Kỹ Năng Sống

Soạn bài chương trình địa phương (phần văn) – ngữ văn 9

Ngày đăng: 07/06/2016, 08:43

Cách trình bày bài chương trình địa phương lớp 9Đề cập đầy đủ hơn 20 nhà thơ tiêu biểu của tỉnh Phú ThọHọ và tên Tiểu sử Các tác phẩm tiêu biểu Các giải thưởng được trao tặngCác bài thơ viết về tỉnh Phú Thọ và cảm nhận của học sinh về bài thơ đặc sắc. Trung Du (Xuân Quỳnh) Về Phong Châu (Hoàng Gia Cương) Đền Hùng (Bút Tre) Vào thăm đền Giếng (Nguyễn Đình Ánh)Và còn rất nhiều bài thơ hay khác… 1 CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG (Phú Thọ) TỔ 4- Lớp 9a1 Trường THCS Giấy Phong Châu I- STT Họ tên Nguyễn Hữu Nhàn CÁC NHÀN VĂN, NHÀ THƠ SINH RA TẠI PHÚ THỌ: Tiểu sử Một số tác phẩm tiêu biểu Sinh ngày 11-12-1938 xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Địa liên hệ: Khu Quế Trạo, phường Dữu Lâu, TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Hiện nay: ủy viên BCH Hội VHNT Phú Thọ, Biên tập văn xuôi Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ; Chi hội Trưởng Chi Hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ Chuyện làng Giành tập truyện ngắn – 1975 Dốc nắng – tiểu thuyết 1984 Nữ tướng núi truyện tranh – 1988 Làng Cói Hạ – tiểu thuyết – 1989 Không cô đơn – tiểu thuyết – 1993 Truyện kể làng tập truyện – 1994 Phố làng – tập truyện ngắn – 1999 Chớm nắng – tiểu thuyết – 2000 Người quê – tập truyện ngắn – 2005 10 Tết Bản Dèo – tập truyện ngắn – 2006 11 Gió thổi qua rừng – tập truyện ngắn- 2007 12 Rừng cười – tiểu thuyết – 2008 13 Vui hội – tập truyện ngắn – 2009 14 Nguyễn Hữu Nhàn tác phẩm chọn lọc – tuyển – 2009 15 Sau tiểu thuyết – sưu tầm, ghi chép, khảo cứu – 2012 Một số giải thưởng đạt Nguyễn Ngọc Sinh ngày 4-12-1937 bút Lâm danh: Vương Hồng Quê Thuỵ Vân – TP Việt Trì – tỉnh Phú Thọ 1.Đi tìm mùa hoa vĩnh cửu-Truyện ký – Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phú 1993 Miền đất lạ – Truyện ký – NXB Thanh niên 1998 Giọt mưa xanh – Thơ NXB Hội Nhà văn 2001 Một vùng truyền thuyết – NXB Thanh niên 2003 Người Đất Tổ – Ký Hội Văn học Nghệ thuật Phú Thọ 2000 Hoa – Thơ in chung Hội Văn học Nghệ thuật Phú Thọ 2001 + Giải C Bút ký Báo Văn nghệ – Đài Tiếng nói Việt Nam + Giải A Văn học nghệ thuật 19952000 + Giải B Văn học nghệ thuật Vĩnh Phú 1975-1985 + Giải nhì truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ + Giải nhì ảnh nghệ thuật Vĩnh Phú lần thứ + Huy chương Vì nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam Nguyễn Tham Thiện Kế Nơi tàu không trở lại – Tập truyện – Hội VHNT Vĩnh Phú Nhà mẹ – Tập truyện – Hội VHNT Phú Thọ Miền đời quên lãng Tiểu thuyết – Tái lần thứ ba (NXB Lao động 1989 NXB Văn hoá TT 1996 NXB Hội Nhà văn 2003) Người cha trời Tiểu thuyết – 2001 – NXB Hội Nhà văn Khuôn mặt đẹp – Tập truyện tiểu thuyết – + Giải thưởng Hùng Vương VHNT năm 2010 + Giải thưởng Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phú năm Sinh ngày 14 – 02 – 1961, bút danh: Thiện Kế Quê Hoàng Xá Thanh Thuỷ – Phú Thọ Chức vụ, đơn vị công tác: Báo xây dựng 2003 – NXB Hội Nhà văn Lê Toan Sinh ngày 15 – – 1933 Quê Thanh Đình TP Việt Trì Địa liên hệ: Thanh Đình – TP Việt Trì – Phú Thọ 1.Tập truyện ngắn “Tiếng nói độc nhất” – NXB Văn hoá Dân tộc Tập truyện ký “Niềm vui từ công ty” – NXB Văn hoá Dân tộc Tập truyện ngắn “Nắng đầu xuân” – NXB Văn hoá Dân tộc Nhiều truyện ngắn, bút ký đăng báo địa phương, trung ương tỉnh bạn Một băng lưu niệm Đài TNVN viết âm vang Điện Biên + Được giải thưởng thi truyện ngắn, bút ký, bảo tỉnh: Truyện ngắn “Ông câm”, bút kỳ “Một phương thức kinh doanh”, báo : ký “Phụ nữ Công ty Supe phốt phát hoá chất Lâm Thao” Lê Như Kỳ Sinh ngày : 3-7-1934, bút danh Như Lê, quê Xã Xuân Huy, huyện Lâm thao, tỉnh Phú Thọ Trình độ chuyên môn: Cử nhân văn đại học sư phạm văn Hội viên: Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ chuyên ngành lý luận phê bình văn học, hội viên Hội văn nghệ dân gian tỉnh Phú Thọ 1.Hoa vùng chè in chung Sở Văn hóa Thông tin Vĩnh Phú 1978 2.Thay người xa (ca dao) in chung Nxb Phụ nữ 1979 3.