoàng Tiến Tựu đã phân loại ca dao

truyền thống người Việt thành 6 loại, đó là: đồng giao, nghi lễ – phong tục, lao

động, trào phúng bông đùa, ru con và trữ tình. Tiếc rằng, tác giả mới chỉ đi

sâu phân tích bốn loại đồng giao, lao động, ru con và trữ tình, còn ca dao nghi

lễ – phong tục và ca dao trào phúng lại chưa được phân tích. Bù lại, trong

Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (dùng cho hệ Cao đẳng sư phạm), ông

đã có sự khẳng định về ca dao trào phúng với các hình thức nói ngược, trái tự

nhiên, hướng vào đối tượng là những thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân,

đặc biệt là bộ phận ca dao chống mê tín dị đoan, chống sư sãi và giai cấp

thống trị. Hoàng Tiến Tựu khẳng định: Ca dao trào phúng là bộ phận ca dao

bộc lộ sự châm biếm, chế giễu của nhân dân đối với những thói hư tật xấu,

những hiện tượng đáng cười trong đời sống xã hội. Mua vui, giải trí, phê

bình, giáo dục, đấu tranh, đả kích là những tác dụng đồng thời cũng là chức

năng chung của bộ phận ca dao này.

Có thể thấy, ca dao trào phúng đã được các nhà nghiên cứu quan tâm

trong các công trình về văn học dân gian nói chung nhưng hầu như các tác giả

đều hướng sự chú ý đến phương diện nội dung, ý nghĩa và chưa chú ý nhiều

đến hình thức thể hiện. Luận văn thạc sĩ với đề tài: Đặc điểm ngôn ngữ trong

ca dao trào phúng Việt Nam (2007) của tác giả Nguyễn Thị Thúy Vân có thể

được xem là công trình đầu tiên nghiên cứu về ngôn ngữ biểu hiện trong ca

dao trào phúng. Trong công trình này, tác giả đã tập trung tìm hiểu ngôn ngữ

3

trong ca dao trào phúng Việt Nam ở hai khía cạnh: các lớp từ ngữ thể hiện ý

nghĩa trào phúng và các phương thức biểu thị ý nghĩa trào phúng.

Ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh vừa là một bộ phận của ca dao Nghệ

Xem thêm :  Dàn ý + 4 mẫu bài văn hay nhất

Tĩnh nhưng đồng thời cũng là một bộ phận của ca dao trào phúng Việt Nam.

Bởi vậy, nó vừa mang trong mình những đặc điểm của ca dao trào phúng Việt

Nam nói chung nhưng đồng thời cũng mang đậm bản sắc của con người xứ

Nghệ thể hiện trên cả phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật.

Tuy nhiên, cũng như ca dao trào phúng Việt Nam, ca dao trào phúng

Nghệ Tĩnh mới chỉ được các nhà nghiên cứu quan tâm tập trung khai thác

phần nội dung mà chưa chú ý đến hình thức thể hiện. Bởi vậy, vấn đề hình

thức ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh, các phương thức biểu hiện trong ca dao

trào phúng Nghệ Tĩnh trong đó có ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng đang

là một vấn đề bỏ ngỏ, chờ đợi sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.

3. Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Phạm vi nghiên cứu

– Trong luận văn này, chúng tôi tìm hiểu: Đặc điểm ngôn ngữ thể hiện ý

nghĩa trào phúng trong ca dao Nghệ Tĩnh, khai thác phương diện nội dung và

nghệ thuật tạo dựng cái cười trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh.

– Tư liệu ngôn ngữ khảo sát phục vụ cho việc tìm hiểu trên là bộ phận

ca dao trào phúng trong cuốn Kho tàng ca dao xứ Nghệ (tập 1, tập 2) do Ninh

Viết Giao (chủ biên), Nguyễn Đổng Chi, Võ Văn Trực biên soạn, Nxb Nghệ

An năm 1996.

3.2. Mục đích nghiên cứu

– Góp phần tìm hiểu một lĩnh vực còn khá mới mẻ và thú vị trong

nghiên cứu ngôn ngữ ca dao (từ góc độ ngôn ngữ học xã hội và văn hóa).

