Kỹ Năng Sống

Top 23 bài thơ hay mừng quê hương đất nước đổi mới

Văn học Thiếu nhi bài giảng cho sinh viên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (355.66 KB, 68 trang )

Bạn đang đọc: Văn học Thiếu nhi bài giảng cho sinh viên – Tài liệu text

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG
KHOA SƯ PHẠM TỰ NHIÊN

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
VĂN HỌC THIẾU NHI

Người soạn: Lê Thị Hồng Thắm
Bộ môn
: Giáo dục Tiểu học

Năm 2015

Lời mở đầu
Nhằm góp phần đào tạo, bồi dưỡng và phục vụ tốt việc học tập, nâng cao năng
lực cảm thụ văn học cho sinh viên ngành giáo dục Mầm non, chúng tôi tổ chức biên
soạn bài giảng Văn họ c thiế u nhi.
Để biên soạn bài giảng này, chúng tôi dựa vào Đề cương chi tiết học phần
của tổ Giáo dục Mầm non, khoa Sư phạm tự nhiên, sách Văn họ c thiế u nhi, tài liệu
bồi dưỡng chuẩn hóa Trung học sư phạm Mầm non cho giáo viên nhà trẻ, mẫu giáo hệ
9+1 của Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1997. Giáo trình Văn học, tập một và tập ba của
nhà xuất bản Giáo dục, năm 1998 cho hệ Cao đẳng Sư phạm tiểu học.
Đặc biệt lần biên soạn này, chúng tôi soạn theo hướng khái quát, tinh giản
nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức, nâng cao năng lực của người học.

1

A. Mục lục
Lời giới thiệu ……………………………………………………………………………………………………. 1
Học phần: Văn học thiếu nhi …………………………………………………………………………………

A. Mục lục: …………………………………………………………………………………………………….. 2
B: Mục tiêu học phần: …………………………………………………………………………………….. 3
C: Nội dung dạy học: ………………………………………………………………………………………. 4
Phần 1: Văn học dân gian ………………………………………………………………………………….. 6
Bài 1: Nhìn lại văn học dân gian …………………………………………………………………………. 6
Bài 2: Truyện cổ dân gian và giáo dục trẻ thơ …………………………………………………….. 10
Bài 3: Đồng dao trong đời sống trẻ thơ ………………………………………………………………. 16
Bài 4: Hát ru với trẻ thơ……………………………………………………………………………………. 21
Phần 2: Văn học trẻ em Việt Nam …………………………………………………………………….. 24
Bài 1: Khái quát về sự phát triển của văn học thiếu nhi Việt Nam …………………………. 24
Bài 2: Thơ Võ Quảng ………………………………………………………………………………………. 30
Bài 3: Thơ Phạm Hổ ………………………………………………………………………………………… 34
Bài 4: Tô Hoài ………………………………………………………………………………………………. .42
Bài 5: Thơ Các em viết…………………………………………………………………………………….. 46
Bài 6: Thơ Trần Đăng Khoa ……………………………………………………………………………… 51
Phần 3: Văn học trẻ em nước ngoài …………………………………………………………………… 59
Bài 1: Khái quát văn học trẻ em nước ngoài ……………………………………………………….. 61
Bài 2: Giới thiệu môt số tác giả, tác phẩm tiêu biểu ……………………………………………. 67

2

B. Mục tiêu học phần
1. Mục tiêu chung của học phần:
* Kiến thức:
– Sau khi học xong học phần, sinh viên có được những những kiến thức về đặc
trưng cơ bản của văn học dân gian, vai trò của văn học dân gian đối với giáo dục
trẻ thơ, một số thể loại văn học dân gian phù hợp với trẻ mầm non.
– Hiểu được thành tựu của văn học thiếu Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám
1945, một số tác giả, một số tác phẩm tiêu biểu.

– Hiểu được một số nét về thành tựu văn học thiếu nhi thế giới, một số tác giả,
tác phẩm tiêu biểu.
* Kỹ năng:
– Biết phân tích, đánh giá các tác phẩm viết cho trẻ mầm non. Phát hiện được
những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của văn học thiếu nhi nói chung, thơ
truyện cho trẻ mầm non nói riêng.
* Thái độ:
Yêu thích và đánh giá đúng các tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi nói chung,
cho trẻ mầm non nói riêng, từ đó bồi dưỡng thêm lòng yêu nghề, mến trẻ.
2. Mục tiêu đào tạo cụ thể:
2.1. Phẩ m chấ t:
* Phẩm chất 1:
– Có ý thức tìm hiểu, nghiên cứu về khái niệm văn học dân gian, đặc trưng của
văn học dân gian, giá trị của văn học dân gian. Một số tác phẩm văn học dân gian
phù hợp với trẻ như: cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn, truyền thuyết, đồng dao, hát
ru…
– Yêu thích văn học dân gian, đặc biệt là các thể loại văn học dân gian gắn bó
với đời sống tâm hồn trẻ thơ.
* Phẩm chất 2:
Có ý thức tìm hiểu,nghiên cứu về thành tựu của các giai đoạn phát triển của
văn học thiếu nhi Việt Nam, những nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật. Về nội
dung và nghệ thuật của các tác phẩm, tác giả tiêu biểu như: Tô Hoài, Phạm Hổ, Võ
Quảng, Trần Đăng Khoa…
* Phẩm chất 3:
Có ý thức tìm hiểu, nghiên cứu thành tựu của văn học trẻ em nước ngoài được
dịch sang tiếng Việt, những giá trị cơ bản của văn học trẻ em nước ngoài. Tìm hiểu
một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu như: Andecxen, Grim. L.Tôn xtôi, HectoMalo…
2.2. Năng lự c:
*Năng lực 1: Có khả năng phân tích, đánh giá, sưu tầm các tác phẩm Văn học
dân gian để tìm ra nét đặc trưng của từng thể loại phù hợp với trẻ thơ.

* Năng lực 2: Có khả năng phân tích, đánh giá tác phẩm văn học viết cho thiếu
nhi trong và ngoài nước.

3

C. Nội dung dạy học
Phần I: Văn học dân gian
Bài 1: Nhìn lại Văn học dân gian: (02 tiết)
– Văn học dân gian là gì?
– Đặc trưng của văn học dân gian.
– Các giá trị cơ bản của văn học dân gian:
– Văn học dân gian trong đời sống trẻ thơ.
Bài 2: Truyện cổ dân gian với trẻ thơ: (03 tiết)
– Những loại truyện cổ dân gian phù hợp với trẻ.
– Những giá trị đặc trưng nói chung của truyện cổ dân gian với giáo dục trẻ:
Bài 3: Đồng dao với trẻ thơ: (02 tiết)
– Khái niệm về đồng dao.
– Đặc trưng của đồng dao.
– Ý nghĩa của đồng dao đối với trẻ thơ.
Bài 4: Hát ru với trẻ thơ: (02 tiết)
– Khái niệm hát ru.
– Truyền thống về hát ru và tình hình hiện nay về hát ru.
-Ý nghĩa của hát ru trong đời sống trẻ thơ.
Phần II: Văn học trẻ em việt Nam
Bài 1: Khái quát về sự phát triển của văn học thiếu nhi Việt Nam: (03 tiết)
– Qúa trình sáng tác văn học thiếu nhi Việt Nam.
– Những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong văn học viết cho
thiếu nhi.
Bài 2: Thơ Võ Quảng:

(02 tiết)
– Vài nét về tác giả.
– Những giá trị cơ bản trong thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi.
Bài 3: Thơ Phạm Hổ: (03 tiết)
– Vài nét về tác giả.
– Giá trị nội dung thơ Phạm Hổ viết cho các em.
– Nghệ thuật thơ Phạm Hổ viết cho các em:
Bài 4: Truyện Tô Hoài: (04 tiết)
– Vài nét về tác giả.
– Truyện viết cho các lứa tuổi.
– Nghệ thuật truyện Tô Hoài viết cho thiếu nhi.
Thực hành phân tích tính cách nhân vật Dế Mèn.
Bài 5: Thơ các em viết. (02 tiết)
– Khái quát, tình hình sáng tác thơ các em thời thời chống Mỹ đến nay.
– Đặc sắc nội dung trong thơ các em viết.
– Đặc sắc nghệ thuật trong thơ các em.
Bài 6: Thơ Trần Đăng Khoa. (04 tiết)
– Vài nét về tác giả.
– Nội dung thơ Trần Đăng Khoa.
– Nghệ thuật thơ Trần Đăng khoa.
– Thực hành phân tích bài thơ “Hạt gạo làng ta”
Phần III: Khái quát văn học trẻ em nước ngoài. (03 tiết )
– Sơ lược về mảng văn học trẻ em nước ngoài được dịch sang tiếng Việt.
– Giới thiệu một số tác giả tiêu biểu.
4

+ An Đéc Xen (Đan mạch).
+ Lép-Nicôlaiêvích Tônxtôi (Nga).
+ Grim (Đức).

+ Fujiko Fujio (Nhật bản).
+ Hécto Malo (Pháp).

5

PHẦN I: VĂN HỌC DÂN GIAN
Bài 1: Nhìn lại văn học dân gian
1.1. Khái niệm.
Trong dân gian, tổng thể các sáng tác nghệ thuật truyền miệng có tên gọi chung:
Văn chương truyền khẩu hay văn chương truyền miệng, văn chương bình dân…
Từ khoảng cuối những năm 1950 xuất hiện thuật ngữ: Văn học dân gian và thuật
ngữ này dần dần được dùng rộng rãi hơn cả.
Qua nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của Văn học dân gian, các nhà nghiên
cứu đã đưa ra một khái niệm cơ bản về Văn học dân gian như sau: Văn học dân gian là
những sáng tác nghệ thuật truyền miệng, do nhân dân sáng tác, được nhân dân tiếp
nhận, sử dụng và lưu truyền .
Văn học dân gian tương đương với khái niệm Folklore, một thuật ngữ quốc tế có
nghĩa là là trí tuệ nhân dân (folk: nhân dân; lore: trí tuệ).
Văn học dân gian được coi như là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ, cũng như
văn học viết. Đó là hai hình thức khác nhau của cùng một loại nghệ thuật: nghệ thuật
ngôn từ (văn học viết dùng ngôn ngữ viết, văn học dân gian dùng ngôn ngữ nói). Vì
vậy, không thể đồng nhất chúng với nhau, nhưng cũng không thể đối lập chúng.
Chúng có mối quan hệ qua lại, và có những giai đoạn mối quan hệ này đặc biệt khắng
khít.
1.2. Đặc trưng của văn học dân gian:
Văn học dân gian có nhiều đặc trưng, nhưng người ta thường xác định những đặc
trưng cơ bản sau đây:
1.2.1. Tính tập thể và tính truyền miệng:
– Văn học dân gian được gọi là những sáng tác nghệ thuật của quần chúng nhân

dân vì đó là những tác phẩm ra đời từ rất xưa, do nhân dân sáng tác, lưu truyền. Đây là
đặc trưng cơ bản của Văn học dân gian. Tập thể quyết định sự ra đời và tồn tại của tác
phẩm. Mỗi tác phẩm Văn học dân gian là kết quả sáng tác của nhiều người, nhiều thế
hệ, nhiều địa phương khác nhau (lúc đầu tác phẩm do một người sáng tạo ra, tác phẩm
được quần chúng nhân dân ưa thích vì nó phù hợp với tâm lý tập thể và do vậy được
lưu truyền qua nhiều đối tượng, nhiều địa phương, nhiều giai đoạn, tác phẩm được
nhiều người sửa chữa (có thể thêm hoặc bớt cho hoàn thiện hơn).
– Trong quá trình ấy vai trò của cá nhân mờ dần, vai trò của tập thể trở nên đậm
nét. Cứ như vậy, mỗi tác phẩm là sáng tác của nhiều người và trở thành những tác
phẩm vô danh (đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều dị bản của Văn học
dân gian).

6

– Văn học dân gian cổ đại ra đời khi chưa có chữ viết, nó tồn tại trong dạng
truyền miệng. Từ khi sinh ra, tác phẩm Văn học dân gian liên tục được truyền miệng
từ địa phương này tới địa phương khác, trong quá trình đó, Văn học dân gian biến đổi
không ngừng. Nhờ có tính truyền miệng mà Văn học dân gian lưu giữ được từ đời này
qua đời khác. Tính truyền miệng là phương tiện cơ bản để lưu giữ nền Văn học dân
gian.
1.2.2. Tính nguyên hợp: Tính nguyên hợp (nghệ thuật tổng hợp) là sự kết hợp
ngay từ nguồn gốc các yếu tố khác nhau trong một chỉnh thể, cụ thể là:
– Văn học dân gian thuộc loại nghệ thuật đa yếu tố. Yếu tố ngôn từ ở Văn học
dân gian thường kết hợp với các yếu tố khác như: Âm nhạc, múa, trò chơi, tạo hình…
và tác phẩm Văn học dân gian chỉ thực sự sống động khi được trình diễn nguyên dạng
với đầy đủ các yếu tố hợp thành. Nhưng cơ sở của tác phẩm Văn học dân gian là yếu
tố ngôn từ. Nghĩa là, ở đây yếu tố ngôn từ giữ vai trò biểu đạt chủ yếu. Bởi trên thực tế
người ta vẫn có thể cảm nhận được nội dung cụ thể của câu chuyện, của bài ca, của vở
diễn qua lời kể, lời ca, lời nói.

– Văn học dân gian nảy sinh và tồn tại như một bộ phận không tách rời của sinh
hoạt nhân dân. Tác phẩm Văn học dân gian gắn liền với những hình thức truyền thống
của nếp sinh hoạt nhân dân trong gia đình, làng xã, trong hoạt động lao động sản xuất,
cụ thể là:
+ Hò cất lên khi lao động sản xuất: Hò chèo thuyền, hò giã gạo…
+ Hát, múa, khấn, cầu nguyện khi trình diễn trong các nghi lễ: Cúng cầu mưa,
cúng ra khơi,…
+ Hát ru trẻ ngủ trong sinh hoạt gia đình.
+ Hát trêu ghẹo, hát giao duyên trong giao tiếp cộng đồng, trong các lễ hội truyền
thống của dân tộc.
1.3. Sự phân loại của Văn học dân gian:
Để phân loại các tác phẩm văn học dân gian phải dựa vào các tiêu chí (tính chất,
dấu hiệu) sau:
– Hệ thống đề tài.
– Chức năng sinh hoạt.
– Phương thức diễn xướng.
– Thi pháp (hệ thống nghệ thuật).
Căn cứ vào các tiêu chí trên, chúng ta thấy Văn học dân gian gồm các thể loại
sau:
1.3.1. Các thể loại tự sự: Thần thoại, truyền thuyết, sử thi, cổ tích, ngụ ngôn,
truyện cười, vè, tục ngữ, câu đố.