Đất ( tuyển ca dao) Sở văn hoá Thông tin Hội Văn nghệ Vĩnh Phú xuất +Giải ba thi ca dao tỉnh Vĩnh Phú 1990 +Giải ba thi ca dao tỉnh Vĩnh phú 1995 +Huy chương Vì nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam + Bằng khen UBND tỉnh Phú Thọ công tác nghiên cứu sưu tầm văn nghệ dân gian Phùng Phương Quý Sinh năm 1953 Xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh, Phú Thọ Chức vụ, đơn vị công tác: Nguyên chiến sĩ Huế xa – Tập thơ – NXB Thuận Hoá năm 1996 Mưa cọ – Tập thơ – NXB Thanh niên 2001 + Từ năm 2002 2009, đạt số giải thưởng văn học, kịch sân khấu Hội Nhà Nguyễn Đức Viễn thuộc lực lượng Công an vũ trang Hội viên chuyên ngành: Văn xuôi – Hội VHNT tỉnh Phú Thọ Hội viên Hội chuyên ngành TW Hội viên Hội VHNT DTTS Việt Nam Mùa trăng suông – Tập truyện ngắn – NXB Văn hoá dân tộc 2004 Cánh rừng sót lại, tập – Tiểu thuyết – NXB Hội Nhà văn 2006 Cánh rừng sót lại, tập – Tiểu thuyết – NXB Hội Nhà văn 2008 6.Thủ lĩnh Nun – Tập truyện thiếu nhi – NXB VHDT 2008 Đồng hành sói Tập truyện ngắn văn Việt Nam, Bộ Giáo dục-Đào tạo, Bộ VHTT-DL số tỉnh thành nước Sinh năm 1958 quê Việt Trì, Phú Thọ Địa liên hệ: phường Thanh Miếu, TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Chức vụ, đơn vị công tác: Thượng tá, sỹ quan Công an tỉnh Phú Thọ Nghiệp điều tra Đứa mẹ Nơi họ gặp + Giải Báo chí Bộ Công an 2006-2007 + Giải ba thi viết Người tốt việc tốt – Bộ Công an Đài Tiếng nói Việt Nam + Huy chương bạc Liên hoan truyền hình Công an nhân dân – 1995 + Huy chương vàng Liên hoan truyền hình Công an nhân dân – 2006 + Huy chương vàng Liên hoan truyền hình Công an nhân dân – 2009 + Huy chương bạc Liên hoan truyền hình toàn quốc lần thứ 29 – 1/2009 Bùi Thắng Ngô Ngọc Bội Sinh ngày 8-6-1942 Bảo Thanh, Phù Ninh, Phú Thọ Địa liên hệ: Tổ 75A, khu 7, P Nông Trang, TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Trình độ lý luận trị: Hội viên chuyên ngành: Văn xuôi Hội VHNT tỉnh Phú Thọ Hội viên Hội chuyên ngành TW: Sinh năm 1928, bút danh: Kim Môn, Ngô Ngọc xã Phú Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ Địa liên hệ: xã Phú Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ Chức vụ, đơn vị công tác: Chuyên viên cao cấp hưu 1.”Nơi đầu nguồn ” Tập truyện ngắn – Hội VHNT Phú Thọ – 2000 “Giọt nước sau mưa” Tập truyện ngắn – NXB QĐND – 2008 + Giải C thi truyện ngắn Hội VHNT Phú Thọ tổ chức 1.Nợ đời – Tập truyện – 1954 2.Lá non – Tiểu thuyết 1955 Chị Phây – Tập truyện – 1963 Đất Bảng – Ký 1968 Ao làng – Tiểu thuyết 1975 Ác mộng – Tiểu thuyết – 1990 Những mảnh vụn Tập truyện – 1996 Tơ vương – Tiểu thuyết – 2000 Đường trường – Tiểu thuyết – 2001 10 Đường trường khếch khác – Tiểu thuyết – 2003 11 Ẩm ương lấy chồng – Tập truyện – 2005 12.67 bút ký phóng chưa tập hợp thành tập + Giải “Bộ quần áo ” báo Văn học, Hội Nhà văn Việt Nam + Giải “Văn học Côn Sơn” tỉnh Hải Dương, tiểu thuyết “Gió đưa cành tre” + Kịch phim “Nhà văn trung du” xưởng phim Hội nhà văn quay + Giải thưởng Nhà nước VHNT năm 2012 10 Đặng Văn Toàn Sinh ngày 25-3-1943 Xóm Liên Hoa – Xã Thượng Nông – Tam Nông – Phú Thọ Địa liên hệ: Xóm Liên Hoa – Xã Thượng Nông – Tam Nông – Phú Thọ Chức vụ, đơn vị công tác: Trưởng thống kê xã Hội viên chuyên ngành: Văn xuôi Hội VHNT tỉnh Phú Thọ Đi đường gặp mưa – Thơ Bài ca mùa – Thơ 3.Tháng chạp nước Thơ Nốt trầm – Truyện ngắn 5.Cá đầm nương – Bút ký Cháu lớp trưởng – Truyện ngắ Mổ lợn tết – Truyện ngắn + Hoàn thành khóa Tập Huấn Văn Học 2010 Trung tâm Bồi dưỡng Viết văn Nguyễn Du + Hoàn thành khóa Tập Huấn Văn Học 2007 Trung tâm Bồi dưỡng Viết văn Nguyễn Du + Hoàn thành khóa Tập Huấn sáng tác Kịch hài 2006 Hội Sân khấu TP HCM 11 Bùi Thuần Mỹ Sinh ngày 15-6-1956 bút danh Bùi Thuần Mỹ – Quê quán: Hiền Quan – Tam Nông – Phú Thọ – Địa liên hệ: Khu Bình Hải, xã Trưng Vương, TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Chức vụ, đơn vị công tác: P Chủ tịch Công đoàn ngành Nông Nghiệp PTNT Phú Thọ 1.Dưới ánh mai – Tập thơ – Hội VHNT Phú Thọ xuất năm 2005 Nửa vòng lục lạc – Tập truyện ngắn – Hội VHNT Phú Thọ xuất năm 2005 3.Những mảnh vỡ – Tiểu thuyết – NXB Hội Nhà văn Việt Nam 2007 Bên bờ sóng – Tiểu thuyết – NXB Hội Nhà văn Việt Nam 2008 + Giải nhì thi thơ đề tài Lâm nghiệp năm 1987 báo Vĩnh Phú (nay báo Phú Thọ) Hội VHNT Vĩnh Phú (nay Hội VHNT Phú Thọ) tổ chức với thơ “Lại viết em” + Giải ba thi truyện ngắn năm 1996 Hội VHNT Vĩnh Phú (nay Hội VHNT Phú Thọ) tổ chức với truyện ngắn : “Nửa vòng lục lạc” + Tặng thưởng văn học nghệ thuật năm (2000-2005) UBND tỉnh Phú Thọ cho tập truyện ngắn :”Nửa vòng lục lạc”.Những mảnh vỡ, 12 Đỗ Sơn Hùng Sinh ngày 23-3-1953 Xã Hiền Quan – Tam Nông – Phú Thọ Địa liên hệ: Tổ – Tân Phú – Tân Dân – Việt Trì – Phú Thọ Chức vụ, đơn vị công tác: Chủ tịch Hội Nhà Báo tỉnh Phú Thọ “Vườn tượng – công trình văn hóa mới” Giới thiệu phê bình 2005 “Hương thơm vùng quế” – Bút ký 1993 “Mùa xuân vùng quế” – Ghi chép 1990 “Mùa xuân viếng mẹ Âu Cơ” – Ghi chép 2005 5.