– Trong phạm vị ngữ liệu mà tác giả luận văn có thể tiếp cận được, tiến

hành phân tích các yếu tố ngôn ngữ tạo dựng cái cười, làm rõ tài năng nghệ

thuật và những nét văn hóa độc đáo của người dân xứ Nghệ, qua đó góp phần

Xem thêm:   Thơ đêm buồn tâm trạng cô đơn, một mình lẻ loi hay ý nghĩa nhất

4

khẳng định thêm những biểu hiện phong phú về tâm hồn, tình cảm, tư tưởng,

quan niệm của người dân nơi đây.

3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi đặt ra cho luận văn phải giải quyết những vấn đề sau đây:

– Thống kê, phân tích và miêu tả các biểu hiện mang ý nghĩa trào phúng

qua hệ thống từ ngữ, nội dung phản ánh trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh.

– Chỉ ra các cách thức biểu thị ý nghĩa trào phúng được sử dụng trong

ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh.

4. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu các

phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:

– Dùng phương pháp thống kê để tiến hành xác lập và phân loại tư liệu

những bài ca dao Nghệ Tĩnh thể hiện ý nghĩa trào phúng.

– Dùng các thủ pháp phân tích, miêu tả để định lượng và định tính các

đặc điểm ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng trong ca dao Nghệ Tĩnh.

– Dùng phương pháp so sánh đối chiếu để chỉ ra những nét đặc hữu địa

phương Nghệ Tĩnh trong việc tổ chức ngôn từ thể hiện ý nghĩa trào phúng.

5. Đóng góp của luận văn

Luận văn đi sâu vào tìm hiểu các đặc điểm ngôn ngữ mang ý nghĩa trào

phúng trong ca dao Nghệ Tĩnh một cách tỉ mỉ, có hệ thống theo cách tiếp cận

ngôn ngữ – văn hóa học. Các lớp từ ngữ cùng các cách thức biểu thị ý nghĩa

trào phúng trong ca dao trào phúng của người Nghệ Tĩnh được trình bày trong

luận văn là những đóng góp cụ thể về lí thuyết ngôn ngữ trong ca dao Việt

Nam nói chung.

Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn còn có giá trị

thực tiễn đối với việc tiếp cận, nghiên cứu, học tập và giảng dạy ca dao trào

phúng trong nhà trường phổ thông và đại học.

5

6. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung của

luận văn triển khai trong ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Các lớp từ ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng trong ca dao

Nghệ Tĩnh

Chương 3: Một số phương thức cơ bản biểu thị ý nghĩa trào phúng

trong ca dao Nghệ Tĩnh

6

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Khái niệm ca dao và ca dao trào phúng

1.1.1. Khái niệm ca dao

Trong Lời nói đầu quyển “Sáng tác thơ ca dân gian Nga, Bôgatưriep

-nhà nghiên cứu văn học Liên Xô, đã nhận định: Ca dao nói riêng và các tác

phẩm văn học dân gian nói chung thường tồn tại rất lâu, được truyền tụng từ

miệng người này sang miệng người khác, thường xuyên được nhiều thế hệ

xây dựng, bồi đắp…

Có thể nói, ca dao là những sáng tác văn chương của nhân dân lao động

được phổ biến rộng rãi ở một vùng, nhiều vùng hay trong toàn quốc, được lưu

truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định. Nó đã ổn định, bền

vững về phong cách, nghệ thuật cấu trúc ngôn từ và phần lớn là mang nội

dung trữ tình. Sau đây, chúng tôi xin trình bày một số vấn đề xung quanh thể

loại văn học này.

– Về thuật ngữ

Bàn về thuật ngữ ca dao, Minh Hiệu cho rằng: Ở nước ta, thuật ngữ

“ca dao” vốn là một từ Hán Việt được dùng rất muộn. Có thể muộn đến hàng

ngàn năm, so với thời gian đã có những câu ví, câu hát. Nhận định của Minh

Hiệu là rất có cơ sở. Bởi theo Cao Huy Đỉnh thì: Dân ca và văn truyền miệng

của dân tộc Việt Nam đã ra đời rất sớm, và ở thời đại đồ đồng, chắc nó đã

phồn thịnh và phức tạp. Trình độ sáng tác và biểu diễn cũng tương đối cao,

nghệ sĩ cũng ra đời với ca công và nhạc cụ tinh tế [29,121].