7

1.3.2. Các thể loại trữ tình (gọi chúng là ca dao, dân ca): Gồm các bài ca nghi lễ,
bài ca lao động, bài ca sinh hoạt, bài ca giao duyên…
1.3.3. Các thể loại kịch: Chèo, tuồng, các trò diễn dân gian.
* Các thể loại Văn học dân gian có mối quan hệ qua lại: Thể loại sau nảy sinh
trên cơ sở thể loại đã có từ trước.

Ví dụ (VD): Thần thoại về anh hùng văn hóa hoặc các sử thi về anh hùng có thể
chuyển thành truyền thuyết lịch sử.
– Các thể loại Văn học dân gian có số phận lịch sử khác nhau. Số phận ấy chịu sự
quyết định của nhu cầu xã hội, xã hội yêu cầu cách thể hiện của thể loại nào thì thể
loại ấy phát triển. Khi xã hội không có nhu cầu thì thể loại đó bị suy tàn.
VD: Thần thoại ra đời đầu tiên trong hệ thống thể loại Văn học dân gian nhưng
cũng là thể loại một đi không trở lại với con người.
1.4. Những giá trị cơ bản của văn học dân gian:
1.4.1. Giá trị nhận thức: Nói đến nhận thức là nói đến hiểu biết. Văn học dân
gian đem lại cho chúng ta các giá trị nhận thức sau đây:
– Văn học dân gian đem lại những hiểu biết rất phong phú, chân thực về cuộc
sống lao động, sinh hoạt, quan hệ xã hội của nhân dân. Văn học dân gian cung cấp cho
chúng ta những tri thức rộng rãi về phong tục, tập quán cùng cảnh vật quê hương, đất
nước.
VD: Sự tích bánh chưng, bánh giầy cung cấp cho ta hiểu biết về một phong tục
đẹp mang tính truyền thống văn hóa cổ xưa của dân tộc, về đạo nghĩa uống nước nhớ
nguồn, tôn trọng sản phẩm của người lao động.
Sự tích đầm Dạ Trạch: Ca ngợi cảnh vật quê hương đất nước
– Văn học dân gian giúp ta hiểu biết về đời sống tâm tư, tình cảm, về phẩm chất
đạo đức cùng những giá trị tinh thần khác của nhân dân (cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn,
ca dao, dân ca, tục ngữ…).
VD: Truyện Ngụ ngôn, răn dạy con người đạo lý, kinh nghiệm sống.
Truyện cười, nhằm mua vui giải trí, phê phán thói hư tật xấu, giúp người ta sống
tốt hơn.
– Văn học dân gian góp phần bổ sung kiến thức lịch sử dân tộc trong quá khứ.
VD: Truyền thuyết An Dương Vương, Thánh Gióng…
1.4.2. Giá trị giáo dục:
Văn học dân gian là kho kinh nghiệm phong phú của nhân dân, là nơi lưu giữ
những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vì thế giá trị của Văn học dân gian là vô cùng
lớn.

8

– Văn học dân gian là những lời răn dạy, bảo ban của cha mẹ đối với con cái, của
anh em với nhau, của tình làng, nghĩa xóm… Văn học dân gian dạy cho chúng ta cách
ăn nói, ứng xử cho phù hợp với mọi quan hệ xã hội, ca ngợi cái tốt, phê phán cái xấu…
VD: Truyện cây khế, Hai anh em, Tấm Cám và một số bài ca dao, dân ca…
– Văn học dân gian góp phần xây dựng lối sống tốt đẹp, bồi dưỡng những phẩm
chất đạo đức tốt đẹp cho con người như: lòng nhân ái, tính trung thực, sự khôn ngoan,
thái độ cần cù, chăm chỉ trong công việc.
VD: Cây khế, Tấm Cám, Thạch Sanh…
– Văn học dân gian giáo dục con người tình cảm đối với quê hương, đất nước,
lòng tự hào dân tộc, tinh thần tự lực, tự cường chống chọi với thiên nhiên, chống ngoại
xâm.
VD: Sơn Tinh Thủy Tinh; Thánh Gióng
1.4.3. Giá trị thẩm mỹ:
Văn học dân gian đem lại cho chúng ta những khoái cảm thẩm mỹ về vẻ đẹp của
con người, của quê hương đất nước.
– Văn học dân gian xây dựng được những hình tượng nghệ thuật độc đáo, những
cốt truyện hoàn thiện.
VD: Hình tượng Thánh Gióng, Thạch Sanh…
– Cách sử dụng ngôn ngữ trong Văn học dân gian hết sức tài hoa.
VD: Bài ca dao sau:
Anh đến tìm hoa, hoa đã nở,
Anh đến tìm đò, đò đã sang sông,
Anh đến tìm em, em đã có chồng…
– Sử dụng thành công các phương tiện nghệ thuật như: tượng trưng, hư cấu, kỳ ảo
và các biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ… Những giá trị ấy tạo cơ sở cho tình
cảm thẩm mỹ phát triển.

Các giá trị của Văn học dân gian vì thế được coi là dòng sữa mẹ nuôi dưỡng tâm
hồn dân tộc ở mọi thời đại.
1.5. Văn học dân gian trong đời sống trẻ thơ:
Văn học dân gian là loại hình nghệ thuật đến với trẻ em sớm nhất, là người bạn
tinh thần, gắn bó với các em ngay từ lúc còn bé thơ, nhất là những thể loại dân gian
phù hợp với trẻ thơ:
– Khi còn ở trong nôi, tiếng hát ru à ơi đầy yêu thương của mẹ, của bà đã trở
thành nhu cầu thiết yếu của trẻ, đưa trẻ đến với giấc ngủ êm dịu, ngọt ngào.
– Khi trẻ bắt đầu tập nói, tập đi, các câu chuyện, các bài hát có ngôn ngữ trau
chuốt, gọt giũa là những phương tiện giúp các em học ăn, học nói.
VD: Con gà, con chó có lông,
9

Cây tre có đốt, nồi đồng có quai.
-Khi trẻ vào mẫu giáo, những bài ca vui chơi (đồng dao), những câu chuyện cổ
dân gian, câu đố hấp dẫn, lôi cuốn các em vào các hoạt động tập thể, hoạt động nhận
thức. Thông qua các hoạt động ấy, vốn hiểu biết các em được nâng cao, ngôn ngữ
được rèn giũa, trí tuệ được mở mang, chuẩn bị kinh nghiệm sống để các em bước vào
đời.
– Gắn bó với tuổi thơ, Văn học dân gian là nguồn sữa mẹ nuôi dưỡng, phát triển
tâm hồn trẻ thơ, truyền cho các em vẻ đẹp truyền thống của cha ông: lòng nhân ái thủy
chung, tính công bằng, yêu chuộng lẽ phải, đức cần cù, chăm chỉ, yêu nước, thương
nòi, tự tin, lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống.
Câu hỏi và bài tập
1. Trình bày các giá trị cơ bản của văn học dân gian.
2. Phân tích vai trò của Văn học dân gian trong đời sống trẻ thơ.

10

Bài 2: Truyện cổ dân gian và giáo dục trẻ thơ
Truyện cổ dân gian là một trong những bộ phận của Văn học dân gian. Đây là
một bộ phận vô cùng hấp dẫn đối với trẻ thơ. Trong tâm trí trẻ thơ, truyện cổ dân gian
là một thế giới vừa thực, vừa mộng chứa đựng những màu sắc. Đồng thời truyện cổ
dân gian là một bộ phận góp phần rất lớn vào việc giáo dục đạo đức và hình thành
nhân cách cho trẻ.
2.1. Những truyện cổ dân gian phù hợp với trẻ thơ
2.1.1. Thần thoại – Truyền thuyết với giáo dục trẻ thơ.
2.1.1.1. Thần thoại:
a. Định nghĩa: Loại truyện kể về sự tích các thần do người thời cổ tưởng tượng
ra nhằm giải thích nguồn gốc, ý nghĩa của một số hiện tượng tự nhiên và xã hội được
coi là có quan hệ mật thiết đến sự sống còn của tập thể thị tộc hay bộ lạc.
b. Nội dung của thần thoại: Gồm ba nội dung chính:
– Thần thoại Việt Nam giải thích những hiện tượng chung của vũ trụ, trái đất,
đồng thời phản ánh cuộc đấu tranh bền bỉ của người xưa nhằm khám phá tự nhiên và
chinh phục thiên nhiên.
VD: Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh, truyện Thần Trụ trời; truyện Thần biển.
– Thần thoại phản ảnh ước mơ giản dị, hồn nhiên và cũng hết sức sáng tạo, cao
đẹp của lý tưởng con người cổ đại.
VD: Hình tượng thần trụ trời cao to, bước một bước từ núi này sang núi khác;
Hình tượng Sơn Tinh dũng cảm chống Thủy Tinh để bảo vệ hạnh phúc.
– Nhân vật chính trong thần thoại là các vị thần, đó là những nhân vật có sức biến
hóa hơn người. Nhưng gạt bỏ những yếu tố hoang đường thần bí đó thì thần thoại lại
chứa đựng một nội dung hiện thực là phản ánh cuộc sống và cuộc đấu tranh của con
người.
2.1.1.2. Truyền thuyết:
a. Định nghĩa: Truyền thuyết là những câu chuyện kể về những sự kiện, nhân
vật, địa danh lịch sử đã được nhân dân lý tưởng hóa và gửi gắm vào đó thái độ, tình
cảm, cách đánh giá của mình.Truyền thuyết ra đời sau thần thoại.

b. Nội dung: Truyền thuyết lịch sử phản ánh hai nội dung lớn:
– Ca ngợi cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước của dân tộc.
VD: Sự tích Hồ Gươm, Thánh Gióng, An Dương Vương.
– Ca ngợi công đức của các vị anh hùng vì độc lập, tự chủ của dân tộc.
VD: Truyền thuyết hai Bà Trưng; Lê Lợi; Trần Hưng Đạo…
c. Tác dụng của thần thoại và truyền thuyết với giáo dục mầm non:

11

– Trong thần thoại và truyền thuyết, trí tưởng tượng đóng vai trò hết sức quan
trọng, đây là yếu tố tạo nên thần thoại và truyền thuyết. Vì vậy đem thần thoại và
truyền thuyết đến với trẻ sẽ góp phần kích thích trí tưởng tượng và nuôi dưỡng ước mơ
cho trẻ, giúp các em cảm nhận sức mạnh kỳ diệu của lao động sáng tạo.
– Thần thoại và truyền thuyết có tác dụng to lớn trong việc giáo dục lòng tự hào
dân tộc cho trẻ thơ. Qua truyền thuyết, thần thoại trẻ biết ông cha ta đã sống ra sao,
chống ngoại xâm anh dũng như thế nào, cải tạo thiên nhiên ra sao?… Giáo dục trẻ thơ
qua thần thoại và truyền thuyết là hình thức giáo dục bằng nghệ thuật có tác dụng đến
tình cảm, lý tưởng của các em.
2.1.2. Truyện cổ tích với giáo dục trẻ thơ:
2.1.2.1. Định nghĩa: Truyện cổ tích là những truyện kể truyền miệng. Bằng tưởng
tượng, truyện mô tả số phận con người trong các mối quan hệ gia đình, xã hội cụ thể
(truyện trình bày đủ các dạng quan hệ vốn có của con người trong xã hội phong kiến
như: vua – tôi, thần – dân, giàu – nghèo, thầy – trò, vợ – chồng, anh – em, bè bạn…).
Thông qua các mối quan hệ đa dạng và phong phú ấy, cổ tích theo cách riêng của mình
phát hiện ra các xung đột xã hội, các mâu thuẫn giai cấp trong xã hội có giai cấp. Và từ
những phát hiện về một vấn đề trọng đại như vậy, cổ tích hướng nhiệm vụ chủ yếu của
mình vào việc lý giải, tìm lối thoát cho một vấn đề mà chính lịch sử trong giai đoạn ấy
cũng chưa tạo được tiền đề thực tế để có thể giải quyết triệt để.
2.1.2.2. Phân loại: Truyện cổ tích chia làm ba loại:

– Truyện cổ tích loài vật.
– Truyện cổ tích sinh hoạt.
– Truyện cổ tích thần kỳ.
Trong đó truyện cổ tích thần kỳ là loại truyện chiếm số lượng nhiều nhất và là
loại truyện hấp dẫn nhất đối với mọi người nói chung, trẻ em nói riêng.
a. Truyện cổ tích loài vật: Là những truyện cổ tích trong đó nhân vật chính là
một con vật nào đó. Con vật này có thể sống gần gũi với người dân hoặc sống trong
rừng. Loại truyện cổ tích này có khi là giải thích một đặc điểm nào đó của con vật.
VD: Vì sao dơi ăn muỗi? Vì sao lươn lại sống trong bùn? Vì sao lông quạ lại
đen? Tại sao chó ghét mèo?…
Có khi truyện cổ tích đề cập đến một con thú thông minh (thỏ, cáo). Những
truyện cổ tích loài vật thường hấp dẫn bởi nhiều tình tiết ly kỳ.
b. Truyện cổ tích sinh hoạt: Là những chuyện kể về những con người và những
sự kiện xảy ra trong thế giới con người không có các nhân vật siêu nhiên, thần bí.
Đây là loại truyện đề cập đến những tình huống rất bình thường trong cuộc sống
hàng ngày. Cách xử sự trong các mối quan hệ bạn bè, gia đình, thầy trò, cách ứng xử

12

nhạy bén, miêu tả trong những tình huống khó khăn, cách phơi bày thói ba hoa, hống
hách… ý nghĩa răn dạy thể hiện rất đậm trong loại cổ tích này.
VD: Vợ khôn lấy chồng dại; Trương Chi; Gái ngoan dạy chồng; Giết chó khuyên
chồng; Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng.
c. Truyện cổ tích thần kỳ: (Cổ tích hoang đường)
Là loại cổ tích mà trong đó yếu tố thần kỳ được thể hiện đậm nét hơn cả. Yếu tố
này không chỉ tạo ra màu sắc ly kỳ và hấp dẫn của cổ tích mà còn có ý nghĩa quyết
định trong những thời điểm nhất định. Thiếu nó bản thân nhân vật không thể vượt qua
nổi những thử thách gay go để chiến thắng kẻ thù.
VD: Các yếu tố kỳ diệu trong các tác phẩm: Tấm Cám; Thạch Sanh; Cây khế;