“Đêm mường phăng” – Thơ 1999 6.“Đêm hoa lư” – Thơ 1997 7.“Nhớ câu chuện cười” – Thơ – 2003 13 Đặng Quang Vương Cây sa mạc – Tập thơ 2001 Miền đá – Tập thơ 2003 Vườn xưa – Tập thơ 2009 4.Mắt đá – Tập thơ – 2011 Người anh hùng cao nguyên – Truyện dài 2006 6.Miền khát – Truyện ngắn – 2010 7.Nghề báo – Tiển luận – phê bình Sinh ngày 10-8-1954 Văn Khúc, Cẩm Khê, Phú Thọ Địa liên hệ: Tổ 16 – Phường Minh Khai – Hà Giang Chức vụ, đơn vị công tác: Cán Báo Hà Giang + Giải A “Tây Côn Lĩnh” 1997-2001 + Giải Nhất thi sáng tác thơ, ca khúc, truyện ngắn Thị xã Hà Giang 2006 + Giải A tác phẩm Báo in “Luân chuyển cán Yên Minh” Hà Giang 2010 + Giải Nhì thi sáng tác thơ, văn, ca khúc “Chào kỷ nguyên mới” Hà Giang 2002 + Giải thi thơ khuyến học, khuyến tài Hà Nội 2010 + Giải B vận động sáng tạo, quảng bá tác phẩm VHNT chủ đề “học tập Bác” 2009 + Giải Nhì thi cựu chiến binh làm theo lời Bác 2009 14 Nguyễn Thị Loan Sinh ngày 26-8-1985 Vũ Ẻn – Thanh Ba – Phú Thọ Địa liên hệ: Thanh Miếu – Việt Trì – Phú Thọ Chức vụ, đơn vị công tác: Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ “Đưa trẻ người thầy” – Truyện ngắn 2010 “Người giữ rừng” – Truyện ngắn 2010 3.“Người cũ” – Truyện ngắn 2010 “Cây đào trước hiên” – Truyện ngắn 2009 “Người đẹp” – Truyện ngắn 2008 “Mưa ngâu” – Truyện ngắn 2009 15 Phạm Tiến Duật Sinh ngày 14 tháng năm 1941 ngày tháng 12 năm 2007 huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ làm việc Ban Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt nam 1.Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970), tiếng với tác phẩm “Bài thơ tiểu đội xe không kính” 2.Ở hai đầu núi (thơ, 1981) 3.Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1983) 4.Thơ chặng đường (tập tuyển, 1994) 5.Nhóm lửa (thơ, 1996) Giải thưởng Nhà nước Văn học nghệ thuật năm 2001, Giải thưởng Hồ Chí Minh Văn học nghệ thuật năm 2012 Ngày 19 tháng 10 ĐẤT NƯỚC(NGUYỄN KHOA ĐIỀM) < Trích “ Trường ca Mặt đường khát vọng> Khi ta lớn Đất Nước có Đất Nước có “ngày xửa ” mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bà ăn Đất Nước lớn lên dân biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ bới sau đầu Cha mẹ thương gừng cay muối mặn Cái kèo, cột thành tên Hạt gạo phải nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày Đất nơi anh đến trường Nước nơi em tắm Đất Nước nơi ta hò hẹn Đất Nước nơi em đánh rơi khăn nỗi nhớ thầm Đất nơi “con chim phượng hoàng bay núi bạc” Nước nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi” Thời gian đằng đẵng Không gian mênh mông Đất Nước nơi dân đoàn tụ Đất nơi Chim Nước nơi Rồng Lạc Long Quân Âu Cơ Đẻ đồng bào ta bọc trứng Những khuất Những Yêu sinh đẻ Gánh vác phần người trước để lại Dặn dò cháu chuyện mai sau Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ Trong anh em hôm Đều có phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay Đất Nước hài hòa nồng thắm Khi chúng cầm tay người Đất Nước vẹn tròn, to lớn Mai ta lớn lên Con mang Đất Nước xa Đến tháng ngày mơ mộng 24 Em em Đất Nước máu xương Phải biết gắn bó san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời Những người vợ nhớ chồng góp cho Đất Nước núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu góp nên Trống Mái Gót ngựa Thánh Gióng qua trăm ao đầm để lại Chín mươi chín voi góp dựng đất Tổ Hùng Vương Những rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học trò nghèo góp cho Đất Nước núi Bút non Nghiên Con cóc, gà quê hương góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm Và đâu khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang dáng hình, ao ước, lối sống ông cha Ôi Đất Nước sau 4.000 năm đâu ta thấy Những đời hóa núi sông ta Em em Hãy nhìn xa Vào 