Điều mà Cao Huy Đỉnh và Minh Hiệu nói đều được xác nhận bằng

những chứng tích cụ thể. Lịch sử Việt Nam cho biết: Đời Tần ở Trung Quốc,

trong cuốn Giao Châu kí, Lưu Hán Kỳ đã nói đến chuyện ở nông thôn Giao

7

Châu thời ấy, trẻ mục đồng cưỡi trâu thổi sáo và hát các bài đồng dao của

người Việt (ở Châu Giao).

Như vậy, có thể thấy, thuật ngữ ca dao không phải bắt nguồn từ truyền

thống văn học dân gian mà do các nhà sưu tầm và soạn sách về thơ ca dân

gian mượn từ sách Hán Thi và mượn luôn cả cách định nghĩa của họ.

– Về thời kỳ xuất hiện của ca dao

So với thần thoại và truyền thuyết, ca dao có một hình thức văn nghệ

tưởng như mới hơn. Nhưng theo các kết quả nghiên cứu thì tục ngữ, ca dao

cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Hành vi ca hát đã có

từ rất sớm, nó xuất hiện trong hoạt động lao động của loài người từ thời cổ sơ

với những câu hò kiểu như dô ta, và được lưu truyền, sửa đổi từ thế hệ này

sang thế hệ khác. Khi xem xét nội dung của những câu như: Năm cha ba mẹ,

Sinh con rồi mới sinh cha/ Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông, Con dại cái

mang, Con mống sống mang… ta có thể đoán biết được thời điểm xuất hiện

của chúng, đó có thể là vào thời kì tạp giao hay tình trạng chồng chung vợ

chạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ rồi đến phụ hệ.

– Về nội dung của ca dao

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan khẳng định: Muốn hiểu biết về tình

cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắm thiết và sâu sắc đến cỡ

nào thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được. Ca dao

Việt Nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta

[67,52]. Bởi lẽ, khi tìm hiểu nội dung của ca dao, tác giả đã đi đến kết

luận: Nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện cái nội tâm

của tác giả trước ngoại cảnh.

Ca dao là sự thể hiện tình yêu, từ tình yêu đôi lứa đến tình yêu gia đình,

quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên…

8

Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên,

với xã hội… Nhưng có thể nói, nội dung chủ yếu của ca dao chủ yếu là trữ

tình. Tìm hiểu được cái tình trong ca dao, chúng ta sẽ thấy được tính chiến

đấu, tinh thần phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa ẩn chứa trong đó.

– Về hình thức nghệ thuật của ca dao

Ca dao thường là những bài ngắn, hai, ba, bốn, sáu hoặc tám câu, âm

điệu lưu loát và phong phú. Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần

vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị và tươi tắn, nghe có vẻ

như lời nói thường ngày mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được

những tình cảm sâu sắc. Có thể nói, về mặt tả cảnh, tả tình, không có một

hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao.

Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt nhưng

cũng có khi để nói về những cái xấu một cách gián tiếp. Nhờ thủ pháp hình

Xem thêm :  Ngành nghề kinh doanh hot nhất hiện nay là gì?

tượng hóa nên lời ca dao tuy giản dị mà lại rất hàm súc. Hai thể thức thường

gặp trong ca dao là thể tỉ và thể hứng.

Tỉ là so sánh. Trong ca dao, người ta thường mượn một cái khác để ngụ

ý, so sánh hay gửi gắm tâm sự của mình. Đây là thủ pháp nghệ thuật chủ yếu

trong sự diễn đạt tư tưởng và tình cảm. So sánh cũng là một lối cụ thể hóa

những cái trừu tượng, làm cho lời thêm ý nhị, tình tứ và thắm thiết.

Hứng là do cảm xúc mà nảy nở tình cảm, có thể là vui cũng có thể là

buồn. Ca dao cũng thường dùng thủ pháp này để bộc lộ cảm xúc với ngoại

cảnh, mở đầu cho sự biểu lộ tâm tình.