Xem thêm :  Tổng hợp chia sẻ hình ảnh, tranh vẽ, biểu mẫu trong lĩnh vực giáo dục

Cây tre trăm đốt; Sọ dừa…
– Kết cấu của cổ tích thần kỳ thường có ba phần:
+ Phần thứ nhất: Nói về nguồn gốc xuất thân và cuộc đời đau khổ của nhân vật
(mồ côi cha mẹ, mang lốt xấu xí, nghèo khổ), nhân vật bị hành hạ, bạc đãi, bị lừa dối,
tước đoạt… Vì vậy ngay từ đầu nhân vật đã tạo sự thương yêu, đồng cảm sâu sắc của
nhân dân lao động.
+ Phần thứ hai: Nói về phẩm chất, về tài năng và chiến công của nhân vật. Vai
trò của các yếu tố kỳ diệu thể hiện rõ rệt nhất ở đây. Nhân vật bao giờ cũng phải trải
qua một hoặc vài lần thử thách, kẻ thù luôn gây cho họ muôn vàn khó khăn để đẩy họ
vô chỗ đường cùng. Song với sức mạnh của đạo đức, của tài năng và có sự hỗ trợ của
yếu tố kỳ diệu, nhân vật chính diện bao giờ cũng vượt qua những trở ngại để thực hiện
ước mơ.
+ Phần thứ ba: Là phần thưởng dành cho nhân vật chính diện. Và có thể nói, Có
bao nhiêu dạng nhân vật là có bấy nhiêu ước mơ của nhân dân xưa về một xã hội, một
con người, một cuộc đời hạnh phúc.
– Với kết thúc truyện có hậu, truyện cổ tích thần kỳ biểu hiện rực rỡ chủ nghĩa
nhân đạo, tiến bộ của nhân dân. Trong xu thế tích cực, cổ tích đem lại cho người đọc,
người nghe một niềm lạc quan vô bờ bến về sự tồn tại một xã hội công bằng, thanh
bình, không có điều ác.
2.1.1.3. Tác dụng của truyện cổ tích với giáo dục trẻ mầm non:
– Tuổi thơ là tuổi giàu tưởng tượng và ước mơ. Truyện cổ tích (đặc biệt là cổ tích
thần kỳ) hấp dẫn trẻ thơ trước hết ở một thế giới vừa thực vừa mộng, chứa đựng những
phép màu, những vật thiêng, những sức mạnh thần kỳ góp phần nuôi dưỡng những
khát vọng tưởng tượng và ước mơ sáng tạo cho trẻ.
– Tuổi thơ khát khao một cuộc sống tốt đẹp. Truyện cổ tích rất phù hợp với các
em vì ở đây nói lên những quan niệm đạo đức, công lý xã hội và ước mơ về một cuộc

13

sống tốt đẹp hơn cuộc sống hiện tại, góp phần giáo dục đạo đức và hình thành lòng
nhân ái cho trẻ.
– Truyện cổ tích lấy việc miêu tả hành động của nhân vật để chỉ ra phẩm chất của
nhân vật. Các nhân vật trong truyện cổ tích chia thành hai tuyến đối lập nhau: thiện –
ác; giàu – nghèo; chăm chỉ – lười biếng… Vì vậy, truyện cổ tích dễ hình thành cho trẻ
cách nhìn nhận, cách đánh giá cái tốt, cái xấu. Trên cơ sở đó giúp các cháu có ý thức
làm theo cái tốt, cái đẹp được đề cao trong truyện.
VD: +Việc may túi ba gang của hai anh em trong Cây khế: Người em may túi ba
gang, người anh may túi mười hai gang.
+ Việc Cám đổ tép của Tấm trong truyện Tấm Cám
– Trong truyện cổ tích các tình tiết diễn ra theo trình tự thông thường: Việc gì xảy
ra trước thì nói trước, việc gì xảy ra sau thì nói sau, nhân vật, không gian, thời gian
trong truyện thường là phiếm chỉ.
VD: Ngày xửa ngày xưa ở một gia đình nọ, trong một khu rừng kia… Vì thế
truyện cổ tích dễ nhớ, dễ thuộc và hấp dẫn trẻ thơ.
– Truyện cổ tích giúp trẻ làm giàu thêm vốn từ, học tập được lời hay, ý đẹp và
cách diễn đạt của nhân dân (cách ví von, so sánh, cách diễn đạt ngắn gọn, từ ngữ dễ
hiểu…).
2.1.3. Truyện ngụ ngôn với giáo dục trẻ thơ:
2.1.3.1. Định nghĩa: Truyện ngụ ngôn là loại truyện tưởng tượng, mượn loài vật,
sự vật, hiện tượng để nêu lên một kinh nghiệm sống, một bài học đạo đức hay một triết
lý sống.
– Truyện ngụ ngôn bao giờ cũng có hai lớp nghĩa: Lớp nội dung truyện kể và lớp
bài học kinh nghiệm. Đây là đặc điểm nổi bật của truyện ngụ ngôn.
2.1.3.2. Nội dung truyện ngụ ngôn:
– Nội dung cụ thể của truyện thường nói về phẩm chất, hoạt động của loài vật, sự
vật. Nhưng mục đích chính cần đạt tới lại là vấn đề con người trong những mối quan
hệ xã hội. Những vấn đề đó mang tính triết lý, vì vậy, truyện ngụ ngôn gần gũi với tục
ngữ và truyện cười.
– Ý thức xây dựng xã hội thể hiện bằng những bài học phê phán và ca ngợi được

coi là âm hưởng chủ đạo của truyện ngụ ngôn.
2.1.3.3. Tác dụng của truyện ngụ ngôn với trẻ thơ:
Mỗi câu truyện ngụ ngôn là một bài học giáo dục, một kinh nghiệm sống. Mặt
khác truyện ngụ ngôn ngắn gọn, nội dung đơn giản, kết cấu mạch lạc, số lượng nhân
vật ít. Mỗi nhân vật được khai thác chỉ ở một nét tính cách hoặc một thói quen. Vì vậy,
mỗi truyện ngụ ngôn chỉ là một câu chuyện nhỏ vừa sức tiếp thu với trẻ mẫu giáo.

14

Truyện ngụ ngôn giáo dục trẻ bằng những bài học nhẹ nhàng nhưng phải có người lớn
gợi ý, giúp đỡ trẻ mới hiểu được.
VD: Câu truyện Kiến giết voi: Khai thác ở nét tính cách coi thường người bé nhỏ,
tự cho mình là nhất của chú voi, cuối cùng, chú kiến bé nhỏ bắt voi phải quy phục, van
xin. Bài học cho trẻ là không được coi thường kẻ yếu. Nhưng phải có sự phân tích, gợi
ý của cô giáo trẻ mới hiểu được ý nghĩa của bài học giáo dục.
2.2. Những giá trị đặc trưng nói chung của truyện cổ dân gian đối với trẻ thơ
2.2.1. Truyện cổ dân gian là kho báu về đạo đức truyền thống dân tộc:
– Truyện cổ dân gian là kho báu về đạo lý truyền thống dân tộc mà trước hết là
đạo đức lý làm người. Trẻ tìm thấy trong truyện cổ những tấm gương mẫu mực về đạo
đức để noi theo như: Tính trung thực, sự cần cù, chăm chỉ, sống có nghĩa có tình, giàu
lòng nhân ái. Những nội dung này được thể hiện qua thần thoại, truyền thuyết…
– Giáo dục trẻ lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức về truyền thống lịch sử
cha ông, giáo dục ý thức “uống nước nhớ nguồn” trong quá trình dựng nước và giữ
giữ nước của dân tộc, các nội dung này được thể hiện trong truyền thuyết.
– Giáo dục các em những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm đối nhân xử thế trong
các mối quan hệ để hoàn thiện nhân cách con người. Điều đó được thể hiện qua cổ
tích, qua truyện ngụ ngôn.
2.2.2. Truyện cổ dân gian phát huy mạnh mẽ trí tưởng tượng của trẻ thơ:
– Hình tượng trong thần thoại kỳ vĩ, bay bổng giàu tính thẩm mỹ, giúp các em

cảm nhận sức mạnh kỳ diệu của lao động sáng tạo.
– Truyền thuyết, thần thoại nâng đỡ trí tưởng tượng, của các em bay cao, bay xa,
mở rộng cánh cửa tâm hồn để các em vươn xa vào cuộc sống.
– Truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích thần kỳ với những yếu tố kỳ diệu chắp cánh
cho ước mơ các em, tạo cho các em một khoảng trời rộng để bay bổng. Kết thúc có
hậu trong truyện cổ tích chắp cánh cho ước mơ một xã hội công bằng, thanh bình và
giàu lòng nhân ái làm cho các em tin yêu ở cuộc đời hơn nữa.
Câu hỏi và bài tập:
1. Trình bày khái niệm, nội dung, tác dụng của các loại truyện cổ dân gian.
2. Trình bày các giá trị đặc trưng nói chung của truyện cổ dân gian với giáo dục
trẻ thơ.
3. Chọn một truyện dân gian phù hợp với trẻ mầm non, kể trước lớp và nêu ý
nghĩa của câu truyện.

15

Bài 3: Đồng dao trong đời sống trẻ thơ
3.1. Khái niệm: Đồng dao là một thể loại của bài ca dân gian dành cho trẻ em.
Đó là những câu hát có nội dung và hình thức phù hợp với trẻ, thường do trẻ em hát
khi vui chơi.
3.2. Đặc trưng của đồng giao:
Là một trong những thể loại của bài dân gian. Do vậy nó cũng mang những đặc
trưng chung của tác phẩm Văn học dân gian như: Tính tập thể, tính truyền miệng, tính
nguyên hợp… Ngoài ra nó còn có những đặc điểm riêng biệt vì đây là loại bài ca của
trẻ em, cụ thể là:
3.2.1. Đồng dao tập trung vào đề tài thiên nhiên và phản ánh nó trong trạng thái
hoạt động, gắn bó với đời sống trẻ thơ:
– Đồng dao là những bài ca về chim muông, cây cỏ, tôm cá, đó là những bài ca
sinh hoạt dân gian phong phú đối với trẻ. Đồng dao là người thầy dạy các em những

khái niệm đầu tiên về thiên nhiên, đất nước, con người.
VD: Qua một bài ca ngắn, đồng dao giới thiệu với các em hàng chục loài cá, loài
chim, gia cầm… mỗi loài mang một đặc điểm độc đáo, ngộ nghĩnh:
Xa cha xa mẹ
Là con cá trôi
Mệt đổ mồ hôi
Là con cá liệt
Hoặc:
Hay chạy lon ton
Là gà mới nở
Cái mặt hay đỏ
Là con gà mào
Hay lội dưới ao
Mẹ con nhà vịt
Hay la hay hét
Là con bồ chao
Hay bay bổ nhào
Là chim bói cá
Hoặc, một bài đồng dao về chim, các em phát hiện ra những ưu điểm, những hạn
chế của từng loài qua tiếng hót của chúng:
Khéo ăn khéo nói
Là chim chích chòe
Hót chẳng ai nghe
16

Là con chim cú
Còn gì vui thú
Là chim vành khuyên
Hoặc:

Không nói không rằng
Là hoa ngủ điếc,
Xanh xanh biếc biếc
Là cái hoa chàm
Đụng cái là hờn
Là hoa xấu hổ
– Thế giới đồng dao là một thế giới sinh động, phong phú, chứa chan sức sống và
tươi vui. Trong đồng dao có đủ những con vật gần gũi với cuộc sống xung quanh trẻ.
VD: – Tập tầm vông
Con công hay múa
Nó múa làm sao
Nó đập cánh vào
Nó xòe cánh ra…
– Con vỏi con voi.
Cái vòi đi trước,
Hai chân trước đi trước,
Hai chân sau đi sau,
Còn cái đuôi đi sau rốt,
Tôi xin kể nốt,
Câu chuyện con voi.
– Con gà cục tác lá chanh,
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi,
Con chó khóc đứng khóc ngồi,
Mẹ ơi, đi chợ mua tôi củ riềng.
– Con cua tám cẳng hai càng,
Chẳng đi mà lại bò ngang cả ngày
3.2.2. Ngôn từ, kết cấu của đồng dao đơn giản, dễ hiểu, đặc biệt tính hài hòa
trong nhịp điệu của ngôn từ làm cho đồng dao dễ nhớ, dễ thuộc:
VD: Các bài đồng dao được viết bằng thể thơ bốn tiếng, ba tiếng, hoặc lục bát:
Mười ngón tay

Ngón đi cày
Ngón tát nước
Ngón cầm lược…
17

Hoặc: – Đòn gánh / có mấu
Củ ấu / có sừng
Bánh chưng / có lá
Con cá / có vây
Ông thầy / có sách
Thợ ngạch / có dao
Thợ rào / có búa
Ông chúa / có tàn
Ông Quan / có lọng
Ông tổng / có trâu
Nhà giàu / có thóc…
– Con gà tục tác / lá chanh,
Con lợn ủn ỉn / mua hành cho tôi,
Con chó khóc đứng / khóc ngồi,
Bà ơi đi chợ / mua tôi củ riềng.
Cách ngắt nhịp chủ yếu của Đồng dao là 3/3, 4/4 hoặc 2/2… cùng với sự việc sử
dụng vần chân, vần bằng xen kẽ, tạo cho thể loại này một cách nói phù hợp với các
em.
3.2.3. Đồng dao gắn liền với trò chơi nên nó thật sự là một phương tiện phục vụ
nhu cầu giải trí, nhu cầu vui chơi tập thể của các em.
Đồng dao là loại sáng tác dân gian hết sức lý thú. Vì nó gắn với trò chơi, mà đã
vui chơi thì phải có bạn, có bè, không thể chơi và hát một mình.
VD: Trò chơi nu na nu nống; Chồng nụ chồng hoa; Con vỏi con voi, là những trò
chơi mang tính tập thể cao, có luật chơi và mọi người phải thực hiện luật chơi cho tốt

trong khi chơi, vì thế người ta thường nói Đồng dao là tiếng hát gọi đàn đối với trẻ em.
3.3. Ý nghĩa của đồng giao đối với trẻ thơ
Đồng dao là bài ca dân gian dành cho trẻ em nên nó có ý nghĩa rất lớn đối với đời
sống tâm hồn của trẻ em.
3.3.1. Đồng dao là chiếc chìa khóa mở rộng cánh cửa tâm hồn trẻ thơ, giúp các
em mở rộng mối quan hệ, hòa nhập với cộng đồng.
Đây là kết quả của vui chơi tập thể, trẻ hòa vào cộng đồng nhỏ bé của cuộc chơi
một cách say sưa. Tuân thủ các luật chơi, trẻ bước đầu nhận ra các nguyên tắc của xã
hội nhỏ bé. Khi chơi, muốn được chơi và trò chơi lý thú phải thực hiện luật chơi và kết
hợp với các thành viên nhỏ bé để cùng chơi, làm sai luật sẽ bị loại khỏi cuộc chơi.
VD: Thả đỉa ba ba; Ù à ù ập…
3.3.2. Đồng giao giúp trẻ yêu đời, yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên đất nước, mở
rộng tâm hồn và tri thức sơ đẳng cho trẻ:
18