4.000 năm Đất Nước Năm tháng người người lớp lớp Con gái, trai tuổi Cần cù làm lụng Khi có giặc người trai trận Người gái trở nuôi Ngày giặc đến nhà đàn bà đánh Nhiều người trở thành anh hùng Nhiều anh hùng anh em nhỏ Nhưng em biết không Có người gái, trai Trong 4.000 lớp người giống ta lứa tuổi Họ sống chết Giản dị bình tâm Không nhớ mặt đặt tên Nhưng họ làm Đất Nước Họ giữ truyền cho ta hạt lúa ta trồng Họ chuyển lửa qua nhà, từ than qua cúi Họ truyền giọng điệu cho tập nói Họ gánh theo tên xã, tên làng chuyến di dân Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng hái trái Có ngoại xâm chống ngoại xâm 25 Có nội thù vùng lên đánh bại Để Đất Nước Đất Nước nhân dân Đất Nước nhân dân, Đất Nước ca dao thần thoại Dạy anh biết “yêu em từ thở nôi” Biết quý công cầm vàng ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ dài lâu Ôi dòng sông bắt nước từ đâu Mà Đất Nước bắt lên câu hát Người đến hát chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trăm dáng sông xuôi Người dạy ta nghèo ăn cháo ăn rau Biết ăn ớt để đánh lừa lưỡi Cái cuốc, dao, đánh lừa tuổi Chén rượu đánh lừa mỏi, đau Con nộm nan tre đánh lừa chết Đánh lừa rét ăn miếng trầu Đánh lừa thằng giặc truyện Trạng Quỳnh Nhưng thay, nhân dân thông minh Không lừa ta dù ca dao, cổ tích Ta lớn lên niềm tin thật Biết hạnh phúc có đời Dẫu phải cay đắng dập vùi Rằng cô Tấm làm hoàng hậu Cây khế chua có đại bàng đến đậu Chim ăn trả ngon cho ta Đất đai cỗi cằn người nở hoa Hoa đất, người trồng dựng cửa Khi ta đến gõ lên cánh cửa Thì tin yêu thẳng đón ta vào Ta nghẹn ngào, Đất Nước Việt Nam ơí Em nghe không trái thị rơi xuống tay người Trái không rơi sức hút đất đai Trái rơi tay người ao ước Khi trái chạm tay người người ấm ủ Thì lừng hương cô Tấm bước Đi trả thù sống Tự Không rơi xuống bùn, ôi trái thị quê ta Để bùn lấm thành bùn vạn kiếp Rơi vào tay người, định luật 26 Của đấu tranh nhân nghĩa Việt Nam Tuổi trẻ sương gió tháng năm Ta lớn rồi, chín đầy hy vọng Hãy ngã xuống tay nhân dân, sắc vàng nắng Hỡi hương thơm nồng mặn mồ hôi Hãy ngã vào tay nhân dân, đừng vãi đừng rơi Đừng dự, đừng hoài nghi Hãy yêu nhân dân nghe người nhắn nhủ Hãy tìm sức mạnh thể nhân dân Nhân dân lên đội ngũ trùng trùng Thế vô tận nghìn năm giết giặc Lửa cháy hồng hào mặt đất Mùa chín tình yêu, mùa chín hận thù Không xương máu phải bơ vơ Ôi sông núi uy nghi ngàn dặm đất Có nghe tiếng chúng con: xin có mặt Nguyện làm người xung kích quê hương Đây tiếng hát chúng con: tiếng hát xuống đường! Phú Thọ miền đất phong phú đặc sản, di tích lịch sử truyền thống MÌNH ƠI (NGÔ TRẦN THẮNG) Hãy đất Tổ ơi! Cây xoan điệu ghẹo nâng lời Thao, Giang nước chảy xô bờ Đò xiên bến đợi ta chờ đây! MỜI VỀ PHÚ THỌ (VŨ GIANG) Bạn Phú Thọ Thăm quan lễ hội vui chơi chốn Mời dùng đặc sản chiều Cá lăng cá thính Việt Trì Món ngon vị lạ thếu Hồng Gia Thanh ngọt, Cẩm khê mận nhiều Đoan Hùng vườn bưởi yêu Trám đen, trám trắng vườn nhiều mận mơ Thăm đền Quốc Mẫu Âu Cơ Hạ Hoà nơi thờ nhiều năm Ao Châu Đầm – Vịnh Hạ Long Thịt chua nhắm rượu, ấm lòng người xa Lâm Thao Xáo Chuối mặn mà Có nghề đan lưới quê nhà danh 27 Hỡi cô yếm thắm bao xanh Có Vĩnh Lại với anh Vĩnh Lại có nghiệp có lề Có Sông tắm mát, có nghề thêu rua Đặc sản bạn dùng chưa ? Bánh nẳng Xuân Lũng, có cua làng Lời Bản Mường lợn lửng ăn chơi Bánh đúc Vũ Ẻn bao người nghe tin Cơm nắm cọ Phù Ninh Chọi trâu có hội đình mời thăm Có làng nói dóc (nói phét) quanh năm Ai nghe phải lăn cười… Hát Xoan, hát Ghẹo quê Có ngày hội Phết nơi làng Hiền Ai mà cướp Phết duyên Vận may có bạc có tiền quanh năm Thanh Thuỷ suối khoáng ta dằm Dê núi gà đồng có cá Thao Giang Con gái Phú Thọ đảm Mấy cô làng Ẻn lại khéo Bánh gai, bánh tẻ, phồng tôm Chè lam, mận cộng, kẹo hồng, su sê Bỏng phồng, bánh nẳng mê Chưa ăn bánh đúc, chưa đâu Đầu năm xin gửi đôi câu Về thăm Đất Tổ gặp tâm tình Tháng ba giỗ tổ nước Thắm đượm nghĩa tình cháu Hùng Vương….! Phú Thọ_mảnh đất chất chứa tình yêu thương, lưu giữ nỗi nhớ nhung gửi gắm người xa quê Gửi Anh(Cao Thị Hồng Cảnh) Gọi nắng cho Phú Thọ nghe em Cho gió giỡn đồi cọ tràn nhựa sống Cho cánh đồng hoa thơm trái mọng Cho quê hồng thắm da Chở thu cho Phú Thọ quê xa Cho hoa sữa thơm suốt viền Đại Lộ 28 Đêm yêu thương