– Về quan hệ giữa ca dao và một số thể loại khác

+ Quan hệ giữa ca dao và dân ca

Xem thêm:   Tại sao máy bay trông rộng rãi hơn thực tế

9

Trong một công trình nghiên cứu nổi tiếng của mình, Vũ Ngọc Phan

luôn gắn liền ca dao với dân ca. Bởi theo tác giả, ca dao và dân ca tuy hai mà

một: Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta tước bỏ những tiếng

đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca thì chúng ta thấy bài

dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Có thể nói, ranh giới giữa ca dao

và dân ca không rõ. Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu, còn dùng

một bài ca dao để hát thì bài ca dao sẽ biến thành bài dân ca [67,14]. Về nội

dung, dân ca cũng như ca dao chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện cái nội tâm

của tác giả trước ngoại cảnh. Điểm khác nhau giữa ca dao và dân ca, theo Vũ

Ngọc Phan, có chăng là ở nguồn gốc. Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca

khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn cảnh nhất định hay

những địa phương nhất định cho nên dân ca nhiều khi chỉ có dân địa phương

mới biết và mới hát được. Dân ca thường mang tính chất địa phương. Còn ca

dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể

nào thì nó vẫn được phổ biến rộng rãi, nhân dân nhiều nơi đều biết và đều có

thể ngâm nga.

Nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh cũng chỉ ra rằng: Những công trình sưu

tập dân ca gần đây như Hát phường vải Nghệ Tĩnh, Dân ca quan họ Bắc

Ninh… trước đây đều là ca dao [29,154]. Ca dao sinh ra, lan truyền và biến

đổi chủ yếu là thông qua sinh hoạt dân ca. Chính vì vậy mà trên phần lớn ca

dao trữ tình còn in rõ khuôn dấu dân ca.

+ Về quan hệ giữa ca dao và văn vần

Các soạn giả Từ điển tiếng Việt phổ thông cho rằng: Ca dao là thơ dân

gian truyền miệng dưới hình thức câu hát và thể loại văn vần thường làm

theo thể lục bát, có hình thức giống như ca dao cổ truyền. Điều đó chứng tỏ

ca dao có mối quan hệ mật thiết với thơ trữ tình. Có sự nhất trí cao giữa các

nhà nghiên cứu khi khẳng định ca dao là lời thơ, là thơ đối đáp, là một thể thơ

dân gian, là thơ dân gian truyền miệng.

10

1.1.2. Khái niệm trào phúng và ca dao trào phúng

1.1.2.1. Khái niệm trào phúng

Khái niệm trào phúng có liên quan đến khái niệm cái hài trong mĩ

học. Cái hài, bên cạnh cái bi, cái đẹp, cái cao cả, là một phạm trù mĩ học

căn bản, xác định giá trị thẩm mĩ thông qua việc phát hiện mâu thuẫn có

ý nghĩa của hiện thực và thông qua thái độ phê phán đối với tính mâu

thuẫn ấy, xuất phát từ lí tưởng thẩm mĩ. Theo Lại Nguyên Ân, cái hài

được mĩ học châu Âu tìm hiểu từ rất sớm, từ thời cổ Hi Lạp và thu hút sự

chú ý của nhiều học giả. Trên tinh thần cơ bản, cái hài được xác định là

kết quả của sự tương phản, sự bất đồng, sự mâu thuân; giữa xấu và đẹp

(theo Aristote), giữa cái quan trọng giả và cái quan trọng thật (theo

Heghel), giữa cái nhỏ nhặt và cái cao cả (Kant), giữa cái nhỏ nhặt, trống

rỗng bên trong và bề ngoài mang tham vọng có nội dung, có ý nghĩa thực

(Tchernychevski), giữa cái vô lí và cái hữu lí (Jean Paul)

Theo mĩ học Mac – Lê nin, cái hài thường gắn với tiếng cười. Cần phân

biệt cái hài với tiếng cười. Cái hài là hiện tượng gây cười chứ không phải là

bản thân tiếng cười. Trong quan hệ thẩm mĩ, cái hài tồn tại trong tư cách là

đối tượng – chủ thể. Tiếng cười là kết quả nhận thức về cái hài. Vì vậy, cái hài

là một hiện tượng thẩm mĩ tồn tại khách quan, là phương tiện gây cười. Cái

hài bao gồm cả tiếng cười, nhưng không phải tiếng cười nào cũng là biểu thị

của cái hài. Cái cười chỉ có thể được coi là biểu hiện của cái hài nếu nó bật ra

khi người ta khám phá ra những mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng, giữa

nội dung bên trong và hình thức bên ngoài.