VD: Bài đồng dao cung cấp cho các em kiến thức về gia vị khi nấu một số món
ăn:
Con gà tục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi.
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Bà ơi đi chợ mua tôi củ riềng.
Đằng sau cái hồn nhiên tươi mát và ngộ nghĩnh, nhiều bài đồng dao đã phát hiện
ra một cách bất ngờ những chân lý sâu xa của cuộc sống giúp trẻ mở mang trí tuệ.
VD: Một số bài đồng dao kết cấu theo kiểu vòng tròn thể hiện một chân lý, một
quy luật:
Tu hú là chú Bồ các
Bồ các là bác chim ri.
Chim ri là dì sáo sậu…
Hoặc: – Đậu nành là anh dưa chuột,

Dưa chuột chú ruột dưa gang,
Dưa gang cùng làng dưa hấu,
Dưa hấu là cậu bí ngô
Bí ngô là cô đậu nành.
Từ đó rút ra: Trong cuộc sống không có gì là tuyệt đối bởi sự vật luôn liên hệ
với nhau, ràng buộc và tác động lẫn nhau.
3.3.3. Đồng dao đi liền với trò chơi nhưng ý nghĩa giáo dục với các em rất lớn,
nó giúp các em biết sống có đạo đức, biết trân trọng người lao động.
VD: Ăn một bát cơm
Nhớ ơn người cày ruộng
Ăn một đĩa muống
Nhớ ơn người làm ao
Ăn một quả đào
Nhớ ơn người vun gốc
Ăn một con ốc
Nhớ ơn người đi mò.
3.3.4. Đồng dao góp phần phát triển vốn từ cho trẻ, tạo cho các em lòng yêu thích
tiếng Việt, rèn luyện bộ máy phát âm cho trẻ.
– Đồng dao giúp trẻ học ăn, học nói, Đồng dao sử dụng rất nhiều từ tượng hình,
tượng thanh, cách nói dân dã, giúp các em làm quen với các loại từ tiếng Việt.
VD: Nu na nu nống,
Đánh trống phất cờ,
Mở cuộc thi đua,
Chân ai sạch sẽ…
19

– Hoặc giúp trẻ làm quen với các cách xưng hô trong giao tiếp hàng ngày.
VD:
Tiếng con chim ri

Gọi dì gọi cậu
Tiếng chim sáo sậu
Gọi cậu gọi cô
Tiếng chim cồ cồ
Gọi cô gọi chú.
– Các từ láy trong đồng dao là những phương tiện giúp trẻ rèn luyện bộ máy phát
âm.
VD: Bài đồng dao: – Nu na nu nống (luyện âm n)
– Dung dăng dung dẻ (luyện âm d).
* Kết luận: Đồng dao là nhóm bài ca đặc biệt phù hợp và hòa hợp với trẻ thơ.
Đây là bộ phận bài ca dành riêng cho trẻ. Đồng dao mang đến cho trẻ niềm vui của các
hoạt động tập thể, đồng thời cũng mang đến cho các em bao hiểu biết bổ ích về thế
giới xung quanh, hình thành cho các em lòng nhân ái. Nó thực sự là một trong những
phương tiện hữu hiệu để giáo dục trẻ.
Câu hỏi và bài tập:
1. Thế nào là đồng dao? Đồng dao có những đặc trưng gì?
2. Trình bày ý nghĩa của đồng dao đối với đời sống trẻ thơ.
3. Sưu tầm một số bài đồng dao phổ biến ở địa phương nơi bạn sinh sống.

20

Bài 4: Hát ru với trẻ thơ
4.1. Khái niệm về hát ru:
Hát ru là một loại dân ca sinh hoạt trữ tình truyền thống của dân tộc. Loại dân ca
này chủ yếu hát trong sinh hoạt gia đình. Đó là những lời ru của bà, của mẹ, của anh
chị với trẻ thơ.
– Hát ru có chức năng chủ yếu là đưa trẻ vào giấc ngủ hoặc làm cho chúng bình
tĩnh, nín dịu khi chúng la khóc. Âm điệu hát ru vì vậy thường chậm rãi, êm dịu, du
dương, nhẹ nhàng, lắng đọng. Lời hát ru thường đi kèm với cử chỉ, ôm ấp, âu yếm hay

vỗ về của người ru đối với đối tượng được ru.
VD: À ơi! con ơi con ngủ cho say
Ôm con mẹ gối cánh tay con nằm
Mẹ cho con gác lên chân
Có hơi mẹ ấm con còn ngủ ngon
Tiếng ru gửi gắm tình thương
Mang bình yên đến cho con mẹ mừng
– Hát ru là loại dân ca mà làn điệu của nó thường ứng với khuôn thơ lục bát, nhạc
điệu của nó tự do. Vì thế khi hát ru người ta thường lặp lại các âm điệu nhẹ nhàng, êm
dịu.
4.2. Truyền thống về hát ru:
– Hát ru là lối hát theo tập quán truyền thống. Nó xuất hiện rất sớm và tồn tại lâu
dài trong đời sống của nhân dân nhằm đáp ứng nhu cầu nuôi dạy con cái, giải trí, giãi
bày tâm sự.
– Hát ru của người Việt có ba giọng điệu chủ yếu là ru con Bắc Bộ (từ Thanh Hóa
trở ra). Ru con Trung Bộ (từ Quảng Bình trở vào đến duyên hải miền Trung) và ru con
Nam Bộ. Trong quá trình phát triển của nó có những thời kỳ ở những địa phương khác
nhau hát ru dường như bị bỏ quên, dẫn đến một hậu quả đáng tiếc là nhiều thế hệ trẻ
thơ không được hưởng dòng sữa tinh thần trong nguồn văn học dân gian đầy giá trị.
4.3. Tình hình hiện nay về hát ru:
– Hát ru hiện nay không còn sử dụng nhiều như những thời kỳ trước vì nhiều lý
do: Cháu đi nhà trẻ, mẫu giáo nên bà, mẹ không phải giữ ở nhà. Cơ chế thị trường
cuốn hút con người vào cơn lốc làm ăn khiến các ông bà, cha mẹ không còn để ý đến
việc hát ru. Các cô gái trẻ lớn lên trong thời kỳ mở cửa không có nhu cầu học hát ru và
sử dụng hát ru.
Thực trạng đó là điều báo động cho một nét truyền thống văn hóa dân tộc đang
có nguy cơ mai một và cũng là một thiệt thòi lớn cho trẻ em Việt Nam hiện nay.
– Để khôi phục nét truyền thống mang đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng và các bộ,
ngành chức năng đã có nhiều biện pháp như: Tổ chức thi hát ru hàng năm từ trung
21

ương đến địa phương tạo nên một phong trào giúp người Việt Nam ý thức được tầm
quan trọng của hát ru và để lưu giữ hát ru trong cội nguồn dân tộc.
4.4. Ý nghĩa hát ru trong đời sống trẻ thơ:
4.4.1. Lời ru đưa trẻ vào giấc ngủ.
Từ khi lọt lòng mẹ, hiếm có trẻ em Việt Nam nào lại không được nghe một lời
hát ru. Hát ru cùng với dòng sữa mẹ đi suốt với trẻ những năm tháng đầu tiên của cuộc
đời. Trẻ đi vào giấc ngủ từ những khúc tâm tình và sâu lắng ấy:
VD: Cái ngủ, mày ngủ cho ngoan
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về
Bắt được con trắm, con trê
Lôi cổ đem về cho cái ngủ ăn.
Đó là cách biểu hiện của tiếng nói tâm hồn, tình cảm trong lành của bà, của mẹ,
của chị với trẻ thơ.
4.4.2. Lời ru đưa đến cho trẻ những bài học đầu tiên của cuộc đời.
– Bài học đầu tiên mẹ dạy con qua hát ru là dạy trẻ cảm nhận thế giới quanh
mình:
VD:

À ơi! Con mèo, con chó có lông

Cây tre có đốt, nồi đồng có quai.
– Lời ru đưa các em đến với cuộc sống một nắng hai sương của người lao động:
À ơi! con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi! Ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng…
Hoặc:
Cái ngủ, mày ngủ cho ngoan

Mẹ mày vất vả chân, tay tối ngày.
– Hát ru dạy các em từ lời ăn, tiếng nói, cách đi, dáng đứng, cách cư xử với mọi
người trong xã hội. Các em cảm nhận từ lời ru bài học làm người:
VD: + Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
+ Khôn ngoan đá đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.
+ Lên xe, nhường chỗ bạn ngồi
Nhường nơi bạn dựa, nhường lời bạn thân.
– Lời ru dạy các em biết thế nào là tốt, xấu:
VD: Con gái chưa nói đã cười
Chưa đi đã chạy là người vô duyên.
Ngậm cơm mà nói huyên thuyên
Lời nghe không sạch lại hiềm khó coi.
22

4.4.3. Hát ru là nhạc, là thơ, là những hình tượng nghệ thuật đầu tiên đậu lại
trong tâm hồn trẻ. Giai điệu gần gũi, thân quen như hơi thở của mẹ, tạo dựng cho trẻ
ấn tượng về âm thanh, nhịp điệu.
4.4.4. Ngôn ngữ lời ru .
-Là ngôn ngữ thơ ca được gọt giũa, trau chuốt qua bao người với thử thách của
thời gian.
– Ngôn ngữ hát ru chính xác, nhuần nhụy, xứng đáng dành cho trẻ học ăn, học
nói, góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
* Kết luận: Hát ru là một thể loại dân gian chỉ dành riêng cho trẻ. Hát ru với trẻ
thơ không phải là sữa, là cá, là cơm nhưng nó là chất dinh dưỡng giúp cho tâm hồn
không bị què quặt, giữ cho bước đi khỏi ngã, khỏi nghiêng. Hát ru là ngọn lửa sưởi ấm
tâm hồn các em, dẫn dắt các em đi suốt cuộc đời.
Câu hỏi bài tập:

1. Trình bày ý nghĩa của ru trong đời sống trẻ thơ.
2. Sưu tầm một số bài hát ru phổ biến ở địa phương nơi bạn sinh sống.

23

PHẦN 2: VĂN HỌC TRẺ EM VIỆT NAM
Bài 1: Khái quát về sự phát triển của văn học thiếu nhi Việt Nam
2.1. Quá trình sáng tác văn học thiếu nhi Việt Nam:
2.1.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Giai đoạn này đã có văn học cho thiếu nhi nhưng chưa thực sự có một nền văn
học cho thiếu nhi, bởi bọn thực dân phong kiến rất coi khinh người lao động, do đó đời
sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của người lao động cũng không được chúng
quan tâm đến. Con em của họ lại càng không được chúng để ý đến. Cụ thể là:
– Khi còn dùng chữ nho thì lẻ tẻ có một vài cuốn mang tính chất sách giáo khoa
như:“Tam tự kinh”, “Minh Tâm bảo giám”, nhằm dạy cho trẻ tuân theo những qui
định của lễ giáo và đạo lý phong kiến.
– Một số tác phẩm dịch từ tiếng Pháp cho các em đọc như: Thơ ngụ ngôn của La
– Phông – ten, truyện cổ tích Pe ron.
– Một số sách viết cho trẻ em bằng tiếng Pháp nhưng không nhiều và không phải
em nào cũng đọc được .
– Ở giai đoạn 1930 – 1945 có một số nhà văn Việt Nam cũng viết cho các em:
Tản Đà, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Vĩnh, Tô Hoài.
Ngoài ra còn có bộ phận Văn học dân gian cũng được các em yêu thích vì nội
dung dễ hiểu, phù hợp với cách hiểu, cách nghĩ của tuổi thơ, mà đặc biệt là nó được
truyền miệng nên em nào cũng được thưởng thức.
Nhìn chung, trước Cách mạng tháng Tám nước ta đã có văn học cho thiếu nhi
nhưng chưa thực sự có nền văn học cho thiếu nhi.
2.1.2. Văn học thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay.
Văn học viết cho thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám được chia làm bốn giai

đoạn phát triển:
2.1.2.1. Giai đoạn từ năm 1945 – 1954: Đây là giai đoạn văn học thiếu nhi đặt
nền móng xây dựng và tham gia tích cực vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp:
– Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một chân trời mới cho nền văn học
thiếu nhi. Bác Hồ và Đảng, nhà nước đã dành sự quan tâm đặc biệt đến sự hình thành
một nền văn học cho thiếu nhi. Bác Hồ là người đi đầu trong việc sáng tác cho các em.
Bác luôn động viên, khuyến khích mọi người chăm lo, giáo dục và sáng tác văn nghệ
phục vụ thiếu nhi.
– Năm 1946 tờ báo thiếu nhi Việt Nam đầu tiên được ra mắt bạn đọc nhỏ tuổi với
tên gọi Thiếu sinh.
– Bộ phận văn học thiếu nhi được thành lập do nhà văn Tô Hoài phụ trách.
24