ghé qua tên phố Gió đa tình ve vãn ánh trăng xanh Một lần em gửi cho anh Cả trái tim nóng hồng thời gái Cho tin yêu mong chờ khắc khoải Cho nắng vàng cõng thương nhớ dạo chơi Gửi hồn cho Phú Thọ xa xôi GỬI HẠ HOÀ Nói với Hạ Hoà Sáu mươi năm ấy- Những ngày chiến chinh Nền Văn nghệ khai sinh Yên Kì Đại hội- Nghĩa tình trung du Cọ xoè tán vẫy khách thơ Hội trường mái đơn sơ đậm đà Về văn nghệ nhà Bốn phương hội tụ anh em Khu Ban , khu Bốn ngược lên Hanh Cù, Vũ ẻn, Bến Then gần Gia điền, Xuân Áng vui chân Làng văn nghệ sỹ quây quần sớm trưa “Nhớ bầm”, “Bà bủ” thành thơ Trường ca chiến tích Sông Lô tự hào Nhớ Tố Hữu, nhớ Văn Cao Nhớ chàng nghệ sỹ – gian lao cười Thoắt sáu chục năm Ai còn, mất- khoảng trời nhớ thương Nói hết nguồn Bao mùa hoa trái ươm đất Chiếc nôi Văn nghệ Những năm kháng chiến, nhớ ngày chia xa Hạ Hoà- Đất Tổ nhà Tôi xin làm hạt phù sa đắp bồi NHỚ VỀ PHÚ THỌ (NGUYỄN ĐÌNH XUÂN) Đành chia xa phương Ngã- ba- sông Nhớ sắc thu chiều Đoan Hùng bưởi 29 Đêm sông Lô ánh trăng vời vợi Vọng ngàn xưa nhịp giã gạo Thậm Thình Phong Châu thơm hương nếp thuở bình minh Ngược sông Thao đằm cọ Chợt thức với sông Hồng đêm trở gió Đò chòng chành dầm nước đợi qua Vắng bên sông người phố xa Nhớ nơi xưa anh lại Gia Cẩm Ngã- ba- sông Việt Trì không lẫn Cây xoan mơ thơm nắng bưởi vàng ĐÓN ANH VỀ PHÚ THỌ (VŨ KIM LIÊN) Em đón anh Phú Thọ Ngày mưa, gió ngả đồng Chiếc áo màu cũ Giúp anh che mùa đông Qua bên đê sông Hồng Ngược lên Thậm Thình lối cũ Hy Cương đền đài bóng rủ Trước thềm rêu đá bâng khuâng Nơi Đất Tổ Văn Lang Cội nguồn linh thiêng thành kính Nén hương trầm thơm vấn vít Cõi xưa Hồng Hạc bay Cũng mảnh đất quê Mà thân thương đến lạ Thỏa lòng bao ngày khao khát Trung du xanh thẳm đợi chờ Anh chưa vào ngày Giỗ Nhưng lòng đinh ninh Từ non cao Nghĩa Lĩnh Tổ Tiên linh ứng nhiệm màu Việt Trì ngày mưa mau 30 Vẫn ấm tình người thơm thảo Nụ cười theo Lung linh rọi sáng lối II- NHỚ NGÀY GIỖ TỔ (LÊ ĐỨC ĐỒNG) Chân bước vạn nẻo đường Vẫn nhớ ngày Giỗ Tổ Nơi cuối trời Nam Bộ Nắng tháng Tư hiền hoà Cơn gió chiều mát rượi Thăm thẳm hồn Ông Cha … * Lạc Long Quân, Âu Cơ Rồng Tiên tụ hội Đất thiêng liêng nguồn cội Đàn chim Lạc bay Hoá cầu vồng ngũ sắc Xanh biếc trời ven đê … * Đất Chín Rồng nên quê Cánh cò miền cổ tích Lúa vàng thơm mùa gặt Nắng vàng thơm tình người Thuở mang gươm mở cõi Câu vọng cổ tình đời Hoá câu thương, câu nhớ Để hồn người chơi vơi … * Về nguồn cội người Bầu chung giàn với bí Lời tâm tình thủ thỉ Ngọn mùng tơi bắc cầu Ta miền đất Tổ Lắng nghe hồn thẳm sâu CẢM NHẬN VỀ CÁC TÁC PHẨM VIẾT VỀ PHÚ THỌ Bài 1: Đi qua xóm núi Thậm Thình Buâng khuâng nhớ nước non nghìn năm Vua Hùng sáng săn 31 Trưa tròn bóng nắng nghỉ chân chốn Dân dâng xôi đầy Bánh chưng cặp, bánh dầy đôi Đẹp lòng, vua phán bầy Tìm đất kén thợ, định nơi xây nhà Trăm cô gái đẹp tiên sa Múa chày đôi với chày ba rập rình Đêm đêm tiếng thậm, tiếng thình Cối gạo đầy nghĩa tình nước non Không đấu cũ lầu son Phía sau thành phố khói vờn mây Trời cao Bóng tỏa đường Nhịp chày xưa thoảng đâu đây…Thậm Thình Chắc hẳn nghe qua thơ biết tác giả Nguyễn Bùi Vợi viết Phú Thọ yêu dấu_cội nguồn dân tộc ta Tuy bút xuất sắc nhiều người biết đến qua câu thơ giản dị, mộc mạc mà chan chứa tình cảm ông gửi đến người dấu ấn tốt đẹp tiếng chày giã gạo “thậm thình” khoan thai Chỉ qua 16 câu thơ lục bát nhẹ nhàng mà sâu lắng cảm nhận nỗi niềm nhớ thương cội nguồn nhà thơ Bút pháp thi họa mà đằm thắm tình quê mộc mạc lên qua nỗi nhớ câu thơ “Đi qua xóm núi Thậm Thình Buâng khuâng nhớ nước non nghìn năm” “Thậm Thình” tên gọi địa danh thuộc Việt Trì, Phú Thọ, nơi vua Hùng dựng lều giã gạo Tác giả lên nỗi niềm bâng khuâng, xao xuyến nhắc đến mảnh đất này_nơi chôn rau cắt rốn nhà thơ Qua câu thơ mở đầu, tác giả mở nỗi niềm thương nhớ người xa quê Lời thơ giản dị mà gần gũi lời tâm tác giả “ Dân dâng xôi đầy Bánh chưng cặp, bánh dầy đôi” Hình ảnh “quả xôi” không đơn kết tinh hạt gạo đồng quê, hạt ngọc mà trời ban cho mà vun đắp tình thương yêu, kính trọng sống muôn đời Bánh chưng, bánh dày sản vật quý giá từ bàn tay chăm sóc người dân, mồ hôi nước mắt kính trọng mà Lang Liêu dâng lên vua Hùng Hai thứ bánh tượng trưng cho dung hòa trời đất Việc tác giả Nguyễn Bùi Vợi