Cái hài nhìn chung là sự mâu thuẫn giữa các hiện tượng không hoàn

thiện và kinh nghiệm tích cực của nhân loại, được khắc ghi ở các lí tưởng

thẩm mĩ; là sự không tương dung mang ý nghĩa xã hội giữa mục đích và

phương tiện, giữa hình thức và nội dung, giữa hành động và hoàn cảnh, giữa

bản chất và cách biểu hiện của nó, giữa tham vọng cá nhân và các khả năng

11

chủ quan của nó. Mĩ học Mác – Lê nin quan niệm cái hài là một phạm trù mĩ

học cơ bản vì cái hài là đặc tính vốn có của đời sống thực tại: mọi lúc, mọi

nơi đều đầy rẫy những yếu tố có thể gây cười. Cái hài, vì vậy đã trở thành một

trong những nguồn cảm hứng góp phần khẳng định trí tuệ con người trong thơ

ca nhạc học

Trào phúng là nghệ thuật phát hiện và thể hiện các yếu tố hài hước,

những yếu tố gây cười trong cuộc sống. Trào phúng là sản phẩm của phạm trù

cái hài. Trong đời sống, những biểu hiện cụ thể của phạm trù cái hài là vô tận,

vì vậy, trào phúng sẽ luôn tồn tại, một mặt với tư cách là một biểu hiện, một

phương pháp của tư duy, một mặt là biện pháp nghệ thuật để phát hiện các

vấn đề của cuộc sống. Thao tác chủ yếu để thực hiện hành vi (sáng tác nghệ

thuật) trào phúng là phát hiện những yếu tố nghịch dị trong cuộc sống để

châm biếm, đả kích, và nhiều khi chỉ để mua vui.

Khái niệm trào phúng được định nghĩa trong từ điển một cách khá ngắn

gọn, đơn giản, và hiện nay trong các từ điển thuật ngữ văn học cũng chưa có

mục từ giải thích khái niệm trào phúng. Trong các công trình khoa học, các

chuyên luận nghiên cứu văn học có liên quan đến nghệ thuật trào phúng, một

số tác giả cũng đưa ra nhận định liên quan đến trào phúng nhưng chủ yếu bàn

đến các hình thức trào phúng chứ chưa đưa ra được một khái niệm rõ ràng về

phạm trù này. Có thể tạm hiểu trào phúng là một khái niệm nhằm chỉ hành

động phát hiện và thể hiện những yếu tố gây cười, nhằm để mua vui hoặc để

cất tiếng nói phê phán, châm biếm, đấu tranh với những thói hư tật xấu hay

các thế lực thù địch của con người.

Tóm lại, khái niệm trào phúng là sự khái quát chung cho những tác

phẩm nghệ thuật (không riêng gì văn chương), lấy tiếng cười làm phương tiện

để biểu hiện thái độ gì đó, nhằm vào một đối tượng nhất định. Xét về một

phương diện nào đó, có thể nói trào phúng là cách thể hiện có khả năng đạt

hiệu quả cao hơn, trực tiếp hơn so với các phương thức khác. Năng lực trào

12

phúng chỉ có thể có ở con người, được thể hiện qua ngôn ngữ và chứng tỏ một

trình độ phát triển vượt bậc của trí tuệ con người.

1.1.2.2. Ca dao trào phúng

Tác giả Hoàng Tiến Tựu trong một công trình nghiên cứu của mình đã

chia ca dao dân ca thành 6 tiểu loại: đồng dao, nghi lễ phong tục, lao động, ru

em, trữ tình và trào phúng bông đùa. Phần lớn các nhà nghiên cứu khác lại

chia ca dao – dân ca thành hai tiểu loại: ca dao trữ tình và ca dao trào phúng.