Xem thêm :  Những câu caption, stt thả thính, thơ thả thính cực mạnh

A. Mục lục : …………………………………………………………………………………………………….. 2B : Mục tiêu học phần : …………………………………………………………………………………….. 3C : Nội dung dạy học : ………………………………………………………………………………………. 4P hần 1 : Văn học dân gian ………………………………………………………………………………….. 6B ài 1 : Nhìn lại văn học dân gian …………………………………………………………………………. 6B ài 2 : Truyện cổ dân gian và giáo dục trẻ thơ …………………………………………………….. 10B ài 3 : Đồng dao trong đời sống trẻ thơ ………………………………………………………………. 16B ài 4 : Hát ru với trẻ thơ ……………………………………………………………………………………. 21P hần 2 : Văn học trẻ nhỏ Nước Ta …………………………………………………………………….. 24B ài 1 : Khái quát về sự tăng trưởng của văn học thiếu nhi Nước Ta …………………………. 24B ài 2 : Thơ Võ Quảng ………………………………………………………………………………………. 30B ài 3 : Thơ Phạm Hổ ………………………………………………………………………………………… 34B ài 4 : Tô Hoài ……………………………………………………………………………………………….. 42B ài 5 : Thơ Các em viết …………………………………………………………………………………….. 46B ài 6 : Thơ Trần Đăng Khoa ……………………………………………………………………………… 51P hần 3 : Văn học trẻ nhỏ quốc tế …………………………………………………………………… 59B ài 1 : Khái quát văn học trẻ nhỏ quốc tế ……………………………………………………….. 61B ài 2 : Giới thiệu môt số tác giả, tác phẩm tiêu biểu vượt trội ……………………………………………. 67B. Mục tiêu học phần1. Mục tiêu chung của học phần : * Kiến thức : – Sau khi học xong học phần, sinh viên có được những những kiến thức và kỹ năng về đặctrưng cơ bản của văn học dân gian, vai trò của văn học dân gian so với giáo dụctrẻ thơ, 1 số ít thể loại văn học dân gian tương thích với trẻ mần nin thiếu nhi. – Hiểu được thành tựu của văn học thiếu Nước Ta từ sau cách mạng tháng Tám1945, một số ít tác giả, một số ít tác phẩm tiêu biểu vượt trội. – Hiểu được 1 số ít nét về thành tựu văn học thiếu nhi quốc tế, một số ít tác giả, tác phẩm tiêu biểu vượt trội. * Kỹ năng : – Biết nghiên cứu và phân tích, nhìn nhận những tác phẩm viết cho trẻ mần nin thiếu nhi. Phát hiện đượcnhững nét rực rỡ về nội dung và nghệ thuật và thẩm mỹ của văn học thiếu nhi nói chung, thơtruyện cho trẻ mần nin thiếu nhi nói riêng. * Thái độ : Yêu thích và nhìn nhận đúng những tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi nói chung, cho trẻ mần nin thiếu nhi nói riêng, từ đó tu dưỡng thêm lòng yêu nghề, mến trẻ. 2. Mục tiêu huấn luyện và đào tạo đơn cử : 2.1. Phẩ m chấ t : * Phẩm chất 1 : – Có ý thức tìm hiểu và khám phá, điều tra và nghiên cứu về khái niệm văn học dân gian, đặc trưng củavăn học dân gian, giá trị của văn học dân gian. Một số tác phẩm văn học dân gianphù hợp với trẻ như : cổ tích, thần thoại cổ xưa, ngụ ngôn, thần thoại cổ xưa, đồng dao, hátru … – Yêu thích văn học dân gian, đặc biệt quan trọng là những thể loại văn học dân gian gắn bóvới đời sống tâm hồn trẻ thơ. * Phẩm chất 2 : Có ý thức khám phá, điều tra và nghiên cứu về thành tựu của những quá trình tăng trưởng củavăn học thiếu nhi Nước Ta, những nét rực rỡ về nội dung, nghệ thuật và thẩm mỹ. Về nộidung và thẩm mỹ và nghệ thuật của những tác phẩm, tác giả tiêu biểu vượt trội như : Tô Hoài, Phạm Hổ, VõQuảng, Trần Đăng Khoa … * Phẩm chất 3 : Có ý thức khám phá, điều tra và nghiên cứu thành tựu của văn học trẻ nhỏ quốc tế đượcdịch sang tiếng Việt, những giá trị cơ bản của văn học trẻ nhỏ quốc tế. Tìm hiểumột số tác giả, tác phẩm tiêu biểu vượt trội như : Andecxen, Grim. L.Tôn xtôi, HectoMalo … 2.2. Năng lự c : * Năng lực 1 : Có năng lực nghiên cứu và phân tích, nhìn nhận, sưu tầm những tác phẩm Văn họcdân gian để tìm ra nét đặc trưng của từng thể loại tương thích với trẻ thơ. * Năng lực 2 : Có năng lực nghiên cứu và phân tích, nhìn nhận tác phẩm văn học viết cho thiếunhi trong và ngoài nước. C. Nội dung dạy họcPhần I : Văn học dân gianBài 1 : Nhìn lại Văn học dân gian : ( 02 tiết ) – Văn học dân gian là gì ? – Đặc trưng của văn học dân gian. – Các giá trị cơ bản của văn học dân gian : – Văn học dân gian trong đời sống trẻ thơ. Bài 2 : Truyện cổ dân gian với trẻ thơ : ( 03 tiết ) – Những loại truyện cổ dân gian tương thích với trẻ. – Những giá trị đặc trưng nói chung của truyện cổ dân gian với giáo dục trẻ : Bài 3 : Đồng dao với trẻ thơ : ( 02 tiết ) – Khái niệm về đồng dao. – Đặc trưng của đồng dao. – Ý nghĩa của đồng dao so với trẻ thơ. Bài 4 : Hát ru với trẻ thơ : ( 02 tiết ) – Khái niệm hát ru. – Truyền thống về hát ru và tình hình lúc bấy giờ về hát ru. – Ý nghĩa của hát ru trong đời sống trẻ thơ. Phần II : Văn học trẻ nhỏ việt NamBài 1 : Khái quát về sự tăng trưởng của văn học thiếu nhi Nước Ta : ( 03 tiết ) – Qúa trình sáng tác văn học thiếu nhi Nước Ta. – Những nét rực rỡ về nội dung và nghệ thuật và thẩm mỹ trong văn học viết chothiếu nhi. Bài 2 : Thơ Võ Quảng : ( 02 tiết ) – Vài nét về tác giả. – Những giá trị cơ bản trong thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi. Bài 3 : Thơ Phạm Hổ : ( 03 tiết ) – Vài nét về tác giả. – Giá trị nội dung thơ Phạm Hổ viết cho những em. – Nghệ thuật thơ Phạm Hổ viết cho những em : Bài 4 : Truyện Tô Hoài : ( 04 tiết ) – Vài nét về tác giả. – Truyện viết cho những lứa tuổi. – Nghệ thuật truyện Tô Hoài viết cho thiếu nhi. Thực hành nghiên cứu và phân tích tính cách nhân vật Dế Mèn. Bài 5 : Thơ những em viết. ( 02 tiết ) – Khái quát, tình hình sáng tác thơ những em thời thời chống Mỹ đến nay. – Đặc sắc nội dung trong thơ những em viết. – Đặc sắc nghệ thuật và thẩm mỹ trong thơ những em. Bài 6 : Thơ Trần Đăng Khoa. ( 04 tiết ) – Vài nét về tác giả. – Nội dung thơ Trần Đăng Khoa. – Nghệ thuật thơ Trần Đăng khoa. – Thực hành nghiên cứu và phân tích bài thơ “ Hạt gạo làng ta ” Phần III : Khái quát văn học trẻ nhỏ quốc tế. ( 03 tiết ) – Sơ lược về mảng văn học trẻ nhỏ quốc tế được dịch sang tiếng Việt. – Giới thiệu 1 số ít tác giả tiêu biểu vượt trội. + An Đéc Xen ( Đan mạch ). + Lép-Nicôlaiêvích Tônxtôi ( Nga ). + Grim ( Đức ). + Fujiko Fujio ( Nhật bản ). + Hécto Malo ( Pháp ). PHẦN I : VĂN HỌC DÂN GIANBài 1 : Nhìn lại văn học dân gian1. 1. Khái niệm. Trong dân gian, toàn diện và tổng thể những sáng tác thẩm mỹ và nghệ thuật truyền miệng có tên gọi chung : Văn chương truyền khẩu hay văn chương truyền miệng, văn chương tầm trung … Từ khoảng chừng cuối những năm 1950 Open thuật ngữ : Văn học dân gian và thuậtngữ này từ từ được dùng thoáng rộng hơn cả. Qua điều tra và nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của Văn học dân gian, những nhà nghiêncứu đã đưa ra một khái niệm cơ bản về Văn học dân gian như sau : Văn học dân gian lànhững sáng tác nghệ thuật và thẩm mỹ truyền miệng, do nhân dân sáng tác, được nhân dân tiếpnhận, sử dụng và lưu truyền. Văn học dân gian tương tự với khái niệm Folklore, một thuật ngữ quốc tế cónghĩa là là trí tuệ nhân dân ( folk : nhân dân ; lore : trí tuệ ). Văn học dân gian được coi như là những sáng tác nghệ thuật và thẩm mỹ ngôn từ, cũng nhưvăn học viết. Đó là hai hình thức khác nhau của cùng một loại nghệ thuật và thẩm mỹ : nghệ thuậtngôn từ ( văn học viết dùng ngôn từ viết, văn học dân gian dùng ngôn từ nói ). Vìvậy, không hề giống hệt chúng với nhau, nhưng cũng không hề trái chiều chúng. Chúng có mối quan hệ qua lại, và có những quy trình tiến độ mối quan hệ này đặc biệt quan trọng khắngkhít. 1.2. Đặc trưng của văn học dân gian : Văn học dân gian có nhiều đặc trưng, nhưng người ta thường xác lập những đặctrưng cơ bản sau đây : 1.2.1. Tính tập thể và tính truyền miệng : – Văn học dân gian được gọi là những sáng tác nghệ thuật và thẩm mỹ của quần chúng nhândân vì đó là những tác phẩm sinh ra từ rất xưa, do nhân dân sáng tác, lưu truyền. Đây làđặc trưng cơ bản của Văn học dân gian. Tập thể quyết định hành động sự sinh ra và sống sót của tácphẩm. Mỗi tác phẩm Văn học dân gian là tác dụng sáng tác của nhiều người, nhiều thếhệ, nhiều địa phương khác nhau ( lúc đầu tác phẩm do một người phát minh sáng tạo ra, tác phẩmđược quần chúng nhân dân ưa thích vì nó tương thích với tâm ý tập thể và do vậy đượclưu truyền qua nhiều đối tượng người tiêu dùng, nhiều địa phương, nhiều quy trình tiến độ, tác phẩm đượcnhiều người thay thế sửa chữa ( hoàn toàn có thể thêm hoặc bớt cho triển khai xong hơn ). – Trong quy trình ấy vai trò của cá thể mờ dần, vai trò của tập thể trở nên đậmnét. Cứ như vậy, mỗi tác phẩm là sáng tác của nhiều người và trở thành những tácphẩm vô danh ( đó cũng là nguyên do dẫn đến thực trạng nhiều dị bản của Văn họcdân gian ). – Văn học dân gian cổ đại sinh ra khi chưa có chữ viết, nó sống sót trong dạngtruyền miệng. Từ khi sinh ra, tác phẩm Văn học dân gian liên tục được truyền miệngtừ địa phương này tới địa phương khác, trong quy trình đó, Văn học dân gian biến đổikhông ngừng. Nhờ có tính truyền miệng mà Văn học dân gian lưu giữ được từ đời nàyqua đời khác. Tính truyền miệng là phương tiện đi lại cơ bản để lưu giữ nền Văn học dângian. 1.2.2. Tính nguyên hợp : Tính nguyên hợp ( nghệ thuật và thẩm mỹ tổng hợp ) là sự kết hợpngay từ nguồn gốc những yếu tố khác nhau trong một chỉnh thể, đơn cử là : – Văn học dân gian thuộc loại nghệ thuật và thẩm mỹ đa yếu tố. Yếu tố ngôn từ ở Văn họcdân gian thường tích hợp với những yếu tố khác như : Âm nhạc, múa, game show, tạo hình … và tác phẩm Văn học dân gian chỉ thực sự sôi động khi được trình diễn nguyên dạngvới vừa đủ những yếu tố hợp thành. Nhưng cơ sở của tác phẩm Văn học dân gian là yếutố ngôn từ. Nghĩa là, ở đây yếu tố ngôn từ giữ vai trò diễn đạt hầu hết. Bởi trên thực tếngười ta vẫn hoàn toàn có thể cảm nhận được nội dung đơn cử của câu truyện, của bài ca, của vởdiễn qua lời kể, lời ca, lời nói. – Văn học dân gian phát sinh và sống sót như một bộ phận không tách rời của sinhhoạt nhân dân. Tác phẩm Văn học dân gian gắn liền với những hình thức truyền thốngcủa nếp hoạt động và sinh hoạt nhân dân trong mái ấm gia đình, làng xã, trong hoạt động giải trí lao động sản xuất, đơn cử là : + Hò cất lên khi lao động sản xuất : Hò chèo thuyền, hò giã gạo … + Hát, múa, khấn, cầu nguyện khi trình diễn trong những nghi lễ : Cúng cầu mưa, cúng ra khơi, … + Hát ru trẻ ngủ trong hoạt động và sinh hoạt mái ấm gia đình. + Hát trêu ghẹo, hát giao duyên trong tiếp xúc hội đồng, trong những liên hoan truyềnthống của dân tộc bản địa. 1.3. Sự phân loại của Văn học dân gian : Để phân loại những tác phẩm văn học dân gian phải dựa vào những tiêu chuẩn ( đặc thù, tín hiệu ) sau : – Hệ thống đề tài. – Chức năng hoạt động và sinh hoạt. – Phương thức diễn xướng. – Thi pháp ( mạng lưới hệ thống thẩm mỹ và nghệ thuật ). Căn cứ vào những tiêu chuẩn trên, tất cả chúng ta thấy Văn học dân gian gồm những thể loạisau : 1.3.1. Các thể loại tự sự : Thần thoại, thần thoại cổ xưa, sử thi, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, vè, tục ngữ, câu đố. 1.3.2. Các thể loại trữ tình ( gọi chúng là ca dao, dân ca ) : Gồm những bài ca nghi lễ, bài ca lao động, bài ca hoạt động và sinh hoạt, bài ca giao duyên … 1.3.3. Các thể loại kịch : Chèo, tuồng, những trò diễn dân gian. * Các thể loại Văn học dân gian có mối quan hệ qua lại : Thể loại sau nảy sinhtrên cơ sở thể loại đã có từ trước. Ví dụ ( VD ) : Thần thoại về anh hùng văn hóa hoặc những sử thi về anh hùng có thểchuyển thành truyền thuyết thần thoại lịch sử vẻ vang. – Các thể loại Văn học dân gian có số phận lịch sử dân tộc khác nhau. Số phận ấy chịu sựquyết định của nhu yếu xã hội, xã hội nhu yếu cách biểu lộ của thể loại nào thì thểloại ấy tăng trưởng. Khi xã hội không có nhu yếu thì thể loại đó bị suy tàn. VD : Thần thoại sinh ra tiên phong trong mạng lưới hệ thống thể loại Văn học dân gian nhưngcũng là thể loại một đi không trở lại với con người. 