nhắc đến tích thời Hùng Vương không 32 nhớ nỗi niềm nhớ thương miền quê bao ngày xa cách mà ngợi ca tầm quan trọng linh thiêng mảnh đất Phú Thọ “ Trăm cô gái đẹp tiên sa Múa chày đôi với chày ba rập rình Đêm đêm tiếng thậm, tiếng thình Cối gạo đầy nghĩa tình nước non” Nhịp thơ đung đưa hài hòa tạo phối hợp nhịp nhàng người thiên nhiên Dường không bao trùm nỗi niềm cô đơn thay vào nhịp nhàng, vui tươi tiếng chày Nghe âm vang tiếng chày giã gạo mà thấu nghĩa tình nước non Quả thực Nguyễn Bùi Vợi người nặng tình nghĩa giàu lòng yêu thương viết nên câu thơ chân thực đến Ở đoạn thơ cuối, tác giả nghĩ đến tương lai đầy sáng lạn phát triển cho mảnh đất Phú Thọ yêu dấu Trải qua bao tháng ngày mưa nắng, thời gian theo kỉ niệm, kí ức gặp hình ảnh giã gạo vui tươi,nghe tiếng chày rộn rang, nhộn nhịp qua lễ hội Đền Hùng: Dù ngược xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba Dù buôn bán gần xa Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mùng mười Nhịp chày vang rộn tâm trí Nguyễn Bùi Vợi_người hiếu kính với quê hương Và không Nguyễn Bùi Vợi mà tất chúng ta_những người Phú Thọ thân thương nhớ đến giai điệu dập dình tiếng chày quê hương (Thu Hằng) Bài 2: Vùng đồi bát ngát Lâm Thao Non chi biêng biếc in vào trời xanh Tường vôi trắng, nắng vàng hanh Phải thủy mặc treo tranh đồi Đền Hùng công dựng tuyệt vời 33 Ba tầng núi nối Đất- Trời –Người- Cây Ngàn năm cổ tích Nhấp nhô gò phục, đồi quây núi Hùng Lên cao bao khắp sông Hồng Sông Lô tầm mắt vọng trông sông Đà Đêm nhìn bốn phía trời xa Sao rơi trời thẳm, sa khắp đồi Việt Trì thành phố tinh khôi Lâm Thao nhà máy xếp ngồi đồi hoang Đỉnh quê hương núi non Hùng Miếu lăng đền tạ trập trùng bên Đền Hùng chung bóng tổ tiên Dài lâu đất nước vững bền niềm tin “Thì thích nghe Cứ nghe mà biết Bút Tre cười Bao nhiêu Bút Sắt mòn Bút Tre đời nguồn vui …” Đây câu thơ bình dị mà đầy ý nghĩa, xuất phát từ nhà thơ tiếng tăm, đình đám mà vô chân thực, xác, khẳng định ảnh hưởng lớn dòng thơ Bút Tre với đời sống nhân dân quần chúng Thơ Bút Tre thường đề cập đến điều giản đơn sống, vẻ đẹp mà ta để ý đến tình cảm dạt ông quê hương đất nước Bài thơ Đền Hùng số thơ để lại nhiều ấn tượng cho người đọc Nhắc tới Phú Thọ ta nghĩ đến Đền Hùng_nơi bắt nguồn cho dân tộc Việt Nam kiên cường bất khuất, nơi vị vua Hùng góp công xây dựng đất nước Nằm uy nghi núi Nghĩa Lĩnh, Đền Hùng_di tích lịch sử văn hoá 34 đặc biệt quan trọng quốc gia vốn đất kế đô Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước Toàn Khu di tích có đền, chùa lăng hài hoà cảnh thiên nhiên hoang sơ, có địa cao ngoạn mục, hùng vĩ, đất đầy khí thiêng sơn thuỷ hội tụ Vượt qua hang nghìn bậc thang đá, đứng tầng Thượng Đền Hùng, trải tầm mắt xa để ngắm nhìn vạn vật phong cảnh, ta thấy xao xuyến trước vẻ đẹp nơi Nhà thơ Bút Tre vậy, ông cầm lòng trước tranh tuyệt diệu đó, câu thơ sau minh chứng xác thực: “Vùng đồi bát ngát Lâm Thao Non chi biêng biếc in vào trời xanh Tường vôi trắng, nắng vàng hanh Phải thủy mặc treo tranh đồi” Phú Thọ mảnh đất thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, địa hình chủ yếu đồi núi, đứng Đền Hùng, ta nhìn thấy màu xanh hoang sơ lá, núi đồi Màu xanh bát ngát bạt ngàn, trải rộng không gian, nối liền vời chân trời mây gió in bóng bầu trời xanh thẳm Từ “biêng biếc” câu thơ Bút Tre tả lại vẻ đẹp Không màu xanh tự nhiên, phong cảnh Phú Thọ yêu dấu in ấn màu trắng tường vôi màu vàng rợn ngợp, chan hòa từ ánh nắng Màu vàng, trắng kết hợp với xanh đỗi hài hòa, màu vàng chói lọi làm bật lên màu xanh dịu dàng, màu trắng tinh khôi làm bớt gắt vàng hanh Tất chúng tôn lên, khoe đẹp Quả thực tranh vô sinh động, đặc sắc, kết hợp ăn ý hài hòa khiến phải ngỡ ngàng Chính nhà thơ phải lên: “Phải thủy mặc treo tranh đồi” sao?Câu hỏi tu từ hỏi mà khẳng định, ta thấy rõ chắn vẻ đẹp nơi tâm tư, lời thơ tác giả Một vẻ đẹp giản dị thôn quê, bình yên mà sống động, đẹp tươi Ngòi bút người thơ Phú Thọ vẽ nên điều thật chân thực, sắc nét Hẳn người Việt Nam, mang dòng máu Lạc Hồng, biết đến tích câu chuyện Âu Cơ đẻ bọc trăm trứng, chuyện Bánh chưng bánh dày bàn tay nhào nặn Lang Liêu hết câu chuyện truyền thống lịch sử 4000 năm xoay quanh vị vua Hùng dốc sức xây dựng nước nhà Đến với di