Ngoài ra, còn có một số cách phân loại khác tùy thuộc vào những tiêu chí

khác nhau nhưng nhìn chung trong những cách phân loại ấy vẫn không thể

vắng bóng ca dao trào phúng bông đùa. Điều đó chứng tỏ ca dao trào phúng là

một bộ phận quan trọng, có vị trí không thể thay thế trong kho tàng ca dao

người Việt.

Ca dao trào phúng là những sáng tác dân gian chứa đựng yếu tố gây

cười. Cái cười trong ca dao trào phúng mang những cung bậc, những sắc thái

tình cảm khác nhau: hoặc hài hước mua vui, phê phán nhẹ nhàng, hoặc châm

biếm đả kích gay gắt, quyết liệt. Giữa các cung bậc ấy nhiều khi có sự chuyển

hóa lẫn nhau rất tinh tế, đa dạng.

Không giống như những bộ phận văn học khác, ca dao trào phúng

thường phơi bày những mâu thuẫn, những mặt trái của đời sống, phơi bày

bản chất thực của đối tượng, lột trần những cái xấu xa ngụy trang dưới những

Xem thêm :  Cách Sửa Lỗi Unikey Bị Gõ Mất Dấu Trên Máy Tính, Lap, Page Not Found

vỏ bọc óng ả. Ca dao trào phúng còn là tiếng cười những thói hư tật xấu của

người đời ở đủ mọi tầng lớp, từ một anh làm biếng, một chị chơi nhăng, đến

một Bà già đã tám mươi tư/ Ngồi bên miệng lỗ gửi thư lấy chồng. Ca dao trào

phúng được dùng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng… những tiêu cực,

xấu xa, lỗi thời, độc ác và hướng sự phê phán vào những điều đang tỏ ra lạc

hậu, cản trở tiến trình phát triển của lịch sử. Có thể nói, ca dao trào phúng đã

gần như đề cập đến mọi phương diện của đời sống xã hội. Có lẽ chưa một lĩnh

vực nào, một chủ đề nội dung nào mà tiếng cười trào phúng không len vào

Xem thêm:   Tìm hiểu, phân tích bài thơ qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan

13

được, cho dù ở đấy là nơi tôn nghiêm nhất, thiêng liêng nhất đối với mỗi

người. Bởi vậy, M. M. Bakhtin đã rất có lí khi khẳng định: Không đếm xỉa

hoặc coi nhẹ tiếng cười dân gian thì sẽ làm méo mó cả bức tranh lịch sử phát

triển của nền văn hóa châu Âu về sau này. Điều đó đúng cả với văn hóa Việt

Nam nói riêng và văn hóa nhân loại nói chung.

Rabơle, một nhà nhân văn chủ nghĩa Pháp có nói: Cười là một đặc tính

của con người. Quả thật, nhờ biết cười và đặc biệt là biết gắn cái cười với

nhận thức, trí tuệ mà con người khác biệt hẳn với các loài động vật khác.

Không kể đến cái cười do kích thích cơ năng (do bị cù, nhột), con người có

khả năng bật ra tiếng cười do trực tiếp nhìn thấy và nhận thức được những

hình ảnh, sự việc đáng cười. Con người nhờ có tri năng ngôn ngữ cho nên còn

có thể nhận thức cả cái cười từ những sản phẩm của lời nói và ngôn ngữ đem

lại và nhờ những năng lực đặc biệt, con người còn biết tạo ra những sản phẩm

ngôn ngữ gây cười.

Những cái tức cười, những điều đáng cười trong ca dao trào phúng bao

gồm những yếu tố sau:

– Những sự trái ngược, tương phản, trái logic, oái oăm, trớ trêu của các

sự việc, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội có liên quan đến con người.

– Những sự méo mó, lệch lạc và những sự nhầm lẫn, chồng chéo vô lí

trong các quan hệ, trật tự đã có.

– Những biểu hiện của sự khờ khạo, ngây ngô, ngốc nghếch của con người.