1.4. Những giá trị cơ bản của văn học dân gian : 1.4.1. Giá trị nhận thức : Nói đến nhận thức là nói đến hiểu biết. Văn học dângian đem lại cho tất cả chúng ta những giá trị nhận thức sau đây : – Văn học dân gian đem lại những hiểu biết rất đa dạng và phong phú, chân thực về cuộcsống lao động, hoạt động và sinh hoạt, quan hệ xã hội của nhân dân. Văn học dân gian phân phối chochúng ta những tri thức thoáng rộng về phong tục, tập quán cùng cảnh vật quê nhà, đấtnước. VD : Sự tích bánh chưng, bánh giầy phân phối cho ta hiểu biết về một phong tụcđẹp mang tính truyền thống cuội nguồn văn hóa truyền thống cổ xưa của dân tộc bản địa, về đạo nghĩa uống nước nhớnguồn, tôn trọng mẫu sản phẩm của người lao động. Sự tích đầm Dạ Trạch : Ca ngợi cảnh vật quê nhà quốc gia – Văn học dân gian giúp ta hiểu biết về đời sống tâm tư nguyện vọng, tình cảm, về phẩm chấtđạo đức cùng những giá trị ý thức khác của nhân dân ( cổ tích, truyền thuyết thần thoại, ngụ ngôn, ca dao, dân ca, tục ngữ … ). VD : Truyện Ngụ ngôn, răn dạy con người đạo lý, kinh nghiệm tay nghề sống. Truyện cười, nhằm mục đích mua vui vui chơi, phê phán thói hư tật xấu, giúp người ta sốngtốt hơn. – Văn học dân gian góp thêm phần bổ trợ kiến thức và kỹ năng lịch sử dân tộc dân tộc bản địa trong quá khứ. VD : Truyền thuyết An Dương Vương, Thánh Gióng … 1.4.2. Giá trị giáo dục : Văn học dân gian là kho kinh nghiệm tay nghề đa dạng chủng loại của nhân dân, là nơi lưu giữnhững truyền thống cuội nguồn tốt đẹp của dân tộc bản địa, do đó giá trị của Văn học dân gian là vô cùnglớn. – Văn học dân gian là những lời răn dạy, bảo ban của cha mẹ so với con cái, củaanh em với nhau, của tình làng, nghĩa xóm … Văn học dân gian dạy cho tất cả chúng ta cáchăn nói, ứng xử cho tương thích với mọi quan hệ xã hội, ca tụng cái tốt, phê phán cái xấu … VD : Truyện cây khế, Hai bạn bè, Tấm Cám và một số ít bài ca dao, dân ca … – Văn học dân gian góp thêm phần kiến thiết xây dựng lối sống tốt đẹp, tu dưỡng những phẩmchất đạo đức tốt đẹp cho con người như : lòng nhân ái, tính trung thực, sự khôn ngoan, thái độ chịu khó, cần mẫn trong việc làm. VD : Cây khế, Tấm Cám, Thạch Sanh … – Văn học dân gian giáo dục con người tình cảm so với quê nhà, quốc gia, lòng tự hào dân tộc bản địa, niềm tin tự lực, tự cường chống chọi với vạn vật thiên nhiên, chống ngoạixâm. VD : Sơn Tinh Thủy Tinh ; Thánh Gióng1. 4.3. Giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật : Văn học dân gian đem lại cho tất cả chúng ta những khoái cảm nghệ thuật và thẩm mỹ về vẻ đẹp củacon người, của quê nhà quốc gia. – Văn học dân gian thiết kế xây dựng được những hình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật độc lạ, nhữngcốt truyện triển khai xong. VD : Hình tượng Thánh Gióng, Thạch Sanh … – Cách sử dụng ngôn từ trong Văn học dân gian rất là tài hoa. VD : Bài ca dao sau : Anh đến tìm hoa, hoa đã nở, Anh đến tìm đò, đò đã sang sông, Anh đến tìm em, em đã có chồng … – Sử dụng thành công xuất sắc những phương tiện đi lại nghệ thuật và thẩm mỹ như : tượng trưng, hư cấu, kỳ ảovà những biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ … Những giá trị ấy tạo cơ sở cho tìnhcảm thẩm mỹ và nghệ thuật tăng trưởng. Các giá trị của Văn học dân gian vì vậy được coi là dòng sữa mẹ nuôi dưỡng tâmhồn dân tộc bản địa ở mọi thời đại. 1.5. Văn học dân gian trong đời sống trẻ thơ : Văn học dân gian là mô hình nghệ thuật và thẩm mỹ đến với trẻ nhỏ sớm nhất, là người bạntinh thần, gắn bó với những em ngay từ lúc còn bé thơ, nhất là những thể loại dân gianphù hợp với trẻ thơ : – Khi còn ở trong nôi, tiếng hát ru à ơi đầy yêu thương của mẹ, của bà đã trởthành nhu yếu thiết yếu của trẻ, đưa trẻ đến với giấc ngủ êm dịu, ngọt ngào. – Khi trẻ khởi đầu tập nói, tập đi, những câu truyện, những bài hát có ngôn từ trauchuốt, gọt giũa là những phương tiện đi lại giúp những em học ăn, học nói. VD : Con gà, con chó có lông, Cây tre có đốt, nồi đồng có quai. – Khi trẻ vào mẫu giáo, những bài ca đi dạo ( đồng dao ), những câu truyện cổdân gian, câu đố mê hoặc, hấp dẫn những em vào những hoạt động giải trí tập thể, hoạt động giải trí nhậnthức. Thông qua những hoạt động giải trí ấy, vốn hiểu biết những em được nâng cao, ngôn ngữđược rèn giũa, trí tuệ được mở mang, sẵn sàng chuẩn bị kinh nghiệm tay nghề sống để những em bước vàođời. – Gắn bó với tuổi thơ, Văn học dân gian là nguồn sữa mẹ nuôi dưỡng, phát triểntâm hồn trẻ thơ, truyền cho những em vẻ đẹp truyền thống cuội nguồn của cha ông : lòng nhân ái thủychung, tính công minh, yêu thích lẽ phải, đức siêng năng, cần mẫn, yêu nước, thươngnòi, tự tin, sáng sủa, yêu đời, yêu đời sống. Câu hỏi và bài tập1. Trình bày những giá trị cơ bản của văn học dân gian. 2. Phân tích vai trò của Văn học dân gian trong đời sống trẻ thơ. 10B ài 2 : Truyện cổ dân gian và giáo dục trẻ thơTruyện cổ dân gian là một trong những bộ phận của Văn học dân gian. Đây làmột bộ phận vô cùng mê hoặc so với trẻ thơ. Trong tâm lý trẻ thơ, truyện cổ dân gianlà một quốc tế vừa thực, vừa mộng tiềm ẩn những sắc tố. Đồng thời truyện cổdân gian là một bộ phận góp thêm phần rất lớn vào việc giáo dục đạo đức và hình thànhnhân cách cho trẻ. 2.1. Những truyện cổ dân gian tương thích với trẻ thơ2. 1.1. Thần thoại – Truyền thuyết với giáo dục trẻ thơ. 2.1.1. 1. Thần thoại : a. Định nghĩa : Loại truyện kể về sự tích những thần do người thời cổ tưởng tượngra nhằm mục đích lý giải nguồn gốc, ý nghĩa của 1 số ít hiện tượng kỳ lạ tự nhiên và xã hội đượccoi là có quan hệ mật thiết đến sự sống còn của tập thể thị tộc hay bộ lạc. b. Nội dung của thần thoại cổ xưa : Gồm ba nội dung chính : – Thần thoại Nước Ta lý giải những hiện tượng kỳ lạ chung của thiên hà, toàn cầu, đồng thời phản ánh cuộc đấu tranh bền chắc của người xưa nhằm mục đích tò mò tự nhiên vàchinh phục vạn vật thiên nhiên. VD : Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh, truyện Thần Trụ trời ; truyện Thần biển. – Thần thoại phản ảnh tham vọng giản dị và đơn giản, hồn nhiên và cũng rất là phát minh sáng tạo, caođẹp của lý tưởng con người cổ đại. VD : Hình tượng thần trụ trời cao to, bước một bước từ núi này sang núi khác ; Hình tượng Sơn Tinh dũng mãnh chống Thủy Tinh để bảo vệ niềm hạnh phúc. – Nhân vật chính trong thần thoại cổ xưa là những vị thần, đó là những nhân vật có sức biếnhóa hơn người. Nhưng gạt bỏ những yếu tố hoang đường thần bí đó thì thần thoại cổ xưa lạichứa đựng một nội dung hiện thực là phản ánh đời sống và cuộc đấu tranh của conngười. 2.1.1. 2. Truyền thuyết : a. Định nghĩa : Truyền thuyết là những câu truyện kể về những sự kiện, nhânvật, địa điểm lịch sử dân tộc đã được nhân dân lý tưởng hóa và gửi gắm vào đó thái độ, tìnhcảm, cách nhìn nhận của mình. Truyền thuyết sinh ra sau thần thoại cổ xưa. b. Nội dung : Truyền thuyết lịch sử dân tộc phản ánh hai nội dung lớn : – Ca ngợi cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ quốc gia của dân tộc bản địa. VD : Sự tích Hồ Hoàn Kiếm, Thánh Gióng, An Dương Vương. – Ca ngợi công đức của những vị anh hùng vì độc lập, tự chủ của dân tộc bản địa. VD : Truyền thuyết hai Bà Trưng ; Lê Lợi ; Trần Hưng Đạo … c. Tác dụng của truyền thuyết thần thoại và truyền thuyết thần thoại với giáo dục mần nin thiếu nhi : 11 – Trong truyền thuyết thần thoại và thần thoại cổ xưa, trí tưởng tượng đóng vai trò rất là quantrọng, đây là yếu tố tạo nên thần thoại cổ xưa và thần thoại cổ xưa. Vì vậy đem truyền thuyết thần thoại vàtruyền thuyết đến với trẻ sẽ góp thêm phần kích thích trí tưởng tượng và nuôi dưỡng ước mơcho trẻ, giúp những em cảm nhận sức mạnh kỳ diệu của lao động phát minh sáng tạo. – Thần thoại và truyền thuyết thần thoại có công dụng to lớn trong việc giáo dục lòng tự hàodân tộc cho trẻ thơ. Qua thần thoại cổ xưa, truyền thuyết thần thoại trẻ biết ông cha ta đã sống thế nào, chống ngoại xâm can đảm như thế nào, tái tạo vạn vật thiên nhiên thế nào ? … Giáo dục đào tạo trẻ thơqua thần thoại cổ xưa và truyền thuyết thần thoại là hình thức giáo dục bằng nghệ thuật và thẩm mỹ có tính năng đếntình cảm, lý tưởng của những em. 2.1.2. Truyện cổ tích với giáo dục trẻ thơ : 2.1.2. 1. Định nghĩa : Truyện cổ tích là những truyện kể truyền miệng. Bằng tưởngtượng, truyện miêu tả số phận con người trong những mối quan hệ mái ấm gia đình, xã hội đơn cử ( truyện trình diễn đủ những dạng quan hệ vốn có của con người trong xã hội phong kiếnnhư : vua – tôi, thần – dân, giàu – nghèo, thầy – trò, vợ – chồng, anh – em, bè bạn … ). Thông qua những mối quan hệ phong phú và nhiều mẫu mã ấy, cổ tích theo cách riêng của mìnhphát hiện ra những xung đột xã hội, những xích míc giai cấp trong xã hội có giai cấp. Và từnhững phát hiện về một yếu tố trọng đại như vậy, cổ tích hướng trách nhiệm hầu hết củamình vào việc lý giải, tìm lối thoát cho một yếu tố mà chính lịch sử vẻ vang trong quy trình tiến độ ấycũng chưa tạo được tiền đề trong thực tiễn để hoàn toàn có thể xử lý triệt để. 2.1.2. 