tích Đền Hùng, ta nhìn nhận rõ ràng công sức lớn lao vua Hùng dành cho dân tộc.Với đôi bàn tay thô sơ, chân chất, mộc mạc, vị vua khơi nguồn mạch sống cho dân 35 tộc Cũng ngài mà Đền Hùng xây dựng, trở thành di tích lịch sử, có tầm quan trọng lớn nước Đền Hùng không giàu ý nghĩa mà ba tầng núi Hạ, Trung, Thượng gắn kết tuyệt vời đất mẹ trời xanh bao la, người cần mẫn chăm với thiên nhiên vạn vật Đó hòa hợp, yên bình mà nơi có được: “Đền Hùng công dựng tuyệt vời Ba tầng núi nối Đất- Trời –Người- Cây Ngàn năm cổ tích Nhấp nhô gò phục, đồi quây núi Hùng” Tại dải đất Việt Nam hình chữ S dài dằng dẵng, có danh lam thắng cảnh, vẻ đẹp núi non sông nước, bao nơi trù phú giàu tài nguyên, vị vua Hùng xưa lại chọn mảnh đất Lâm Thao- Phú Thọ làm nơi đóng đô, khởi đầu? Chuyện xưa kể rằng, để tìm nơi đóng đô, vua Hùng phải dày công tìm kiếm, cuối cùng, núi Nghĩa Lĩnh xem “thánh địa” nơi phía trước có sông tụ hội, hai bên có núi chầu hầu Bãi sông vùng đất phù sa bồi đắp thích hợp việc cấy cày, trồng trọt, tiện lợi cho việc ăn lại người dân, vùng lại có đất gò cao thuận lợi việc lập ấp mở làng Không có vậy, nơi có không gian yên bình, thoáng mát khung cảnh đẹp mê hồn Không vào buổi sáng sớm hay buổi chiều tà, ánh nắng len lỏi kẽ lá, vòm hay ánh nắng dần tắt nhẹ nhàng mà vào buổi đêm, vạn vật đắm chìm bóng đêm u tối, cảnh vật nơi toát lên vẻ đẹp thơ mộng diệu kì Núi non, không gian dường không khoảng cách với trời mây, trăng trải khắp cảnh vật trước mặt Lớp mây đẹp đẽ, thơ mộng đầy ánh kéo dài vĩnh cữu,tạo nên tranh sống động, lấp lánh, lung linh đến lạ kì: “Lên cao bao khắp sông Hồng Sông Lô tầm mắt vọng trông sông Đà Đêm nhìn bốn phía trời xa 36 Sao rơi trời thẳm, sa khắp đồi” Đứng núi Nghĩa Lĩnh cao vời vợi, ta thu hết sông vào tầm mắt Những sông chảy nhẹ nhàng, uốn lượn qua núi đồi, nương rẫy_ Sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Chảy… Đặc biệt ba sông kì tích tụ hội lại điểm tạo thành “ngã ba sông” dải đất Thành phố Việt trì Tương truyền nơi giao ba dòng nước mang lại may mắn nơi thường tập trung người đến lấy nước để cầu may dựng nhà, động thổ Việt Trì thành phố tinh khôi Lâm Thao nhà máy xếp ngồi đồi hoang Phú Thọ_ nơi không gian yên bình, cảnh vật tươi đẹp, người chăm chỉ, cần mẫn, nữa, tiểu vùng nơi nhuốm vẻ tinh khôi, vừa thấm đượm hồn quê mà trang trọng Qua câu thơ trên, Bút Tre gợi nhớ đến địa danh Phú Thọ Việt Trì Lâm Thao Việt Trì_nơi tụ hội ba nhánh sông lớn Lâm Thao_nơi tiếng với nhà máy Supe phốt phát hóa chất đẩy mạnh nông nghiệp Phú Thọ lên bước tiến mới: “Đỉnh quê hương núi non Hùng Miếu lăng đền tạ trập trùng bên Đền Hùng chung bóng tổ tiên Dài lâu đất nước vững bền niềm tin .” Thời gian trôi đi, người đổi thay người đất Việt nhớ đến vị vua Hùng dốc sức xây dựng Việt Nam, đền Hùng nơi mà nhân dân đến vào mùng mười tháng ba hàng năm để biết ơn, thờ cúng Nơi khẳng định thêm niềm tin tưởng nhân dân ta tới vị vua Hùng, tới tương lai giàu đẹp cho dân tộc Việt Nam, sống bình yên, hạnh phúc cho “con rồng cháu tiên” Quả thực, đến với đền Hùng ta cảm nhận thản, bình yên cho tâm hồn Mọi lo lắng mệt nhọc, u sầu thường ngày gió từ núi Nghĩa Lĩnh thổi bay Vẻ đẹp tuyệt vời khung cảnh vùng đất Phong 37 Châu khiến ta thêm yêu Phú Thọ, thêm lưu luyến với nơi Từ ta thấy tài Bút Tre tình yêu ông với vùng đất “rừng cọ đồi chè đồng xanh bạt ngàn này” Nếu ông không yêu, không ngắm kĩ vẻ đẹp, cảnh vật đứng tầng Thượng đền Hùng, ông cảm nhận nét in dấu núi non trời xanh, ánh lấp lánh nối liền không gian? Dù đến đền Hùng nhiều lần vẻ đẹp cảm giác tuyệt vời mà mang lại không vơi bớt chuyến Phải kì diệu mà mẹ thiên nhiên mang tặng cho Phú Thọ yêu dấu để vị vua Hùng định chọn nơi đóng đô?Chắc hẳn lòng người đất Việt xa quê có hình bóng đền cổ kính, hoang sơ_Đền Hùng (Ngọc Mai) 38 […]… Thuỵ Điển và Viện Khoa học giáo dục, được chọn vào sách văn lớp 7 4 Băng ngũ hổ – Tái bản l ần thứ 5, 199 5 5.Mạnh hơn ma quỷ – 199 9 3.Giải nhất cuộc thi của Hội Nhà văn Vi ệt Nam, tổ chức UN ICEF Hà Nội và UB BVCSTE Việt Nam , được UBND tỉnh t ặng giải thưởng Hù ng Vương 199 5 4.Giải nhất cuộc thi kịch bản phim của Đài truyền hình Việ t Nam 199 9 + Giải Nhì cuộc thi thơ tỉnh Vĩnh Phúc 1 Mùa lúa, mùa trăng(thơ)-… 