Các nhà nghiên cứu hiện đại đã phát hiện ra nhiều sắc thái đa dạng và

phong phú của trào phúng trong ca dao ở nhiều phương diện: từ sự truyền đạt

những chi tiết giống sự thực một cách tự nhiên chủ nghĩa đến cường điệu tột

bực; từ sự mỉa mai nhẹ nhàng đến chế giễu sâu cay, phẫn nộ. Tiếng cười được

tạo ra từ sự hóm hỉnh cũng như bằng những giọng điệu độc đáo, bằng sự

tương phản giữa những hình tượng, bằng sự nhại lại dáng điệu, hành động…

Tiếng cười trong ca dao trào phúng khác với tiếng cười trong truyện cười dân

14

gian hay truyện tiếu lâm ở chỗ nếu như tiếng cười trong truyện cười được tạo

ra chủ yếu từ những sự kiện, những tình tiết hư cấu có tính chất đặc biệt, cá

biệt, không có trong đời thực thì ca dao trào phúng nhiều khi không nhất thiết

phải dựa vào hư cấu, phải tạo ra hư cấu. Rất nhiều câu, bài chỉ cần nói lên một

sự thật, phản ánh thực tế hiển nhiên, nêu ra nhận xét đơn giản về sự đời… là

đã có thể mang ý vị trào phúng. Ví dụ:

Chanh chua như mụ hàng khoai

Lẳng lơ như gái xóm Đoài làng bên

Thằng mô mà dám đua chen

Lấy về làm vợ tao khen có tài.

Đứng về nội dung mà xét thì tiếng cười trong ca dao trào phúng có

những cấp độ sau đây, xếp theo thứ tự từ thấp đến cao, từ nhẹ đến nặng:

1/ Tiếng cười khôi hài. Đây là tiếng cười mua vui giải trí, đem lại sự

thư giãn cho con người sau những phút làm việc mệt nhọc. Đối tượng của

tiếng cười có khi là chung chung, là sự việc hoặc sự vật trong cuộc sống

thường ngày, cũng chẳng phải là ai cả. Chẳng hạn: Cưỡi quần bắt kiến cưỡi

chơi/ Trèo cây rau má đánh rơi mất quần. Có khi đối tượng là nhân vật đáng

yêu nên cười để trêu đùa: Còn duyên anh cưới ba heo /Hết duyên anh cưới

con mèo cụt đuôi. Cũng có khi tự cười mình với mục đích mua vui: Ngồi

buồn vuốt bụng thở dài/ Nhớ chồng thì ít, nhớ giai thì nhiều…

2/ Tiếng cười mỉa mai. Đối tượng đã có ít nhiều thiếu sót nhưng chưa

đến mức đáng ghét, hoặc sự việc trớ trêu. Đây là tiếng cười có tác dụng thức

tỉnh, giáo dục hoặc yêu cầu cần phải thay đổi. Ví dụ: Đầu năm có chiếu vua

ra/ Cấm quần không đáy người ta hãi hùng/ Không đi thì chợ không đông/ Đi

thì bóc lột quần chồng sao đang!

3/ Tiếng cười châm biếm. Tiếng cười chua cay, hướng vào đối tượng

hoặc sự việc lố bịch, đáng ghét. Ví dụ: Chuột chù chê khỉ rằng hôi/ Khỉ mới

trả lời: Cả họ mày thơm!

15

4/ Tiếng cười chế giễu nhạo báng. Tiếng cười này có phần gay gắt,

nhằm phê phán quyết liệt những thói hư tật xấu: Bánh đúc cô nếm nồi ba/

Mía de tráng miệng hết vài trăm cây/ Giã gạo vú chấm đầu chày/ Xay lúa cả

ngày được một đấu ba/ Đêm nằm nghĩ ngợi gần xa/ Giở mình một cái gẫy

bẩy mươi ba cái thang giường.

5/ Tiếng cười đả kích. Đối tượng của tiếng cười này là những thói xấu

xa, thối nát hoặc những kẻ đối lập với nhân dân: Uy chi vua, mạnh chi vua/

Thấy gươm đã khiếp đã thua đã hàng/ Khi vua đến bước cùng đàng/ Vua bỏ

ngai vàng vua chạy đàng vua.

Đây là những khái niệm cụ thể, thể hiện mức độ khác nhau của

tiếng cười nhưng trong các bài ca dao trào phúng vẫn thường có sự hỗn

dung, lẫn lộn.