2. Phân loại : Truyện cổ tích chia làm ba loại : – Truyện cổ tích loài vật. – Truyện cổ tích hoạt động và sinh hoạt. – Truyện cổ tích thần kỳ. Trong đó truyện cổ tích thần kỳ là loại truyện chiếm số lượng nhiều nhất và làloại truyện mê hoặc nhất so với mọi người nói chung, trẻ nhỏ nói riêng. a. Truyện cổ tích loài vật : Là những truyện cổ tích trong đó nhân vật chính làmột con vật nào đó. Con vật này hoàn toàn có thể sống thân thiện với người dân hoặc sống trongrừng. Loại truyện cổ tích này có khi là lý giải một đặc thù nào đó của con vật. VD : Vì sao dơi ăn muỗi ? Vì sao lươn lại sống trong bùn ? Vì sao lông quạ lạiđen ? Tại sao chó ghét mèo ? … Có khi truyện cổ tích đề cập đến một con thú mưu trí ( thỏ, cáo ). Nhữngtruyện cổ tích loài vật thường mê hoặc bởi nhiều diễn biến ly kỳ. b. Truyện cổ tích hoạt động và sinh hoạt : Là những chuyện kể về những con người và nhữngsự kiện xảy ra trong quốc tế con người không có những nhân vật siêu nhiên, thần bí. Đây là loại truyện đề cập đến những trường hợp rất thông thường trong cuộc sốnghàng ngày. Cách xử sự trong những mối quan hệ bạn hữu, mái ấm gia đình, thầy trò, cách ứng xử12nhạy bén, miêu tả trong những trường hợp khó khăn vất vả, cách trình diện thói chém gió, hốnghách … ý nghĩa răn dạy biểu lộ rất đậm trong loại cổ tích này. VD : Vợ khôn lấy chồng dại ; Trương Chi ; Gái ngoan dạy chồng ; Giết chó khuyênchồng ; Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng. c. Truyện cổ tích thần kỳ : ( Cổ tích hoang đường ) Là loại cổ tích mà trong đó yếu tố thần kỳ được biểu lộ đậm nét hơn cả. Yếu tốnày không riêng gì tạo ra sắc tố ly kỳ và mê hoặc của cổ tích mà còn có ý nghĩa quyếtđịnh trong những thời gian nhất định. Thiếu nó bản thân nhân vật không hề vượt quanổi những thử thách gay go để thắng lợi quân địch. VD : Các yếu tố kỳ diệu trong những tác phẩm : Tấm Cám ; Thạch Sanh ; Cây khế ; Cây tre trăm đốt ; Sọ dừa … – Kết cấu của cổ tích thần kỳ thường có ba phần : + Phần thứ nhất : Nói về nguồn gốc xuất thân và cuộc sống đau khổ của nhân vật ( mồ côi cha mẹ, mang lốt xấu xí, bần hàn ), nhân vật bị hành hạ, bạc đãi, bị lừa dối, tước đoạt … Vì vậy ngay từ đầu nhân vật đã tạo sự thương mến, đồng cảm thâm thúy củanhân dân lao động. + Phần thứ hai : Nói về phẩm chất, về năng lực và chiến công của nhân vật. Vaitrò của những yếu tố kỳ diệu biểu lộ rõ ràng nhất ở đây. Nhân vật khi nào cũng phải trảiqua một hoặc vài lần thử thách, quân địch luôn gây cho họ muôn vàn khó khăn vất vả để đẩy họvô chỗ đường cùng. Song với sức mạnh của đạo đức, của năng lực và có sự tương hỗ củayếu tố kỳ diệu, nhân vật chính diện khi nào cũng vượt qua những trở ngại để thực hiệnước mơ. + Phần thứ ba : Là phần thưởng dành cho nhân vật chính diện. Và hoàn toàn có thể nói, Cóbao nhiêu dạng nhân vật là có bấy nhiêu tham vọng của nhân dân xưa về một xã hội, mộtcon người, một cuộc sống niềm hạnh phúc. – Với kết thúc truyện có hậu, truyện cổ tích thần kỳ bộc lộ tỏa nắng rực rỡ chủ nghĩanhân đạo, tân tiến của nhân dân. Trong xu thế tích cực, cổ tích đem lại cho người đọc, người nghe một niềm sáng sủa vô bờ bến về sự sống sót một xã hội công minh, thanhbình, không có điều ác. 2.1.1. 3. Tác dụng của truyện cổ tích với giáo dục trẻ mần nin thiếu nhi : – Tuổi thơ là tuổi giàu tưởng tượng và tham vọng. Truyện cổ tích ( đặc biệt quan trọng là cổ tíchthần kỳ ) mê hoặc trẻ thơ trước hết ở một quốc tế vừa thực vừa mộng, tiềm ẩn nhữngphép màu, những vật thiêng, những sức mạnh thần kỳ góp thêm phần nuôi dưỡng nhữngkhát vọng tưởng tượng và tham vọng phát minh sáng tạo cho trẻ. – Tuổi thơ khát khao một đời sống tốt đẹp. Truyện cổ tích rất tương thích với cácem vì ở đây nói lên những ý niệm đạo đức, công lý xã hội và tham vọng về một cuộc13sống tốt đẹp hơn đời sống hiện tại, góp thêm phần giáo dục đạo đức và hình thành lòngnhân ái cho trẻ. – Truyện cổ tích lấy việc miêu tả hành vi của nhân vật để chỉ ra phẩm chất củanhân vật. Các nhân vật trong truyện cổ tích chia thành hai tuyến trái chiều nhau : thiện – ác ; giàu – nghèo ; cần mẫn – lười biếng … Vì vậy, truyện cổ tích dễ hình thành cho trẻcách nhìn nhận, cách nhìn nhận cái tốt, cái xấu. Trên cơ sở đó giúp những cháu có ý thứclàm theo cái tốt, cái đẹp được tôn vinh trong truyện. VD : + Việc may túi ba gang của hai đồng đội trong Cây khế : Người em may túi bagang, người anh may túi mười hai gang. + Việc Cám đổ tép của Tấm trong truyện Tấm Cám – Trong truyện cổ tích những diễn biến diễn ra theo trình tự thường thì : Việc gì xảyra trước thì nói trước, việc gì xảy ra sau thì nói sau, nhân vật, khoảng trống, thời giantrong truyện thường là phiếm chỉ. VD : Ngày xửa rất lâu rồi ở một mái ấm gia đình nọ, trong một khu rừng kia … Vì thếtruyện cổ tích dễ nhớ, dễ thuộc và mê hoặc trẻ thơ. – Truyện cổ tích giúp trẻ làm giàu thêm vốn từ, học tập được lời hay, ý đẹp vàcách diễn đạt của nhân dân ( cách ví von, so sánh, cách diễn đạt ngắn gọn, từ ngữ dễhiểu … ). 2.1.3. Truyện ngụ ngôn với giáo dục trẻ thơ : 2.1.3. 1. Định nghĩa : Truyện ngụ ngôn là loại truyện tưởng tượng, mượn loài vật, sự vật, hiện tượng kỳ lạ để nêu lên một kinh nghiệm tay nghề sống, một bài học kinh nghiệm đạo đức hay một triếtlý sống. – Truyện ngụ ngôn khi nào cũng có hai lớp nghĩa : Lớp nội dung truyện kể và lớpbài học kinh nghiệm tay nghề. Đây là đặc thù điển hình nổi bật của truyện ngụ ngôn. 2.1.3. 2. Nội dung truyện ngụ ngôn : – Nội dung đơn cử của truyện thường nói về phẩm chất, hoạt động giải trí của loài vật, sựvật. Nhưng mục tiêu chính cần đạt tới lại là yếu tố con người trong những mối quanhệ xã hội. Những yếu tố đó mang tính triết lý, vì thế, truyện ngụ ngôn thân thiện với tụcngữ và truyện cười. – Ý thức kiến thiết xây dựng xã hội biểu lộ bằng những bài học kinh nghiệm phê phán và ca tụng đượccoi là âm hưởng chủ yếu của truyện ngụ ngôn. 2.1.3. 3. Tác dụng của truyện ngụ ngôn với trẻ thơ : Mỗi câu truyện ngụ ngôn là một bài học kinh nghiệm giáo dục, một kinh nghiệm tay nghề sống. Mặtkhác truyện ngụ ngôn ngắn gọn, nội dung đơn thuần, cấu trúc mạch lạc, số lượng nhânvật ít. Mỗi nhân vật được khai thác chỉ ở một nét tính cách hoặc một thói quen. Vì vậy, mỗi truyện ngụ ngôn chỉ là một câu truyện nhỏ vừa sức tiếp thu với trẻ mẫu giáo. 14T ruyện ngụ ngôn giáo dục trẻ bằng những bài học kinh nghiệm nhẹ nhàng nhưng phải có người lớngợi ý, trợ giúp trẻ mới hiểu được. VD : Câu truyện Kiến giết voi : Khai thác ở nét tính cách coi thường người nhỏ bé, tự cho mình là nhất của chú voi, ở đầu cuối, chú kiến nhỏ bé bắt voi phải quy phục, vanxin. Bài học cho trẻ là không được coi thường kẻ yếu. Nhưng phải có sự nghiên cứu và phân tích, gợiý của cô giáo trẻ mới hiểu được ý nghĩa của bài học kinh nghiệm giáo dục. 2.2. Những giá trị đặc trưng nói chung của truyện cổ dân gian so với trẻ thơ2. 2.1. Truyện cổ dân gian là kho tàng về đạo đức truyền thống cuội nguồn dân tộc bản địa : – Truyện cổ dân gian là kho tàng về đạo lý truyền thống lịch sử dân tộc bản địa mà trước hết làđạo đức lý làm người. Trẻ tìm thấy trong truyện cổ những tấm gương mẫu mực về đạođức để noi theo như : Tính trung thực, sự cần mẫn, siêng năng, sống có nghĩa có tình, giàulòng nhân ái. Những nội dung này được biểu lộ qua truyền thuyết thần thoại, thần thoại cổ xưa … – Giáo dục đào tạo trẻ lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc bản địa, ý thức về truyền thống cuội nguồn lịch sửcha ông, giáo dục ý thức “ uống nước nhớ nguồn ” trong quy trình dựng nước và giữgiữ nước của dân tộc bản địa, những nội dung này được bộc lộ trong thần thoại cổ xưa. – Giáo dục đào tạo những em những kinh nghiệm tay nghề sống, kinh nghiệm tay nghề đối nhân xử thế trongcác mối quan hệ để triển khai xong nhân cách con người. Điều đó được bộc lộ qua cổtích, qua truyện ngụ ngôn. 2.2.2. Truyện cổ dân gian phát huy can đảm và mạnh mẽ trí tưởng tượng của trẻ thơ : – Hình tượng trong truyền thuyết thần thoại kỳ vĩ, bay bổng giàu tính nghệ thuật và thẩm mỹ, giúp những emcảm nhận sức mạnh kỳ diệu của lao động phát minh sáng tạo. – Truyền thuyết, thần thoại cổ xưa nâng đỡ trí tưởng tượng, của những em bay cao, bay xa, lan rộng ra cánh cửa tâm hồn để những em vươn xa vào đời sống. – Truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích thần kỳ với những yếu tố kỳ diệu chắp cánhcho tham vọng những em, tạo cho những em một khoảng chừng trời rộng để bay bổng. Kết thúc cóhậu trong truyện cổ tích chắp cánh cho tham vọng một xã hội công minh, thanh thản vàgiàu lòng nhân ái làm cho những em tin yêu ở cuộc sống hơn nữa. Câu hỏi và bài tập : 1. Trình bày khái niệm, nội dung, công dụng của những loại truyện cổ dân gian. 2. Trình bày những giá trị đặc trưng nói chung của truyện cổ dân gian với giáo dụctrẻ thơ. 3. Chọn một truyện dân gian tương thích với trẻ mần nin thiếu nhi, kể trước lớp và nêu ýnghĩa của câu truyện. 15B ài 3 : Đồng dao trong đời sống trẻ thơ3. 1. Khái niệm : Đồng dao là một thể loại của bài ca dân gian dành cho trẻ nhỏ. Đó là những câu hát có nội dung và hình thức tương thích với trẻ, thường do trẻ nhỏ hátkhi đi dạo. 3.2. Đặc trưng của đồng giao : Là một trong những thể loại của bài dân gian. Do vậy nó cũng mang những đặctrưng chung của tác phẩm Văn học dân gian như : Tính tập thể, tính truyền miệng, tínhnguyên hợp … Ngoài ra nó còn có những đặc thù riêng không liên quan gì đến nhau vì đây là loại bài ca củatrẻ em, đơn cử là : 3.2.1. Đồng dao tập trung chuyên sâu vào đề tài vạn vật thiên nhiên và phản ánh nó trong trạng tháihoạt động, gắn bó với đời sống trẻ thơ : – Đồng dao là những bài ca về chim muông, cây cối, tôm cá, đó là những bài casinh hoạt dân gian đa dạng chủng loại so với trẻ. Đồng dao là người thầy dạy những em nhữngkhái niệm tiên phong về vạn vật thiên nhiên, quốc gia, con người. VD : Qua một bài ca ngắn, đồng dao ra mắt với những em hàng chục loài cá, loàichim, gia cầm … mỗi loài mang một đặc thù độc lạ, ngộ nghĩnh : Xa cha xa mẹLà con cá trôiMệt đổ mồ hôiLà con cá liệtHoặc : Hay chạy lon tonLà gà mới nởCái mặt hay đỏLà con gà màoHay lội dưới aoMẹ con nhà vịtHay la hay hétLà con bồ chaoHay bay bổ nhàoLà chim bói cáHoặc, một bài đồng dao về chim, những em phát hiện ra những ưu điểm, những hạnchế của từng loài qua tiếng hót của chúng : Khéo ăn khéo nóiLà chim chích chòeHót chẳng ai nghe16Là con chim cúCòn gì vui thúLà chim vành khuyênHoặc : Không nói không rằngLà hoa ngủ điếc, Xanh xanh biếc biếcLà cái hoa chàmĐụng cái là hờnLà hoa xấu hổ – Thế giới đồng dao là một quốc tế sinh động, đa dạng và phong phú, chứa chan sức sống vàtươi vui. Trong đồng dao có đủ những con vật thân thiện với đời sống xung quanh trẻ. VD : – Tập tầm vôngCon công hay múaNó múa làm saoNó đập cánh vàoNó xòe cánh ra … – Con vỏi con voi. Cái vòi đi trước, Hai chân trước đi trước, Hai chân sau đi sau, Còn cái đuôi đi sau rốt, Tôi xin kể nốt, Câu chuyện con voi. – Con gà cục tác lá chanh, Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi, Con chó khóc đứng khóc ngồi, Mẹ ơi, đi chợ mua tôi củ riềng. – Con cua tám cẳng hai càng, Chẳng đi mà lại bò ngang cả ngày3. 2.2. Ngôn từ, cấu trúc của đồng dao đơn thuần, dễ hiểu, đặc biệt quan trọng tính hài hòatrong nhịp điệu của ngôn từ làm cho đồng dao dễ nhớ, dễ thuộc : VD : Các bài đồng dao được viết bằng thể thơ bốn tiếng, ba tiếng, hoặc lục bát : Mười ngón tayNgón đi càyNgón tát nướcNgón cầm lược … 17H oặc : – Đòn gánh / có mấuCủ ấu / có sừngBánh chưng / có láCon cá / có vâyÔng thầy / có sáchThợ ngạch / có daoThợ rào / có búaÔng chúa / có tànÔng Quan / có lọngÔng tổng / có trâuNhà giàu / có thóc … – Con gà tục tác / lá chanh, Con lợn ủn ỉn / mua hành cho tôi, Con chó khóc đứng / khóc ngồi, Bà ơi đi chợ / mua tôi củ riềng. Cách ngắt nhịp hầu hết của Đồng dao là 3/3, 4/4 hoặc 2/2 … cùng với vấn đề sửdụng vần chân, vần bằng xen kẽ, tạo cho thể loại này một cách nói tương thích với cácem. 