4.Nhà giáo và nhà trườngThọ – Hội viên các hội NXB Giáo dục 199 9 chuyên ngành TW: Hội 5.Kỷ niệm 1000 năm Bắc viên hội nhà văn Việt Kạn- Sở VHTT Bắc KạnNam 199 9 6.Thơ các Dân tộc Thiểu số Việt Nam – thế kỷ XXNXB Văn hóa dân tộc năm 2000 7.Thơ Việt Nam 194 52000- NXB Lao động2000 Phú Thọ 2000-2005 + Giải khuyến khích giải báo chí toàn quốc năm 199 9 + Giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn năm 2001 Giải A Hội… ngày 1-6- 193 9, bút danh Lê Kim, Quê quán: 11 năm 2007, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã ký lệnh tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhì cho nhà thơ Phạm Tiến Duật[1] 1.Cây tre Việt Nam 2 Quê hương Phú Thọ 3 Phú Thọ lớn lên 4 Rừng cọ đồi chè 1 Trận chung kết – Xuất b ản 197 5, lần tái bản thứ tư được đưa vào Tủ sácgiờ v àng 2 Những chuyện bất ngờ Xuất bản 197 8 3 Thầy chủ nhiệm – Xuất bản 197 9 1 Huy chương. .. thuật Vĩnh Phúc XB 197 8 2 Buồm mở cánh – (thơ)Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc XB 199 0 3 Khát vọng – (thơ)- NXB Lao Động 199 2 4 Trăng trên phố – (thơ) NXB Hội Nhà văn 199 7 5.Thức với dòng sông (thơ) -NXB Hội Nhà văn 2001 6 Lòng tay hình châu thổ – (thơ)- NXB Hội Nhà văn 2004 7.Dấu ấn thời gian – (Văn học)- 2008 tổ chức 198 0 + Giải thưởng cuộc thi thơ lục bát của Báo Văn nghệ năm2003 + Giải thưởng VHNT… Việt Trì Địa chỉ liên hệ: Tổ 29phố Tiền Phong -Tiên Cát- tp Việt Trì- Phú Thọ Chức vụ, đơn vị công tác: Phó thư ký chi hội Nhà văn Việt Nam tại Phú Thọ ,Thư ký toà soạn Tạp chí Văn nghệ Đất tổ 19 Lê Phan Nghị Sinh ngày 11-4- 194 4, bút danh Châu Giang, Tuấn Anh Quê quán: Xã Công Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam Địa chỉ liên hệ: Tổ 19, khu phố 3, phường Vân Cơ, TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thuật Vĩnh Phúc XB 197 8 2… Báo điện tử Tổ quốc năm 2008 + Huy chương “Vì sự nghiệp VHNT VN” + Huy chương “Vì sự nghiệp Báo chí VN” + Huy chương “Vì sự nghiệp Tư tưởng văn hoá” của Ban tuyên giáo TW 1.Tập kịch nói “Tình + Giải Ba viết về người hậu phương” – Ty An ninh Đất Tổ tỉnh Văn hoá Hà Giang 196 7 Vĩnh Phú được dàn dựng hội diễn + Giải Ba viết về quần chúng tỉnh Hà Giang Lao động Công 196 7 đoạt giải 3 đoàn tỉnh Vĩnh Phú 2.Tập… tiếng chuông chùa (trường ca, 199 7) 7.Tuyển tập Phạm Tiến Duật (in xong đợt đầu ngày 17-11-2007, khi Phạm Tiến Duật đang ốm nặng) 16 Bút Tre 17 Đỗ Văn Xuyền 18 Kim Dũng Tên thật là Đặng Văn Đăng còn gọi là Đặng Văn Quang , sinh năm 191 1- 198 7 quê xã Đồng Lương, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ Sinh ngày 10-7- 193 7, bút danh Khánh Hoài, quê tại xã Đông KinhĐông Hưng- Thái Bình Địa chỉ liên hệ: Số 1 tổ 28, phố… và Miền núi (tập 1)- NXB Giáo dục- 2007 17.Thơ Đền Hùng- NXB Hội Nhà văn- 2007 Đỗ Xuân Thu Sinh ngày 15-8- 195 7 tại 1.Hương bưởi, tập thơ Hội Phượng Đình, Đan VHNT Phú Thọ xuất bản, Phượng, Hà Nội, hiện 199 8 đang sống và làm việc 2 Trung du, tập thơ, Nxb tại Chí Đám, Đoan Văn hóa Thông tin, 199 9 Hùng, Phú Thọ Bút 3 Đất Nhớ, tập thơ, Nxb danh: Phi Đông Hạ, Đỗ Văn hóa Thông tin, Đồ Đệ, Chiến Quốc, Nhị… thuật tỉnh Phú 4 Tập truyện “Những Thọ 199 5-2000 mảnh đời” – Nhà xuất bản + Tặng thưởng của VHDT năm 2006 UBND tỉnh về văn 5 Tập truyện “Hồn núi” – học nghệ thuật tỉnh 12 20 Nông Thị Ngọc Hòa Nhà xuất bản VHDT năm 2008 6.Sắp công bố: tiểu thuyết “Nước mắt của đất” và nhiều truyện ngắn, bút ký đăng tải trên các tạp chí, báo trung ương và địa phương Sinh ngày: 2/12/ 195 5 1 Con đường cho mây đitại Yên Thịnh-… năm Đất Nước Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta Cần cù làm lụng Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùng Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhỏ Nhưng em biết không Có biết bao người con gái, con trai Trong 4.000 lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và chết

Xem thêm :  Những câu châm ngôn hài hước, danh ngôn hài hước, những câu nói vui


Ngữ Văn Lớp 9 Bài 13 – Chương Trình Địa Phương – Trang 175 – 176


Ngữ Văn Lớp 9 Bài 13 – Chương Trình Địa Phương – Trang 175 176

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Kỹ Năng Sống
Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Kỹ Năng Sống

Related Articles

Back to top button