Trong văn học trào phúng nói chung và ca dao nói riêng, người ta

thường sử dụng các hình thức nghệ thuật sau đây:

1/ Nghệ thuật tạo tình huống bất ngờ. Tạo tình huống bất ngờ có tác

dụng làm cho tiếng cười bùng phát một cách mạnh mẽ, đem lại sự sảng khoái

cho người đọc, người nghe. Ví dụ: Đồn rằng quan tướng có danh/ Cưỡi ngựa

một mình chẳng phải vịn ai/ Bạn khen rằng ấy mới tài/ Ban cho chiếc đĩa với

hai đồng tiền/ Đánh giặc thì chạy trước tiên/ Chạy vào trận tiền cởi khố giặc

ra/ Giặc sợ giặc chạy về nhà/ Chạy về gọi mẹ mổ gà khao quân!

2/ Sử dụng hình thức tương phản. Tiếng cười này có tác dụng làm nổi

bật thực chất giả dối hoặc sự trống rỗng, yếu kém ở bên trong của đối tượng.

Ví dụ: Làm trai cho đáng nên trai/ Ăn cơm với vợ lại nài vét niêu.

3/ Hình thức cường điệu. Có hai cách cường điệu thường thấy trong ca dao:

a/ Lối nói phóng đại, ví dụ: Cưới em chín chỉnh mật ong/ Mười cót xôi

trắng mười nong xôi vò/ Cưới em tám vạn trâu bò/ Bẩy vạn dê lợn, chín vò

rượu tăm/ Lá đa mặt nguyệt đêm rằm/ Răng nanh thằng cuội, râu cằm thiên

lôi…, và

16

b/ Lối nói giảm (khinh từ), ví dụ đối lập với sự khoa trương ở bài ca

dao trên là sự giới thiệu khiêm nhường của một cô gái khác: Cưới em có cánh

con gà/ Có dăm sợi bún có vài hạt xôi/ Cưới em còn nữa anh ơi/ Một đĩa đậu

phụ hai môi rau cần.

4/ Nghệ thuật dùng từ. Loại từ mà ca dao thường dùng là từ đồng âm

khác nghĩa: Cuốc kêu khắc khoải mùa hè/ Làm thân con gái phải nghe lời

chồng/ Chồng mâm, chồng bát, chồng đĩa, chồng sành/ Chồng ở chẳng lành

chồng ra bờ tre. Một loại từ khác là từ đa nghĩa, tạo cho người đọc, người

nghe những liên tưởng kì thú: Em đây là gái năm con/ Chồng em rộng lượng

em còn chơi xuân…

Ca dao trào phúng là món ăn tinh thần yêu thích của tất thảy mọi người,

bất kể ở giai đoạn nào của lịch sử. Có được điều đó là do cái cười trong ca

dao trào phúng đã làm tròn chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ của mình

đối với quần chúng. Ca dao trào phúng còn là một thứ vũ khí sắc bén, cho dù

đó là tiếng cười ào ạt hay thâm trầm kín đáo, trực tiếp hay gián tiếp…

1.2. Vài nét về Nghệ Tĩnh và ca dao Nghệ Tĩnh

1.2.1. Vài nét về Nghệ Tĩnh

Nghệ Tĩnh là một trong những địa bàn cư trú của người Việt cổ thuộc

khu vực phía Nam nhà nước Văn Lang. Qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi,

xét theo chiều dài lịch sử, địa danh Nghệ Tĩnh trải qua nhiều biến cố, nhiều

cách gọi tên lúc phân lúc hợp nhưng gắn bó làm một: là Hoan Diễn (xưa) và

là Nghệ Tĩnh (xứ Nghệ ngày nay).

Trong lời nói đầu cuốn Về văn học dân gian xứ Nghệ (2004), tác giả

Ninh Viết Giao đã nhận định:… Từ xưa đến nay dù duyên cách hành chính

địa lí có thay đổi, địa vực có khi rộng khi hẹp, khi mang tên này, khi mang tên

khác, nhưng nó vẫn là một dải đất chạy dài từ khe Nước Lạnh đến Đèo

Ngang với gần 300km bờ biển, với vùng đồng bằng trung du rộng lớn, với

17

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Giáo Dục

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button