3.2.3. Đồng dao gắn liền với game show nên nó thật sự là một phương tiện đi lại phục vụnhu cầu vui chơi, nhu yếu đi dạo tập thể của những em. Đồng dao là loại sáng tác dân gian rất là lý thú. Vì nó gắn với game show, mà đãvui chơi thì phải có bạn, có bè, không hề chơi và hát một mình. VD : Trò chơi nu na nu nống ; Chồng nụ chồng hoa ; Con vỏi con voi, là những tròchơi mang tính tập thể cao, có luật chơi và mọi người phải triển khai luật chơi cho tốttrong khi chơi, do đó người ta thường nói Đồng dao là tiếng hát gọi đàn so với trẻ nhỏ. 3.3. Ý nghĩa của đồng giao so với trẻ thơĐồng dao là bài ca dân gian dành cho trẻ nhỏ nên nó có ý nghĩa rất lớn so với đờisống tâm hồn của trẻ nhỏ. 3.3.1. Đồng dao là chiếc chìa khóa lan rộng ra cánh cửa tâm hồn trẻ thơ, giúp cácem lan rộng ra mối quan hệ, hòa nhập với hội đồng. Đây là hiệu quả của đi dạo tập thể, trẻ hòa vào hội đồng nhỏ bé của cuộc chơimột cách say sưa. Tuân thủ những luật chơi, trẻ trong bước đầu nhận ra những nguyên tắc của xãhội nhỏ bé. Khi chơi, muốn được chơi và game show lý thú phải triển khai luật chơi và kếthợp với những thành viên nhỏ bé để cùng chơi, làm sai luật sẽ bị loại khỏi game show. VD : Thả đỉa ba ba ; Ù à ù ập … 3.3.2. Đồng giao giúp trẻ yêu đời, yêu đời sống, yêu vạn vật thiên nhiên quốc gia, mởrộng tâm hồn và tri thức sơ đẳng cho trẻ : 18VD : Bài đồng dao cung ứng cho những em kiến thức và kỹ năng về gia vị khi nấu một số ít mónăn : Con gà tục tác lá chanhCon lợn ủn ỉn mua hành cho tôi. Con chó khóc đứng khóc ngồiBà ơi đi chợ mua tôi củ riềng. Đằng sau cái hồn nhiên tươi mát và ngộ nghĩnh, nhiều bài đồng dao đã phát hiệnra một cách giật mình những chân lý sâu xa của đời sống giúp trẻ mở mang trí tuệ. VD : Một số bài đồng dao cấu trúc theo kiểu vòng tròn biểu lộ một chân lý, mộtquy luật : Tu hú là chú Bồ cácBồ những là bác chim ri. Chim ri là dì sáo sậu … Hoặc : – Đậu nành là anh dưa chuột, Dưa chuột chú ruột dưa gang, Dưa gang cùng làng dưa hấu, Dưa hấu là cậu bí ngôBí ngô là cô đậu nành. Từ đó rút ra : Trong đời sống không có gì là tuyệt đối bởi sự vật luôn liên hệvới nhau, ràng buộc và ảnh hưởng tác động lẫn nhau. 3.3.3. Đồng dao đi liền với game show nhưng ý nghĩa giáo dục với những em rất lớn, nó giúp những em biết sống có đạo đức, biết trân trọng người lao động. VD : Ăn một bát cơmNhớ ơn người cày ruộngĂn một đĩa muốngNhớ ơn người làm aoĂn một quả đàoNhớ ơn người vun gốcĂn một con ốcNhớ ơn người đi mò. 3.3.4. Đồng dao góp thêm phần tăng trưởng vốn từ cho trẻ, tạo cho những em lòng yêu thíchtiếng Việt, rèn luyện cỗ máy phát âm cho trẻ. – Đồng dao giúp trẻ học ăn, học nói, Đồng dao sử dụng rất nhiều từ tượng hình, tượng thanh, cách nói dân dã, giúp những em làm quen với những loại từ tiếng Việt. VD : Nu na nu nống, Đánh trống phất cờ, Mở cuộc thi đua, Chân ai thật sạch … 19 – Hoặc giúp trẻ làm quen với những cách xưng hô trong tiếp xúc hàng ngày. VD : Tiếng con chim riGọi dì gọi cậuTiếng chim sáo sậuGọi cậu gọi côTiếng chim cồ cồGọi cô gọi chú. – Các từ láy trong đồng dao là những phương tiện đi lại giúp trẻ rèn luyện cỗ máy phátâm. VD : Bài đồng dao : – Nu na nu nống ( luyện âm n ) – Dung dăng dung dẻ ( luyện âm d ). * Kết luận : Đồng dao là nhóm bài ca đặc biệt quan trọng tương thích và hòa hợp với trẻ thơ. Đây là bộ phận bài ca dành riêng cho trẻ. Đồng dao mang đến cho trẻ niềm vui của cáchoạt động tập thể, đồng thời cũng mang đến cho những em bao hiểu biết hữu dụng về thếgiới xung quanh, hình thành cho những em lòng nhân ái. Nó thực sự là một trong nhữngphương tiện hữu hiệu để giáo dục trẻ. Câu hỏi và bài tập : 1. Thế nào là đồng dao ? Đồng dao có những đặc trưng gì ? 2. Trình bày ý nghĩa của đồng dao so với đời sống trẻ thơ. 3. Sưu tầm 1 số ít bài đồng dao thông dụng ở địa phương nơi bạn sinh sống. 20B ài 4 : Hát ru với trẻ thơ4. 1. Khái niệm về hát ru : Hát ru là một loại dân ca hoạt động và sinh hoạt trữ tình truyền thống cuội nguồn của dân tộc bản địa. Loại dân canày đa phần hát trong hoạt động và sinh hoạt mái ấm gia đình. Đó là những lời ru của bà, của mẹ, của anhchị với trẻ thơ. – Hát ru có công dụng hầu hết là đưa trẻ vào giấc ngủ hoặc làm cho chúng bìnhtĩnh, nín dịu khi chúng la khóc. Âm điệu hát ru vì thế thường chậm rãi, êm dịu, dudương, nhẹ nhàng, ngọt ngào. Lời hát ru thường đi kèm với cử chỉ, ôm ấp, âu yếm hayvỗ về của người ru so với đối tượng người dùng được ru. VD : À ơi ! con ơi con ngủ cho sayÔm con mẹ gối cánh tay con nằmMẹ cho con gác lên chânCó hơi mẹ ấm con còn ngủ ngonTiếng ru gửi gắm tình thươngMang bình yên đến cho con mẹ mừng – Hát ru là loại dân ca mà làn điệu của nó thường ứng với khuôn thơ lục bát, nhạcđiệu của nó tự do. Vì thế khi hát ru người ta thường lặp lại những âm điệu nhẹ nhàng, êmdịu. 4.2. Truyền thống về hát ru : – Hát ru là lối hát theo tập quán truyền thống lịch sử. Nó Open rất sớm và sống sót lâudài trong đời sống của nhân dân nhằm mục đích phân phối nhu yếu nuôi dạy con cháu, vui chơi, giãibày tâm sự. – Hát ru của người Việt có ba giọng điệu hầu hết là ru con Bắc Bộ ( từ Thanh Hóatrở ra ). Ru con Trung Bộ ( từ Quảng Bình trở vào đến duyên hải miền Trung ) và ru conNam Bộ. Trong quy trình tăng trưởng của nó có những thời kỳ ở những địa phương khácnhau hát ru có vẻ như bị bỏ quên, dẫn đến một hậu quả đáng tiếc là nhiều thế hệ trẻthơ không được hưởng dòng sữa ý thức trong nguồn văn học dân gian đầy giá trị. 4.3. Tình hình lúc bấy giờ về hát ru : – Hát ru lúc bấy giờ không còn sử dụng nhiều như những thời kỳ trước vì nhiều lýdo : Cháu đi nhà trẻ, mẫu giáo nên bà, mẹ không phải giữ ở nhà. Cơ chế thị trườngcuốn hút con người vào cơn lốc làm ăn khiến những ông bà, cha mẹ không còn chú ý đếnviệc hát ru. Các cô gái trẻ lớn lên trong thời kỳ Open không có nhu yếu học hát ru vàsử dụng hát ru. Thực trạng đó là điều báo động cho một nét truyền thống lịch sử văn hóa truyền thống dân tộc bản địa đangcó rủi ro tiềm ẩn mai một và cũng là một thiệt thòi lớn cho trẻ nhỏ Nước Ta lúc bấy giờ. – Để Phục hồi nét truyền thống cuội nguồn mang đậm đà truyền thống dân tộc bản địa, Đảng và những bộ, ngành tính năng đã có nhiều giải pháp như : Tổ chức thi hát ru hàng năm từ trung21ương đến địa phương tạo nên một trào lưu giúp người Nước Ta ý thức được tầmquan trọng của hát ru và để lưu giữ hát ru trong cội nguồn dân tộc bản địa. 4.4. Ý nghĩa hát ru trong đời sống trẻ thơ : 4.4.1. Lời ru đưa trẻ vào giấc ngủ. Từ khi lọt lòng mẹ, hiếm có trẻ nhỏ Nước Ta nào lại không được nghe một lờihát ru. Hát ru cùng với dòng sữa mẹ đi suốt với trẻ những năm tháng tiên phong của cuộcđời. Trẻ đi vào giấc ngủ từ những khúc tâm tình và sâu lắng ấy : VD : Cái ngủ, mày ngủ cho ngoanMẹ mày đi cấy đồng sâu chưa vềBắt được con trắm, con trêLôi cổ đem về cho cái ngủ ăn. Đó là cách bộc lộ của lời nói tâm hồn, tình cảm trong lành của bà, của mẹ, của chị với trẻ thơ. 4.4.2. Lời ru đưa đến cho trẻ những bài học kinh nghiệm tiên phong của cuộc sống. – Bài học tiên phong mẹ dạy con qua hát ru là dạy trẻ cảm nhận quốc tế quanhmình : VD : À ơi ! Con mèo, con chó có lôngCây tre có đốt, nồi đồng có quai. – Lời ru đưa những em đến với đời sống một nắng hai sương của người lao động : À ơi ! con cò mà đi ăn đêmĐậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. Ông ơi ! Ông vớt tôi naoTôi có lòng nào, ông hãy xáo măng … Hoặc : Cái ngủ, mày ngủ cho ngoanMẹ mày khó khăn vất vả chân, tay tối ngày. – Hát ru dạy những em từ lời ăn, lời nói, cách đi, dáng đứng, cách cư xử với mọingười trong xã hội. Các em cảm nhận từ lời ru bài học kinh nghiệm làm người : VD : + Bầu ơi thương lấy bí cùngTuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. + Khôn ngoan đá đáp người ngoàiGà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau. + Lên xe, nhường chỗ bạn ngồiNhường nơi bạn dựa, nhường lời bạn tri kỷ. – Lời ru dạy những em biết thế nào là tốt, xấu : VD : Con gái chưa nói đã cườiChưa đi đã chạy là người vô duyên. Ngậm cơm mà nói huyên thuyênLời nghe không sạch lại hiềm khó coi. 224.4.3. Hát ru là nhạc, là thơ, là những hình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật tiên phong đậu lạitrong tâm hồn trẻ. Giai điệu thân thiện, thân quen như hơi thở của mẹ, tạo dựng cho trẻấn tượng về âm thanh, nhịp điệu. 4.4.4. Ngôn ngữ lời ru. – Là ngôn từ thơ ca được gọt giũa, trau chuốt qua bao người với thử thách củathời gian. – Ngôn ngữ hát ru đúng mực, nhuần nhụy, xứng danh dành cho trẻ học ăn, họcnói, góp thêm phần tăng trưởng ngôn từ cho trẻ. * Kết luận : Hát ru là một thể loại dân gian chỉ dành riêng cho trẻ. Hát ru với trẻthơ không phải là sữa, là cá, là cơm nhưng nó là chất dinh dưỡng giúp cho tâm hồnkhông bị què quặt, giữ cho bước đi khỏi ngã, khỏi nghiêng. Hát ru là ngọn lửa sưởi ấmtâm hồn những em, dẫn dắt những em đi suốt cuộc sống. Câu hỏi bài tập : 1. Trình bày ý nghĩa của ru trong đời sống trẻ thơ. 2. Sưu tầm một số ít bài hát ru phổ cập ở địa phương nơi bạn sinh sống. 23PH ẦN 2 : VĂN HỌC TRẺ EM VIỆT NAMBài 1 : Khái quát về sự tăng trưởng của văn học thiếu nhi Việt Nam2. 1. Quá trình sáng tác văn học thiếu nhi Nước Ta : 2.1.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Giai đoạn này đã có văn học cho thiếu nhi nhưng chưa thực sự có một nền vănhọc cho thiếu nhi, bởi bọn thực dân phong kiến rất coi khinh người lao động, do đó đờisống vật chất cũng như đời sống ý thức của người lao động cũng không được chúngquan tâm đến. Con em của họ lại càng không được chúng chú ý đến. Cụ thể là : – Khi còn dùng chữ nho thì lẻ tẻ có một vài cuốn mang đặc thù sách giáo khoanhư : “ Tam tự kinh ”, “ Minh Tâm bảo giám ”, nhằm mục đích dạy cho trẻ tuân theo những quiđịnh của lễ giáo và đạo lý phong kiến. – Một số tác phẩm dịch từ tiếng Pháp cho những em đọc như : Thơ ngụ ngôn của La – Phông – ten, truyện cổ tích Pe ron. – Một số sách viết cho trẻ nhỏ bằng tiếng Pháp nhưng không nhiều và không phảiem nào cũng đọc được. – Ở quy trình tiến độ 1930 – 1945 có một số ít nhà văn Nước Ta cũng viết cho những em : Tản Đà, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Vĩnh, Tô Hoài. Ngoài ra còn có bộ phận Văn học dân gian cũng được những em thương mến vì nộidung dễ hiểu, tương thích với cách hiểu, cách nghĩ của tuổi thơ, mà đặc biệt quan trọng là nó đượctruyền miệng nên em nào cũng được chiêm ngưỡng và thưởng thức. Nhìn chung, trước Cách mạng tháng Tám nước ta đã có văn học cho thiếu nhinhưng chưa thực sự có nền văn học cho thiếu nhi. 2.1.2. Văn học thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay. Văn học viết cho thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám được chia làm bốn giaiđoạn tăng trưởng : 2.1.2. 1. Giai đoạn từ năm 1945 – 1954 : Đây là quá trình văn học thiếu nhi đặtnền móng kiến thiết xây dựng và tham gia tích cực vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp : – Cách mạng tháng Tám thành công xuất sắc đã mở ra một chân trời mới cho nền văn họcthiếu nhi. Bác Hồ và Đảng, nhà nước đã dành sự chăm sóc đặc biệt quan trọng đến sự hình thànhmột nền văn học cho thiếu nhi. Bác Hồ là người đi đầu trong việc sáng tác cho những em. Bác luôn động viên, khuyến khích mọi người chăm sóc, giáo dục và sáng tác văn nghệphục vụ thiếu nhi. – Năm 1946 tờ báo thiếu nhi Nước Ta tiên phong được ra đời bạn đọc nhỏ tuổi vớitên gọi Thiếu sinh. – Bộ phận văn học thiếu nhi được xây dựng do nhà văn Tô Hoài đảm nhiệm. 24

Xem thêm :  Ý nghĩa của hoa mai, loài hoa của bậc quân tử


Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Kỹ Năng Sống
Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Kỹ Năng Sống

Related Articles

Back to top button